
Khi học bạ số, bản điện tử học bạ số, trích lục điện tử học bạ số đã đáp ứng điều kiện quy định, cơ quan, tổ chức tiếp nhận không được yêu cầu nộp thêm học bạ giấy, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Chủ thể được khai thác học bạ số gồm:
a) Người học là chủ thể của dữ liệu học bạ số;
b) Cha, mẹ hoặc người giám hộ của người học theo quy định của pháp luật;
- Học bạ số là dữ liệu điện tử có giá trị pháp lý, ghi nhận có hệ thống quá trình học tập, kết quả học tập, kết quả rèn luyện, nhận xét, đánh giá và các thông tin liên quan của người học trong quá trình học tập tại cơ sở giáo dục.
c) Cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý giáo dục trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định;
d) Cơ quan, tổ chức khác khi được pháp luật cho phép hoặc được sự đồng ý hợp lệ của chủ thể dữ liệu học bạ số.
Việc khai thác học bạ số được thực hiện thông qua hệ thống thông tin, phần mềm quản lý giáo dục; Cổng Dịch vụ công quốc gia, ứng dụng định danh quốc gia VNeID và các nền tảng số khác khi đáp ứng điều kiện kết nối, xác thực, bảo đảm an toàn thông tin và được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
Phân quyền khai thác học bạ số được thực hiện theo nguyên tắc đúng vai trò, đúng phạm vi cho phép, có xác thực và có lưu vết.
Mức độ truy cập của từng nhóm chủ thể được quy định như sau:
a) Người học được xem toàn bộ học bạ số của bản thân, được tải bản điện tử học bạ số theo quy định, được yêu cầu chỉnh sửa khi phát hiện sai sót;
b) Cha, mẹ hoặc người giám hộ của người học chưa thành niên được xem dữ liệu học bạ số của người học, theo dõi kết quả học tập, rèn luyện và đề nghị cơ sở giáo dục kiểm tra dữ liệu khi có căn cứ;
c) Cơ sở giáo dục và cơ quan quản lý giáo dục được truy cập dữ liệu theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ và phân quyền nội bộ;
d) Cơ quan tiếp nhận dữ liệu học bạ số chỉ được truy cập phần dữ liệu cần thiết để giải quyết thủ tục hành chính hoặc công việc theo thẩm quyền;
đ) Các chủ thể khác chỉ được khai thác khi có căn cứ pháp lý hoặc sự đồng ý hợp lệ của chủ thể dữ liệu học bạ số.
Người học đủ 18 tuổi thực hiện quyền khai thác, sử dụng dữ liệu học bạ số của mình theo quy định của pháp luật; việc cha, mẹ hoặc người giám hộ của người học tiếp tục khai thác dữ liệu sau thời điểm này được thực hiện theo quy định của pháp luật hoặc theo sự đồng ý của người học.
Học bạ số được sử dụng trong các hoạt động sau đây:
a) Chuyển trường;
b) Tuyển sinh;
c) Xác nhận kết quả học tập, rèn luyện;
d) Xét hoàn thành chương trình, xét lên lớp;
đ) Cấp bản điện tử, trích lục, xác minh thông tin học tập;
e) Phục vụ công tác quản lý giáo dục theo quy định;
g) Thực hiện thủ tục hành chính liên quan và các hoạt động nghiệp vụ khác trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Cơ quan, tổ chức tiếp nhận học bạ số có trách nhiệm kiểm tra, xác thực dữ liệu trước khi sử dụng để giải quyết công việc.
Khi học bạ số, bản điện tử học bạ số, trích lục điện tử học bạ số đã đáp ứng điều kiện quy định tại Thông tư này, cơ quan, tổ chức tiếp nhận không được yêu cầu nộp thêm học bạ giấy, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp hệ thống tiếp nhận chưa đủ điều kiện kết nối trực tuyến, cơ quan, tổ chức tiếp nhận được sử dụng bản điện tử hoặc bản trích lục điện tử có mã xác thực theo quy định.
Chúng tôi luôn Lắng nghe và phản hồi