
THI TỐT NGHIỆP THPT 2026: AI, Steven Jobs vào đề thi môn Ngữ văn
Sáng 11/6, Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 chính thức bắt đầu với bài thi Ngữ văn theo hình thức tự luận, thời gian làm bài 120 phút.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 là năm thứ hai đề thi môn ngữ văn sử dụng ngữ liệu đọc hiểu và nghị luận là các tác phẩm văn học ngoài chương trình sách giáo khoa.
Theo Báo Giáo dục Thời đại, tại Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, bài thi Ngữ văn theo hình thức tự luận. Thời gian làm bài thi môn Ngữ văn là 120 phút.
Đề thi môn Ngữ văn năm nay gồm 2 phần: Phần đọc hiểu (4 điểm) và phần viết (6 điểm).
Trong đó phần đọc hiểu, đề cho văn bản về việc phát minh máy in năm 1440 tại một xưởng cơ khí ở nước Đức và đưa ra 5 câu hỏi.
Đáng chú ý, câu 5 đặt ra vấn đề rất thời sự, đó là: "Trong bối cảnh cần có những đột phá về khoa học công nghệ hiện nay, từ góc nhìn người trẻ, theo anh/chị, cần sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) như thế nào để tạo nên sự cộng hưởng trí tuệ?".
Đối với phần thi viết, đề thi đưa ra những nhân vật có tầm ảnh hưởng trong phát minh công nghệ góp phần thay đổi thế giới và yêu cầu thí sinh viết 1 đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ - 2 điểm) trả lời câu hỏi: "Làm thế nào để có những Steven Jobs Việt Nam?".
Phần thi viết cũng yêu cầu thí sinh viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ Những chiếc lá của Nguyễn Đình Thi (4 điểm).
Đề thi Ngữ văn tốt nghiệp THTP 2026

Đề thi môn Ngữ Văn, thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh Báo Giáo dục và Thời đại

Đề thi môn Ngữ Văn, thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Ảnh Báo Giáo dục và Thời đại
Gợi ý đáp án môn Ngữ văn, kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026
Dưới đây là những gợi ý đáp án môn Ngữ văn, kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026 đăng trên Báo Giáo dục và Thời đại.
Gợi ý 1:
| Phần | Câu | Hướng dẫn giải |
| I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
| Câu 1.
| Theo văn bản, trước năm 1440, tri thức được lưu giữ ở: Các thư viện, tu viện hoặc sau những cánh cổng sắt của các lâu đài (dưới dạng các cuốn sách chép tay bằng da cừu). |
| Câu 2.
| Câu văn chứa đựng bằng chứng là: “Nếu không có những bản in First Folio được xuất bản năm 1443, những vở kịch kinh điển như Macbeth hay Hamlet có lẽ đã tan biến vào hư không ngay sau khi tấm màn nhung của nhà hát Globe khép lại.” | |
| Câu 3.
| - “Tài sản bị giam cầm” (đoạn 2): Là cách nói ẩn dụ chỉ tri thức trước năm 1440 bị giới hạn trong phạm vi nhỏ, không được phổ biến rộng rãi đến công chúng, chỉ thuộc về tầng lớp tinh hoa và những người có điều kiện tiếp cận. - “Nhiên liệu” (đoạn 5): Là cách nói ẩn dụ chỉ vai trò thúc đẩy, tạo động lực mạnh mẽ của tri thức đối với sự phát triển của xã hội. Khi được phổ biến rộng rãi nhờ máy in, tri thức trở thành nguồn lực quan trọng giúp thúc đẩy thời kỳ Phục Hưng, Cách mạng Khoa học và Cách mạng Công nghiệp. Hai hình ảnh đã làm nổi bật sự thay đổi vị thế của tri thức: Từ chỗ bị giam giữ, độc quyền trở thành nguồn sức mạnh thúc đẩy sự phát triển của nhân loại. | |
| Câu 4.
| Thí sinh dựa vào nội dung văn bản, chi tiết được đưa và nêu cách hiểu phù hợp. Gợi ý: Mối liên hệ giữa luận đề và các luận điểm: - Luận đề: Sức mạnh của tri thức, công nghệ trong việc giải phóng, nhân bản và lan truyền tri thức, từ đó xoay chuyển, định hình vận mệnh của các quốc gia và nền văn minh thế giới. - Các luận điểm triển khai luận đề: + Trước năm 1440, tri thức bị độc quyền và khó tiếp cận. + Máy in Gutenberg phá vỡ sự độc quyền ấy bằng khả năng nhân bản tri thức hàng loạt. + Máy in góp phần bảo tồn và lan truyền các giá trị văn hóa. + Những quốc gia phát triển in ấn đạt được bước tiến vượt bậc về khoa học, kinh tế và văn minh. + Những quốc gia hạn chế in ấn bị trì trệ, tụt hậu. Các luận điểm được sắp xếp phù hợp, từ đó làm sáng tỏ và tăng sức thuyết phục cho luận đề. | |
| Câu 5.
| Thí sinh dựa vào nội dung văn bản, chi tiết được đưa và nêu cách hiểu phù hợp. Gợi ý: Trong bối cảnh cần những đột phá về khoa học công nghệ hiện nay, người trẻ cần sử dụng AI để tạo nên sự cộng hưởng trí tuệ bằng cách: - Chủ động khai thác AI như một công cụ hỗ trợ học tập, nghiên cứu và sáng tạo tri thức mới. - Kết hợp giữa kiến thức của bản thân với khả năng xử lí dữ liệu nhanh của AI để nâng cao hiệu quả làm việc. - Rèn luyện tư duy phản biện, kiểm chứng thông tin thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào AI. - Tuân thủ các nguyên tắc đạo đức số, sử dụng AI có trách nhiệm, tôn trọng bản quyền và quyền riêng tư. | |
| II. VIẾT (6,0 điểm)
| Câu 1. (2 điểm)
| a. Bảo đảm yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: c. Viết đoạn văn bảo đảm các yêu cầu: Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng, trình bày ý phù hợp theo bố cục của đoạn văn nghị luận. Bài làm có thể triển khai theo nhiều cách, sau đây là 1 gợi ý: 1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”? 2. Thân đoạn: a. Giải thích: “Steve Jobs Việt Nam” là cách nói hình tượng, chỉ những người có tài năng, tư duy sáng tạo, khả năng đổi mới, tạo ra những sản phẩm, công nghệ hoặc đem lại giá trị có ích cho quốc gia và thế giới. b. Bàn luận: Vai trò của những “Steve Jobs Việt Nam”: - Thúc đẩy sự phát triển của đất nước trong thời đại số. - Nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của đất nước trong thời đại số. - Truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ về tinh thần sáng tạo, khởi nghiệp và cống hiến. Đưa ra giải pháp “Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?” * Với cá nhân mỗi người trẻ: + Nuôi dưỡng đam mê, khát vọng sáng tạo và tinh thần cống hiến. + Chủ động học tập, nghiên cứu khoa học, làm chủ công nghệ. + Dám nghĩ, dám làm, chấp nhận thử thách để theo đuổi ý tưởng. * Với gia đình, nhà trường: + Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực + Khuyến khích người trẻ học hỏi, sáng tạo + Phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu và tài năng * Về phía xã hội: + Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học, công nghệ và các quỹ hỗ trợ khởi nghiệp + Chế độ phúc lợi hấp dẫn, thu hút nhân tài. Thí sinh lấy dẫn chứng phù hợp - Mở rộng: Phê phán những người sống thụ động, thiếu ý chí vươn lên, ngại đổi mới. 3. Kết đoạn Khẳng định lại vấn đề nghị luận |
| Câu 2. (4 điểm)
| a. Bảo đảm yêu cầu về hình thức, dung lượng của bài văn b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận. c. Viết bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu: Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ỷ phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Bài làm có thể triển khai theo nhiều cách, sau đây là gợi ý: 1. Mở bài: - Giới thiệu chung về tác giả Nguyễn Đình Thi và bài thơ "Những chiếc lá". - Nêu vấn đề nghị luận: Hình tượng chiếc lá gắn liền với quy luật cuộc đời, bức tranh lao động lam lũ và tình mẫu tử ấm áp. 2. Thân bài 3. Kết bài |
Gợi ý 2:
| Phần | Câu | Nội dung |
| I | ĐỌC HIỂU | |
| 1 | Theo văn bản, trước năm 1440, tri thức được lưu giữ trong các bản chép tay bị giam cầm nằm im lìm ở trong các thư viện, tu viện hay sau những cánh cổng sắt của các lâu đài, được đặt trên những sách da cừu đắt đỏ mà chỉ một số ít người có thể tiếp cận. | |
| 2 | Câu văn chứa đựng bằng chứng về vai trò của máy in đối với tác phẩm của William Shakespeare trong đoạn 4 là: "Nếu không có những bản in First Folio được xuất bản năm 1623, những vở kịch kinh điển như Macbeth hay Hamlet có lẽ đã tan biến vào hư không ngay sau khi tấm màn nhung của nhà hát Globe khép lại." | |
| 3
| Hai hình ảnh tạo nên sự đối lập giữa tri thức trước năm 1440: quý giá nhưng bị giới hạn và tri thức sau năm 1440; được giải phóng, lan tỏa, thúc đẩy tiến bộ xã hội, qua đó làm nổi bật vai trò cách mạng của phát minh máy in. Hiểu ý nghĩa của cụm từ "tài sản bị giam cầm" và từ "nhiên liệu": 1. Cụm từ "tài sản bị giam cầm" (trước năm 1440): - Là cách nói ẩn dụ chỉ tình trạng của tri thức trước khi máy in Gutenberg ra đời. - Tri thức vô cùng quý giá như một loại "tài sản" nhưng lại bị giới hạn, bó hẹp trong các bản chép tay, thư viện, tu viện, lâu đài; chỉ một số ít người thuộc tầng lớp tinh hoa mới có đặc quyền tiếp cận. - Cụm từ nhấn mạnh sự khan hiếm, khép kín và chưa được chia sẻ rộng rãi của tri thức trong xã hội lúc bấy giờ. 2. Từ "nhiên liệu" (sau năm 1440): - Là hình ảnh ẩn dụ chỉ vai trò mới của tri thức sau khi công nghệ in xuất hiện. - Tri thức được lan tỏa rộng rãi, biến thành nguồn năng lượng dồi dào thúc đẩy tư tưởng, khoa học và những biến đổi lớn của nhân loại (Phục Hưng, Cách mạng Công nghiệp). - Cách dùng từ cho thấy tri thức không chỉ dừng ở việc được "bảo tồn" mà đã thực sự trở thành động lực mạnh mẽ tạo nên sự phát triển vĩ đại. | |
| 4
| Luận đề: Sức mạnh của máy in đối với sự nhân bản công nghiệp của tri thức.Luận điểm 1: Tri thức bị kiểm soát độc quyền trước khi máy in ra đờiLuận điểm 2: Máy in góp phần bảo tồn, lan tỏa các giá trị văn hoá nhân loại. Luận điểm 3: Máy in góp phần định hình vị trí các quốc gia trên bản đồ. Nhận xét mối liên hệ giữa luận đề và luận điểm: - Các luận điểm có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất với luận đề vì đều tập trung làm rõ những biểu hiện khác nhau về sức mạnh thay đổi thế giới của máy in. - Hệ thống luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí (kết hợp thời gian và không gian), từ việc thay đổi cách con người tiếp cận tri thức đến những tác động rộng lớn đối với văn hóa, khoa học và tiến trình phát triển của nhân loại. - Điều đó giúp luận đề được chứng minh toàn diện, làm cho lập luận của văn bản trở nên logic và giàu sức thuyết phục. | |
| 5
| - Người trẻ cần xem trí tuệ nhân tạo là một công cụ hỗ trợ để mở rộng khả năng học tập và sáng tạo, không phải phương tiện thay thế hoàn toàn tư duy của con người. - Nếu biết sử dụng, người trẻ có thể sáng tạo, vượt qua rào cản ngôn ngữ, hình thành ý tưởng và tạo ra sản phẩm của riêng mình một cách nhanh chóng. - Người trẻ cần sử dụng AI trong chuẩn mực đạo đức và kết hợp với sức mạnh của AI sẽ có thể giải quyết được những vấn đề phức tạp. - Bên cạnh đó, nhờ việc khai thác AI, người trẻ có thể tiếp cận được một nguồn sinh thái mở, những tri thức mới. Sự cộng hưởng trí tuệ giữa tư duy của con người và sức mạnh của AI tạo ra những đột phá về khoa học công nghệ nhưng đồng thời cần xây dựng những thiết chế trong việc sử dụng. | |
| II | VIẾT | |
| 1 | Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) | |
| a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn Bảo đảm yêu cầu về hình thức và dung lượng (200 chữ) của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, móc xích hoặc song hành. | ||
| b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Giải pháp để có những "Steve Jobs Việt Nam". | ||
| c. Viết đoạn văn bảo đảm các yêu cầu Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng trên cơ sở bảo đảm những nội dung sau: - Giải thích: "Steve Jobs Việt Nam" là cách nói biểu tượng chỉ những con người có tư duy sáng tạo, tinh thần đổi mới, ứng dụng khoa học - công nghệ tạo ra những sản phẩm có giá trị ảnh hưởng tới cộng đồng. - Bình luận: + Trước hết, cần xây dựng một nền giáo dục khuyến khích tư duy độc lập với những ý tưởng khác biệt, khả năng phản biện, sáng tạo thay vì chỉ chú trọng truyền thụ kiến thức. + Môi trường gia đình, xã hội tạo điều kiện cho người trẻ được khám phá, thử nghiệm những điều mới, lắng nghe những ý kiến phản biện đôi khi vượt ra ngoài "lối mòn tư duy" + Bản thân người trẻ cũng cần chủ động trong việc hình thành và phát triển tư duy, nâng cao nhận thức; dám nghĩ và nỗ lực biến ý tưởng thành sản phẩm. + Cần có sự kết hợp giữa khát vọng cá nhân và “hệ sinh thái” hỗ trợ từ xã hội. Những tài năng công nghệ công nghệ chỉ có thể hình thành khi có sự đầu tư về nghiên cứu, hiện thực hóa ý tưởng thành sản phẩm. + Tuy nhiên, hiện nay có không ít người trẻ thiếu khát vọng vươn lên, ngại đổi mới, ngại thử thách, thụ động trong việc tiếp nhận tri thức. Hơn nữa, chúng ta không nên chỉ đặt kỳ vọng vào những cá nhân xuất chúng mà cần phải chung tay kiến tạo nên một thế hệ “Steve Jobs”. - Dẫn chứng: + Nguyễn Hà Đông đã tạo nên hiện tượng toàn cầu với trò chơi Flappy Bird, minh chứng cho khả năng sáng tạo và khát vọng chinh phục công nghệ của người Việt. + Sự phát triển lĩnh vực xe điện cho thấy người Việt có khả năng bước chân vào công nghệ mới với một tinh thần dám thử thách. *Lưu ý: Thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. | ||
| d. Diễn đạt: Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. | ||
| đ. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ. | ||
| 2 | Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) ...... | |
| a. Bảo đảm bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn. | ||
| b. Xác định đúng vấn đề nghị luận Nội dung và hình thức của bài thơ "Những chiếc lá" của Nguyễn Đình Thi: | ||
| c. Viết được bài văn nghị luận bảo đảm các yêu cầu: Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng: *Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận. - Nguyễn Đình Thi là một nhà thơ có đóng góp lớn cho nền văn học nghệ thuật nước nhà. - Thơ ông mang phong cách tư duy hiện đại, đậm chất trí tuệ và giàu nội tâm. - Bài thơ "Những chiếc lá" là một trong những tác phẩm xuất sắc của ông. *Thân bài: - Phân tích những nét đặc sắc về nội dung: + Những chiếc lá hiện lên với vẻ đẹp sự sống được hiện lên trong kí ức của tác giả: Gắn liền và gợi nhắc những khoảnh khắc đẹp trong đời sống; tạo nên vẻ đẹp thiên nhiên, chứng kiến và lưu giữ kỉ niệm của con người; thể hiện sự nâng niu, trân trọng vẻ đẹp cuộc sống của nhà thơ. + Những chiếc lá gợi ra suy ngẫm về thời gian, về quy luật đổi thay: Hình gió bấc ẩn dụ cho những thách thức, biến cố buộc con người phải đổi thay. Từ đó, tác giả đặt ra những suy tư về quy luật tất yếu của cuộc sống, mỗi cá thể đều phải không ngừng thay đổi, cống hiến để phù hợp với nhân tình thế thái + Những chiếc lá dù nhỏ bé nhưng đều có những giá trị riêng: Khi kết thúc vòng đời tự nhiên, chiếc lá không biến mất một cách vô nghĩa mà tiếp tục thắp lửa, cống hiến tạo nên giá trị cho đời. Từ đó tác giả gửi gắm quan niệm nhân văn: giá trị của một con người không chỉ ở lúc rực rỡ nhất mà còn ở những lúc tàn phai. - Phân tích những nét đặc sắc về hình thức: + Giọng thơ trầm lắng, triết lí. + Vận dụng thể thơ tự do, câu thơ dài giống như một lời tâm sự của tác giả. + Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các biện pháp nghệ thuật và lựa chọn từ ngữ tinh tế. + Hình ảnh những chiếc lá giàu tính biểu tượng, mở ra chiều sâu suy tưởng. *Kết bài: - Khẳng định hình ảnh những chiếc lá là thể hiện cái nhìn tinh tế, đầy nhân văn của nhà thơ. - Bài thơ trên là một minh chứng cho tài năng, sáng tạo trong con đường nghệ thuật của nhà thơ Nguyễn Đình Thi. * Lưu ý: Thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. | ||
| d. Diễn đạt: Đảm bảo đúng chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. | ||
| đ. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ. | ||
Gợi ý 3:
Phần 1 (4 điểm)
Câu 1: Theo văn bản, trước 1440, tri thức được lưu trữ ở trong các thư viện, tu viện, sau những cánh cổng sắt của lâu đài, trên những cuốn sách chép tay bằng da cừu.
Câu 2: Câu văn chứa đựng bằng chứng về vai trò của máy in đối với tác phẩm của William Shakespeare trong đoạn (4) là: “Nếu không có những bản in First Folio được xuất bản năm 1623, những vở kịch kinh điển như Macbeth hay Hamlet có lẽ đã tan biến vào hư không ngay sau khi tấm màn nhung của nhà hát Globe khép lại”.
Câu 3: Hiểu về nghĩa của cụm từ “tài sản bị giam cầm” (đoạn 2) và “nhiên liệu cho Phục Hưng” (đoạn 5).
- “Tài sản bị giam cầm”: Tri thức là tài sản đáng quý nhưng chỉ nằm trong phạm vi nhỏ hẹp của tầng lớp tinh hoa, chưa được phổ biến rộng rãi đến đông đảo quần chúng, giống như bị giam cầm.
- “Nhiên liệu cho Phục Hưng”: Nhờ có máy in, tri thức không còn bị “giam cầm” mà được lan tỏa rộng rãi. Và khi tri thức được phổ biến đến tất cả mọi người, nó trở thành nguồn tư liệu, nguồn nhiên liệu quí giá, là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của văn hóa, khoa học và tư tưởng thời kì Phục Hưng.
- Cách nói giàu hình ảnh như trên đã khẳng định rõ vai trò quan trọng của máy in trong việc lan tỏa tri thức.
Câu 4. Nhận xét về mối liên hệ giữa luận đề và các luận điểm trong văn bản.
- Luận đề của văn bản là khẳng định vai trò to lớn của phát minh máy in đối với sự phát triển của tri thức và văn minh nhân loại.
- Các luận điểm được triển khai chặt chẽ, logic: Trình bày thực trạng tri thức trước khi có máy in. Nêu tác động của việc phát minh ra máy in của Gutenberg đối với việc phổ biến tri thức. Chứng minh ảnh hưởng của máy in đối với văn hóa, khoa học và sự phát triển của các quốc gia. Đối chiếu với trường hợp Đế quốc Ottoman để làm nổi bật giá trị của công nghệ in ấn.
- Nhận xét: Các luận điểm đưa ra phù hợp, hợp lý, chặt chẽ tập trung làm sáng tỏ luận đề, giúp cho người đọc hiểu được vai trò của máy in trong việc phát triển của tri thức và văn minh nhân loại.
Câu 5. Trong bối cảnh cần có những đột phá về khoa học công nghệ hiện nay, từ góc nhìn của người trẻ, theo anh/chị, cần sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) như thế nào để tạo nên sự cộng hưởng trí tuệ?
- Cộng hưởng trí tuệ là sự kết hợp, chia sẻ và bổ sung giữa nhiều nguồn trí tuệ khác nhau để tạo ra những ý tưởng, giải pháp hoặc thành quả tốt hơn so với khi mỗi cá nhân làm việc riêng lẻ.
- Trong bối cảnh cần có những đột phá về khoa học công nghệ hiện nay, cần có sự kết hợp giữa trí tuệ con người (khả năng tư duy sáng tạo, cảm xúc, kinh nghiệm, khả năng đánh giá) và trí tuệ nhân tạo (AI) (khả năng xử lí dữ liệu nhanh, tìm kiếm thông tin, hỗ trợ phân tích).
- Để tạo nên sự cộng hưởng trí tuệ tốt nhất, người trẻ cần sử dụng trí tuệ AI đúng đắn, hợp lí và khoa học:
+ Xem AI như một công cụ hỗ trợ học tập, nghiên cứu và sáng tạo thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào nó. AI có thể giúp tìm kiếm thông tin, gợi ý ý tưởng và xử lý dữ liệu nhanh chóng, nhưng con người vẫn phải tư duy phản biện, kiểm chứng và đưa ra quyết định cuối cùng.
+ Bên cạnh đó, cần sử dụng AI có trách nhiệm, tôn trọng bản quyền và đạo đức số. Cần kiểm chứng nguồn thông tin mà AI cung cấp, không đặt niềm tin hoàn toàn vào AI – không phải lúc nào AI cũng đúng.
- Khi kết hợp sức mạnh công nghệ với khả năng sáng tạo của con người, AI sẽ góp phần tạo nên sự cộng hưởng trí tuệ, thúc đẩy đổi mới và phát triển xã hội.
Cách 2 (Phần I)
Câu 1:
- Theo văn bản, trước năm 1440, tri thức được lưu giữ: Trong các thư viện, tu viện; Sau những cánh cổng sắt của các lâu đài; Trên những cuốn sách chép tay bằng da cừu có giá trị rất cao.
Câu 2: Câu văn chứa đựng bằng chứng về vai trò của máy in đối với tác phẩm của William Shakespeare là: “Nếu không có những bản in First Folio được xuất bản năm 1623, những vở kịch kinh điển như Macbeth hay Hamlet có lẽ đã tan biến vào hư không ngay sau khi tấm màn nhung của nhà hát Globe khép lại.
Câu 3:
- Tài sản bị giam cầm” (đoạn 2): Là cách nói hình ảnh nhằm chỉ tri thức trước năm 1440 bị hạn chế khả năng tiếp cận, chỉ thuộc về tầng lớp tinh hoa, chưa được phổ biến rộng rãi đến cộng đồng. Tri thức là nguồn tài sản của nhân loại nên cần được phổ biến rộng rãi đến nhiều đối tượng để tăng giá trị của nguồn kiến thức.
- “Nhiên liệu” (đoạn 5): Là ẩn dụ chỉ vai trò thúc đẩy, tạo động lực cho sự phát triển của xã hội. Khi được phổ biến rộng rãi, tri thức trở thành nguồn lực quan trọng giúp thúc đẩy khoa học, kỹ thuật và sự tiến bộ của nhân loại.
- Hai cách diễn đạt cho thấy sự thay đổi to lớn của tri thức từ trạng thái bị độc quyền sang trạng thái lan tỏa và trở thành động lực phát triển xã hội.
Câu 4:
- Luận đề 1: Trước năm 1440, tri thức là một dạng tri thức bị giam cầm
- Các luận điểm: Các tri thức được lưu giữ: Trong các thư viện, tu viện; Sau những cánh cổng sắt của các lâu đài; Trên những cuốn sách chép tay bằng da cừu có giá trị rất cao; Đặc quyền của tầng lớp tinh hoa; các quốc gia ở phía bên kia Địa Trung Hải, các Sultan của Đế quốc Ottoman… dần chìm vào sự trì trệ và lạc hậu.
- Luận đề 2: Cuộc cách mạng: Sự nhân bản công nghiệp của tri thức
- Luận điểm: Tư tưởng của con người tách rời khỏi thể xác họ và nhân ra hàng ngàn bản sao với chi phí thấp; Ý tưởng vĩ đại lẫn nguy hiểm bắt đầu thẩm thấu vào đại chúng; William Shakespeare đã sống đúng vào điểm rơi của công nghệ in ấn và những vở kịch kinh điển được lan tỏa đến đại chúng; bảo tồn văn hóa là thước đo vận mệnh của các quốc gia như các quốc gia Anh, Hà Lan, Đức đã chứng kiến sự bùng nổ chưa từng có về dân trí và khoa học; tri thức trở thành nhiên liệu cho phục hưng và cách mạng công nghệ giúp con người phát minh ra những thành tựu khoa học kỹ thuật.
Sự phối hợp giữa các luận đề và luận điểm hợp lý và logic, tăng sức thuyết phục bởi những dẫn chứng cụ thể và tăng hiệu quả cho công việc. Trí thức chính là nguồn tài nguyên để mọi người được tiếp cận.
Câu 5: Trong bối cảnh hiện nay, để tạo nên sự cộng hưởng trí tuệ, người trẻ cần sử dụng AI một cách chủ động, có trách nhiệm và sáng tạo. AI nên được xem là công cụ hỗ trợ học tập, nghiên cứu và giải quyết vấn đề chứ không phải phương tiện thay thế hoàn toàn tư duy con người.
Người trẻ cần biết khai thác AI để tiếp cận nguồn tri thức rộng lớn, kết nối ý tưởng, chia sẻ kiến thức và hợp tác với cộng đồng. Đồng thời, phải kiểm chứng thông tin, tránh phụ thuộc hoặc lạm dụng AI dẫn đến suy giảm khả năng tư duy độc lập.
Khi kết hợp sức mạnh của AI với trí tuệ, bản lĩnh và đạo đức con người, chúng ta sẽ tạo ra những giá trị mới, góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học công nghệ và xã hội.
Phần 2 (6 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
Steve Jobs, Mark Zuckerberg hay Elon Musk là những tên tuổi mà đa số chúng ta đều biết. Những ý tưởng sáng tạo và phát minh công nghệ của họ đã góp phần làm phát triển và thay đổi thế giới một cách đáng kinh ngạc.
Nước Việt Nam bắt đầu bước chân vào thế kỷ vươn mình. Để sự vươn mình có thể thành công ở Việt Nam, chúng ta rất cần những người như Steve Jobs. Làm thế nào để Việt Nam có thêm những “Steve Jobs” trong tương lai? Đó là một câu hỏi thật sự khó khăn để thành hiện thực. Để tạo nên những con người có khả năng đổi mới và dẫn dắt công nghệ, cần có sự chung tay của cá nhân, gia đình, nhà trường, xã hội và những chính sách đúng đắn của nhà nước.
Trước hết, mỗi người trẻ phải nuôi dưỡng tinh thần học hỏi, đam mê khám phá. Những nhà sáng tạo lớn không chỉ có kiến thức mà còn biết tư duy độc lập, khả năng phản biện và kiên trì theo đuổi mục tiêu dù có quá nhiều lần thất bại.
Ngoài nỗ lực của cá nhân, gia đình, nhà trường và chính sách đúng đắn của nhà nước cũng giữ vai trò rất quan trọng. Thay vì chỉ chú trọng điểm số, cần khuyến khích học sinh sáng tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển năng lực riêng.
Một môi trường giáo dục hiện đại phải tạo điều kiện cho học sinh được trải nghiệm, thực hành, làm việc nhóm, ứng dụng kiến thức vào thực tiễn và tôn trọng sự khác biệt. Đồng thời, xã hội và Nhà nước cần đầu tư mạnh mẽ cho khoa học – công nghệ, xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp, hỗ trợ các dự án đổi mới sáng tạo và tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả người trẻ phát huy tài năng.
Tuy nhiên, để có những “Steve Jobs Việt Nam”, chúng ta không nên chỉ mong chờ vào vài cá nhân xuất chúng mà cần xây dựng một thế hệ công dân sáng tạo, dám đổi mới và có khát vọng cống hiến. Chúng ta có thể tận dụng các phát minh mới của thế giới về công nghệ và khoa học một cách hiệu quả dù không có những cá nhân xuất sắc như Steve Jobs.
Tóm lại, để có những “Steve Jobs Việt Nam” thật sự chỉ là một ước mơ và định hướng để phấn đấu. Tất cả chúng ta sẽ cùng "tận nhân lực’’ để "tri thiên mệnh’’. Vận mệnh đất nước Việt Nam sẽ phụ thuộc rất nhiều vào sự nỗ lực, học tập và sáng tạo của tuổi trẻ chúng ta.
Phần II
Câu 1: (cách 2) Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?
Yêu cầu chung:
- Về hình thức: Đảm bảo đúng cấu trúc đoạn văn, độ dài khoảng 200 chữ. Trình bày sạch sẽ, đúng chính tả.
- Về nội dung: Xác định đúng vấn đề nghị luận: Giải pháp để Việt Nam có những nhân tài công nghệ tầm cỡ thế giới như Steve Jobs (với tư cách là người trẻ).
| a. Hình thức | Đảm bảo cấu trúc đoạn văn, dung lượng vừa phải, diễn đạt trôi chảy. |
| b. Xác định vấn đề | Xác định đúng câu hỏi trọng tâm: Các giải pháp từ góc độ người trẻ để hình thành đội ngũ nhân tài công nghệ kiệt xuất. |
| c. Triển khai nội dung
| Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần tập trung trả lời câu hỏi "Làm thế nào?". Dưới đây là các ý gợi ý chính: 1. Giải thích ngắn gọn hình ảnh "Steve Jobs": Không chỉ là tên riêng, mà là biểu tượng của sự sáng tạo đột phá, tinh thần tiên phong và tầm ảnh hưởng toàn cầu trong lĩnh vực công nghệ. 2. Các nhóm giải pháp cốt lõi: - Thay đổi tư duy (Góc độ cá nhân người trẻ): - Cần dám nghĩ khác, làm khác (Think Different), không đi theo lối mòn. - Nuôi dưỡng niềm đam mê cháy bỏng với công nghệ và khát vọng cống hiến cho đất nước. - Đừng sợ thất bại; xem thất bại là bài học quý giá trên con đường sáng tạo. - Trang bị kiến thức và kỹ năng: + Tự học, tự trau dồi không ngừng (lifelong learning) trong bối cảnh công nghệ thay đổi từng ngày. Học cách học thay vì chỉ học kiến thức. + Học đi đôi với hành; chú trọng các kỹ năng thực tiễn, giải quyết các vấn đề thực tế của Việt Nam bằng công nghệ. - Vai trò của xã hội/giáo dục (Người trẻ kiến nghị/thúc đẩy): + Cần một hệ sinh thái khởi nghiệp hỗ trợ, các chính sách khuyến khích sáng tạo, bản quyền, chế tác. + Giáo dục cần chuyển từ truyền thụ kiến thức sang khơi gợi tư duy phản biện và sáng tạo. 3. Bài học/Cam kết hành động của bản thân. |
| d. Chính tả, ngữ pháp | Không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu nghiêm trọng. |
| e. Sáng tạo
| Có lối diễn đạt mới mẻ, câu văn có hình ảnh, hoặc có những liên hệ thực tế sâu sắc (ví dụ: Nhắc đến các startup Việt thành công). |
Phần 2: Đoạn văn tham khảo (khoảng 230 chữ)
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”. Và nguồn tài nguyên quý giá nhất của đất nước hiện nay chính là nguồn tri thức trẻ. Để Việt Nam có những "Steve Jobs" – những biểu tượng của sự sáng tạo đột phá và tầm ảnh hưởng toàn cầu, với tư cách là một người trẻ, chúng ta cần có chìa khóa để mở cánh cửa thành công, đó chính là việc kết hợp giữa khát vọng cá nhân và sự đồng hành của hệ sinh thái phát triển, điểm tựa vững chắc cho giới trẻ từ chính gia đình và xã hội.
Trước hết, mỗi người trẻ cần nuôi dưỡng tinh thần "Dám nghĩ khác, dám làm khác". Như chúng ta đã biết, công nghệ đang là trợ thủ, nguồn lực, đồng thời là thử thách của cả Thế giới. Người trẻ không nên chỉ là những người tiêu thụ công nghệ mà phải khao khát trở thành người tạo ra xu hướng, giải quyết các vấn đề thực tiễn của đất nước bằng các giải pháp công nghệ tiên tiến.
Tiếp theo, sự thay đổi bắt nguồn từ giáo dục. Cập nhật, chủ động tiếp thu cái mới và đi đầu trong đổi mới sáng tạo là yếu tố cốt lõi cần được đề cao. Hãy học cách học thay gì chỉ học kiến thức. Làm mới sẽ cho kết quả mới.
Song song đó, gia đình và xã hội cần chung tay xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp lành mạnh, nơi các ý tưởng sáng tạo được bảo vệ, được đầu tư vốn và được phép "thất bại để học hỏi".
Chúng ta có thể lấy ví dụ về các startup Việt đang vươn tầm thế giới như VNG hay VinFast hay cụ thể như Phương Vũ năm 2024 được Apple chọn làm đạo diễn cho dự án"Shot on iPhone" toàn cầu với phim ngắn về con rồng Việt Nam để thấy rằng tiềm năng của chúng talà có thật.
Chỉ khi kết hợp được ngọn lửa đam mê của thế hệ trẻ với môi trường thuận lợi, Việt Nam mới thực sự sẵn sàng đón nhận những huyền thoại công nghệ nói riêng và những người tiên phong nói chung.
Bài văn phân tích chi tiết: "Những chiếc lá" (Nguyễn Đình Thi)
1. Mở bài
“Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác” (Xuân Diệu), thật vậy bài thơ “Những chiếc lá” của nhà thơ Nguyễn Đình Thi là một bài thơ hay và đặc sắc. Với thể thơ tự do, giọng thơ tha thiết, sâu lắng, đoạn thơ đã để lại nhiều cảm xúc trong lòng người đọc về quy luật của sự sống và ý nghĩa của lẽ sống đẹp, sự cống hiến thầm lặng cho cuộc đời.
2. Thân bài
Luận điểm 1: Nội dung và chủ đề sâu sắc của tác phẩm
Trước tiên ta thấy bài thơ “Những chiếc lá” chinh phục người đọc bởi nội dung, chủ đề sâu sắc của nó. Bài thơ là tình cảm của nhân vật trữ tình dành cho những kiếp sống thầm lặng, biết hy sinh và dâng hiến cho cuộc đời một cách chân thành tha thiết.
Mạch cảm xúc được thể hiện xuyên suốt là sự chuyển biến từ nỗi buồn thương trước cảnh sắc tàn phai, úa rụng của thiên nhiên sang niềm thấu hiểu, trân trọng giá trị bất tử của sự cống hiến thầm lặng, lẽ sống đẹp và hơi ấm tình người.
Nội dung chủ đề được thể hiện ngay ở nhan đề “Những chiếc lá”, nhan đề thật ngắn gọn mà hàm súc. “Những chiếc lá” không đơn thuần là một thực thể của tự nhiên mà mang tính nhân hóa, là biểu tượng cho những kiếp người, những cuộc đời bình dị xung quanh chúng ta.
Bên cạnh đó, hình ảnh thơ thật gần gũi, thân thuộc được chọn lọc, giàu tính biểu tượng. Đó là hình ảnh “Những chiếc lá nâu, đen, rách quăn queo” gợi lên sự già cỗi, khắc nghiệt của thời gian và quy luật tử sinh. Thế nhưng, khi lật giở lại ký ức, chiếc lá ấy từng có một thời thanh xuân rực rỡ: “Xòe biếc đón về ríu rít những đàn chim”, “um tùm che mát cho người đi đườngmồ hôi nhễ nhại” và “thắp vàng trên đầu bao đôi người yêu”.
Những hình ảnh này đã thể hiện nội dung, chủ đề viết về lẽ sống vị tha, tinh thần cống hiến hết mình cho tha nhân và cuộc sống. Cảm hứng chủ đạo bao trùm, xuyên suốt bài thơ là ca ngợi vẻ đẹp của sự hy sinh thầm lặng, tình mẫu tử thiêng liêng và sự tiếp nối không ngừng của ngọn lửa yêu thương thông qua hình ảnh bếp lửa cuối bài.
Luận điểm 2: Hình thức nghệ thuật đặc sắc
Bên cạnh đó, bài thơ còn có hình thức nghệ thuật đặc sắc:
- Về thể thơ, gieo vần, ngắt nhịp: Bài thơ thành công với thể thơ tự do, với cách gieo vần linh hoạt liên kết các dòng thơ, tạo giọng điệu vừa tha thiết vừa suy tư chiêm nghiệm. Nhịp thơ biến đổi linh hoạt theo cảm xúc, khi thì chậm rãi, kéo dài ở những câu tả cảnh mùa đông lạnh giá, khi lại dồn dập, vui tươi ở nhữngcâu thơ nhớ về quá khứ, giúp âm điệu thơ trở nên mềm mại và uyển chuyển, tạo nhịp điệu, đồng thời khiến dòng cảm xúc của tác giả về sự sống và cái chết trở nên sâu lắng và chân thực hơn.
- Đặc biệt việc vận dụng các biện pháp tu từ như điệp ngữ “Đâu những...”, “Những buổi...”, “Những chiều...” đã góp phần gợi tả không gian - thời gian trọn vẹn của quá khứ, nơi những chiếc lá đã sống một cuộc đời thầm lặng mà vô cùng ý nghĩa. Qua đó thể hiện cảm xúc tự hào, trân trọng đối với những giá trịtốt đẹp đã qua, góp phần làm cho hình ảnh thơ thêm phần sinhđộng.
Bên cạnh đó, biện pháp nhân hóa được sử dụng tinh tế qua việc lá tự xưng là “chúng ta”, biết “xòe biếc”, “che mát”, và đặc biệt là hành động ở cuối bài: “Những chiếc lá reo phù phù, nhảy nhót”.
Biện pháp này tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài thơ, khiến người đọc không chỉ cảm nhận được cái chết của chiếc lá dưới góc độ sinh học, mà còn lưu lại dư âm sâu xa về một sự hóa thân đầy thanh thản, tự nguyện mang tính nhân văn sâu sắc.
- Về ngôn ngữ thơ: Đặc biệt, ngôn ngữ trong bài thơ giản dị, gần gũi với đời sống thường ngày qua những từ ngữ như “lụi hụi xuýt xoa”, “loạt xoạt”, “vốc từng nắm lá khô” nhưng vẫn chứa đựng nhiều hình ảnh gợi cảm và cảm xúc tinh tế, khơi dậy trong người đọc những rung động sâu xa về tình yêu thương, sựấm áp của mái nhà và hơi thở của cuộc sống lao động bình dị.
3. Kết bài
Tóm lại bài thơ "Những chiếc lá" của tác giả Nguyễn Đình Thi là một bài thơ hay, đặc sắc viết về đề tài quan niệm về lẽ sống, triết lý nhân sinh và lẽ sống dâng hiến với việc vận dụngcác thủ pháp nghệ thuật độc đáo.
Qua bài thơ, tác giả Nguyễn Đình Thi gửi đến chúng ta thông điệp phải biết sống một cuộc đời trọn vẹn, biết sẻ chia, yêu thương và cống hiến hết mình cho cuộc đời, bởi giá trị của một con “Thước đo của đời người không phải thời gian mà là sự cống hiến” (Peter Marshall – thượng nghị viện).
Ngữ văn là môn duy nhất thi theo hình thức tự luận, đề tiếp tục sử dụng ngữ liệu nằm ngoài sách giáo khoa nhằm khắc phục tình trạng "đọc chép theo văn mẫu".
Đề thi Ngữ văn có 2 phần: Đọc hiểu (4 điểm) và viết (6 điểm).
Phần Đọc hiểu gồm một ngữ liệu đọc hiểu ngoài sách giáo khoa và 5 câu hỏi đọc hiểu được sắp xếp theo ba cấp độ nhận thức: nhận biết, thông hiểu, vận dụng.
Phần viết sẽ gồm một câu yêu cầu viết đoạn văn và một câu viết bài văn, có cả nghị luận xã hội và nghị luận văn học.
Các môn còn lại thí sinh thi theo hình thức trắc nghiệm.
Các câu hỏi với môn thi trắc nghiệm được chia thành 3 phần, trong đó phần 1 gồm các câu hỏi ở dạng thức trắc nghiệm nhiều lựa chọn, cho 4 phương án chọn 1 đáp án đúng. Mỗi câu trả lời đúng thí sinh được 0,25 điểm.
Phần 2 gồm các câu hỏi ở dạng thức trắc nghiệm dạng Đúng/Sai. Mỗi câu hỏi có 4 ý, tại mỗi ý thí sinh lựa chọn Đúng hoặc Sai.
Thí sinh chỉ lựa chọn chính xác 1 ý trong 1 câu hỏi sẽ được 0,1 điểm; lựa chọn chính xác 2 ý trong 1 câu hỏi được 0,25 điểm; lựa chọn chính xác 3 ý trong 1 câu hỏi được 0,5 điểm; lựa chọn chính xác cả 4 ý trong 1 câu hỏi được 1 điểm.
Phần 3, gồm các câu hỏi ở dạng thức trắc nghiệm trả lời ngắn. Thí sinh tô vào các ô tương ứng với đáp án của mình. Với môn Toán, mỗi câu trả lời đúng được 0,5 điểm, còn các môn khác được 0,25 điểm.
Hơn 99,5% thí sinh dự thi môn Ngữ văn, buổi thi đầu tiên diễn ra an toàn, nghiêm túc
Theo thông tin từ Ban Chỉ đạo thi cấp quốc gia Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, trong buổi thi môn Ngữ văn sáng 11/6, Kỳ thi đã diễn ra an toàn, nghiêm túc, đúng Quy chế tại các điểm thi trên cả nước.
Cả nước có 1.203.039 thí sinh dự thi môn Ngữ văn, đạt tỷ lệ 99,56%, gần tương đương tỷ lệ dự thi của Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025.
Trong buổi thi, có 12 thí sinh vi phạm Quy chế thi và bị đình chỉ thi, gồm 11 trường hợp sử dụng điện thoại di động và 1 trường hợp sử dụng tài liệu. Không có cán bộ làm thi vi phạm Quy chế.
Theo đánh giá của Ban Chỉ đạo thi cấp quốc gia, thời tiết tại phần lớn các địa phương thuận lợi, giao thông được bảo đảm an toàn, tạo điều kiện để thí sinh đến điểm thi đầy đủ, đúng giờ.
Các Hội đồng thi đã thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Cán bộ coi thi chủ động phát hiện, xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm Quy chế. Hầu hết thí sinh bình tĩnh, tự tin và nghiêm túc làm bài.
Chiều 11/6, thí sinh tiếp tục dự thi môn Toán với thời gian làm bài 90 phút. Thí sinh được phát đề lúc 14 giờ 20 phút và bắt đầu làm bài từ 14 giờ 30 phút.
Ban Chỉ đạo thi cấp quốc gia đề nghị các Hội đồng thi tiếp tục chỉ đạo các điểm thi tăng cường các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm túc các hành vi vi phạm Quy chế thi, đặc biệt là việc sử dụng điện thoại di động, thiết bị công nghệ cao nhờ AI để giải bài trong khi làm bài thi.
Lịch thi tốt nghiệp THPT năm 2026
| Ngày | Buổi | Bài thi/Môn thi | Thời gian làm bài
| Giờ phát đề cho thí sinh | Giờ bắt đầu làm bài | |
| 10/6/2026
| SÁNG | 08 giờ 00: Họp cán bộ làm công tác coi thi tại Điểm thi | ||||
| CHIỀU | 14 giờ 00: Thí sinh làm thủ tục dự thi tại phòng thi, đính chính sai sót (nếu có) và nghe phổ biến Quy chế thi, Lịch thi | |||||
| 11/6/2026
| SÁNG | Ngữ văn | 120 phút | 07 giờ 30 | 07 giờ 35 | |
| CHIỀU | Toán | 90 phút | 14 giờ 20 | 14 giờ 30 | ||
| 12/6/2026
| SÁNG | Bài thi tự chọn | Môn thứ 1 | 50 phút | 07 giờ 30 | 07 giờ 35 |
| Môn thứ 2 | 50 phút | 08 giờ 35 | 08 giờ 40 | |||
| 13/6/2026 | Dự phòng | |||||

Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 có 1.223.776 thí sinh đăng ký dự thi.
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, kỳ thi năm nay có tổng số 1.223.776 thí sinh đăng ký dự thi. Trên cả nước bố trí 2.478 điểm thi với 54.409 phòng thi.
Tổng số thí sinh đến làm thủ tục dự thi trong chiều 10/6 là 1.208.968 em, đạt tỷ lệ 98,79% so với số thí sinh đăng ký dự thi.
Theo lịch thi, sáng 11/6, thí sinh dự thi môn Ngữ văn với thời gian làm bài 120 phút. Đề thi được phát cho thí sinh lúc 7 giờ 30 phút, thời gian bắt đầu làm bài là 7 giờ 35 phút.
Buổi chiều cùng ngày, thí sinh dự thi môn Toán với thời gian làm bài 90 phút. Đề thi được phát lúc 14 giờ 20 phút, thời gian bắt đầu làm bài là 14 giờ 30 phút.
Ban Chỉ đạo thi cấp quốc gia lưu ý, trong mỗi buổi thi, thí sinh cần có mặt tại điểm thi, phòng thi đúng thời gian quy định; nghiêm túc chấp hành hiệu lệnh của điểm thi và hướng dẫn của giám thị.
Theo Quy chế thi, thí sinh đến chậm quá 15 phút sau khi có hiệu lệnh tính giờ làm bài sẽ không được dự thi buổi thi đó.
Chúng tôi luôn Lắng nghe và phản hồi
