Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng
Bộ Tư pháp công bố Hồ sơ thẩm định dự án Luật Thủ đô (sửa đổi).
Phạm vi điều chỉnh: Luật Thủ đô (sửa đổi) quy định về vị trí, vai trò của Thủ đô; chính sách, trách nhiệm xây dựng, phát triển, quản trị và bảo vệ Thủ đô; liên kết, phát triển Vùng Thủ đô.
Đối tượng áp dụng: Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan nhà nước ở Trung ương; chính quyền thành phố Hà Nội và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Bố cục của dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi)
Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) gồm 9 Chương, 42 Điều, cụ thể như sau:
Chương I: "Những quy định chung" (gồm 5 điều, từ Điều 1 đến Điều 5) quy định về phạm vi điều chỉnh; vị trí, vai trò, biểu tượng của Thủ đô; giải thích từ ngữ; nguyên tắc phân quyền cho chính quyền Thủ đô; áp dụng Luật Thủ đô.
Chương II: Tổ chức chính quyền và quản trị Thủ đô (gồm 6 điều, từ Điều 6 đến Điều 11) quy định về đơn vị hành chính thuộc thành phố Hà Nội; nhiệm vụ, quyền hạn về tổ chức bộ máy và chế độ công vụ; thẩm quyền về xây dựng, ban hành văn bản pháp luật; thí điểm cơ chế, chính sách; quản trị Thủ đô; bảo đảm trật tự, an toàn Thủ đô.
Chương III: Quy hoạch, xây dựng và bảo vệ môi trường (gồm 6 điều, từ Điều 12 đến Điều 17), quy định về quy hoạch Thủ đô; quản lý, sử dụng không gian ngầm, không gian tầm thấp; cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị; phát triển đô thị, nhà ở; phát triển hạ tầng giao thông; bảo vệ môi trường Thủ đô và vùng Thủ đô.
Chương IV. Phát triển văn hóa – xã hội (gồm 3 điều, từ Điều 18 đến Điều 20) quy định về phát triển văn hóa, thể thao, du lịch; phát triển giáo dục, đào tạo; phát triển hệ thống y tế, an sinh xã hội.
Chương V. Phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (gồm 4 điều, từ Điều 21 đến Điều 24), quy định về chính sách chung phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; chính sách đầu tư, khuyến khích phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; thử nghiệm có kiểm soát; phát triển khu công nghệ cao.
Chương VI. Nguồn lực phát triển Thủ đô (gồm 7 điều, từ Điều 25 đến Điều 31), quy định về sử dựng nguồn tài chính, ngân sách; thẩm quyền về đầu tư; tài sản công, tài sản kết cấu hạ tầng do Thành phố đầu tư, quản lý; quản lý, bảo vệ, sử dụng tài nguyên; thu hút, trọng dụng và phát triển nguồn nhân lực; thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, kinh doanh; phát triển khu thương mại tự do của Thủ đô và loại hình kinh tế mới.
Chương VII. Vùng Thủ đô (gồm 2 điều, từ Điều 32 đến Điều 33), quy định về mục tiêu, nguyên tắc trong liên kết, phát triển vùng; đầu tư, quản lý dự án liên kết, phát triển vùng; nguồn vốn đầu tư chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng; trách nhiệm tổ chức thực hiện chương trình, dự án liên kết, phát triển vùng.
Chương VIII. Giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình (gồm 7 điều, từ Điều 34 đến Điều 40), quy định về trách nhiệm của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội; trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; trách nhiệm của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có hoạt động liên kết, phát triển vùng với Thủ đô; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và Nhân dân Thủ đô; trách nhiệm giải trình của chính quyền Thành phố; miễn trừ, loại trừ trách nhiệm pháp lý.
Chương IX. Điều khoản thi hành (gồm 2 điều, từ Điều 41 đến Điều 42), quy định về hiệu lực thi hành; trách nhiệm tổ chức thi hành; ban hành văn bản quy định chi tiết, quy định biện pháp cụ thể để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thủ đô; điều khoản chuyển tiếp.
Dự thảo Luật đề xuất giữ nguyên 03 điều; sửa đổi, bổ sung 47 điều; lược bỏ 04 điều của Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Do đó, theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 8 Luật Ban hành Văn bản Quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp đề nghị xây dựng dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15.
Nội dung cơ bản của Luật Thủ đô (sửa đổi)
Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) nhằm thể chế hóa các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội, ổn định, có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với vị trí, vai trò, tính chất riêng có của Thủ đô, cụ thể như sau:
Nội dung sửa đổi, hoàn thiện
Sửa đổi các quy định chung
Chương này quy định về phạm vi điều chỉnh; vị trí, vai trò, biểu tượng của Thủ đô; giải thích từ ngữ; nguyên tắc phân quyền cho chính quyền Thủ đô; áp dụng Luật Thủ đô. Các quy định này cơ bản kế thừa quy định của Luật Thủ đô năm 2024, đồng thời, sửa đổi, bổ sung một số nội dung sau đây:
Thứ nhất, giải thích từ ngữ (Điều 3) được thiết kế trên cơ sở kế thừa và sửa đổi, bổ sung Điều 3 Luật Thủ đô năm 2024 để làm rõ hơn 9 cụm từ được sử dụng trong Luật Thủ đô để bảo đảm áp dụng thống nhất, chẳng hạn như: "dự án lớn, quan trọng"; "không gian tầm thấp"; "kinh tế bạc"; "thí điểm cơ chế, chính sách".
Thứ hai, sửa đổi quy định áp dụng Luật Thủ đô (khoản 2 Điều 5) về việc giao Hội đồng nhân dân (HĐND) Thành phố có thẩm quyền áp dụng quy định trong trường hợp luật, nghị quyết của Quốc hội ban hành sau ngày Luật Thủ đô có hiệu lực thi hành có quy định cơ chế, chính sách ưu đãi hoặc thuận lợi hơn. Quy định này nhằm tăng tính chủ động cho chính quyền thành phố trong việc áp dụng các quy định pháp luật.
Tổ chức chính quyền và quản trị Thủ đô
Trong Luật Thủ đô năm 2024, nhóm chính sách về tổ chức chính quyền đô thị và phân quyền, phân cấp giữ vai trò trụ cột, trực tiếp quyết định năng lực quản trị, hiệu quả tổ chức thực thi pháp luật và khả năng hiện thực hóa các cơ chế đặc thù.
Việc trao quyền mạnh mẽ cho chính quyền Thành phố chính là nguồn lực thể chế, là đòn bẩy đưa các ưu đãi, cơ chế đặc thù đi vào thực tiễn.
Thực hiện Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Nghị quyết số 1656/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Hà Nội năm 2025, Thành phố triển khai sắp xếp các đơn vị hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025.
Do vậy, nhằm bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp theo chỉ đạo của Đảng và Nhà nước thời gian qua, chương II của dự thảo Luật đã quy định 6 điều về tổ chức chính quyền và quản trị Thủ đô.
Trong đó, quy định đơn vị hành chính thuộc thành phố Hà Nội bao gồm xã, phường và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt thuộc thành phố Hà Nội được thành lập để thực hiện vai trò đô thị chức năng, là cực tăng trưởng mới của Thành phố theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô); quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn về tổ chức bộ máy và chế độ công vụ.
Bên cạnh đó, bổ sung thêm các quy định mới về thẩm quyền xây dựng, ban hành văn bản pháp luật (Điều 8) của chính quyền Thành phố Hà Nội nhằm phục vụ phát triển Thủ đô và tăng cường liên kết Vùng Thủ đô.
Theo đó, HĐND và Ủy ban nhân dân (UBND) Thành phố được ban hành các quy định mới hoặc quy định khác với quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, cơ quan ngang bộ để thực hiện thẩm quyền của chính quyền địa phương theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội.
UBND Thành phố được ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế – kỹ thuật, đơn giá và giá dịch vụ sự nghiệp áp dụng riêng cho Thủ đô, khác hoặc chưa được quy định ở trung ương.
Việc ban hành các văn bản này phải bảo đảm đúng thẩm quyền, phù hợp với yêu cầu phát triển và đặc thù quản trị của Thủ đô; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, sức khỏe cộng đồng, quốc phòng, an ninh và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; đồng thời có tiêu chí đánh giá, cơ chế giám sát, giải trình và phương án xử lý khi không đạt mục tiêu hoặc phát sinh rủi ro.
Riêng đối với các quy định do UBND Thành phố ban hành, phải bảo đảm tính khả thi, tính tương thích với quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia hoặc phù hợp với tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế, không làm cản trở việc liên thông, kết nối kỹ thuật, quản lý và dữ liệu với hệ thống quốc gia và các địa phương khác.
Quy định về bảo đảm trật tự, an toàn Thủ đô (Điều 11) xác định thẩm quyền của Hội đồng nhân dân Thành phố trong việc ban hành các biện pháp đặc thù bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ môi trường và áp dụng biện pháp hành chính cấp bách trên địa bàn Thủ đô; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp quyết định áp dụng các biện pháp này theo quy định.
Cho phép Hội đồng nhân dân Thành phố quy định mức xử phạt vi phạm hành chính cao hơn nhưng không quá 02 lần mức chung.
Trong trường hợp cần thiết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp được yêu cầu ngừng cung cấp điện, nước đối với công trình, cơ sở vi phạm nghiêm trọng về xây dựng, đất đai, phòng cháy, chữa cháy, môi trường hoặc thuộc diện phải di dời, phá dỡ.
Quy định trách nhiệm của đơn vị cung cấp điện, nước và giao Hội đồng nhân dân Thành phố quy định chi tiết việc thực hiện.
Quy hoạch, xây dựng và bảo vệ môi trường
Trên cơ sở kế thừa và phát triển thêm các quy định tại Luật Thủ đô 2024, Chương III về quy hoạch, xây dựng và bảo vệ môi trường Thủ đô xác lập khuôn khổ pháp lý thống nhất cho việc phát triển Hà Nội theo Quy hoạch tổng thể Thủ đô, bảo đảm tính ổn định, dài hạn, phù hợp với quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng và yêu cầu phát triển bền vững.
Quy hoạch tổng thể Thủ đô là căn cứ pháp lý cao nhất để lập, thẩm định, phê duyệt các quy hoạch đô thị, nông thôn, quản lý đầu tư xây dựng, tổ chức không gian phát triển, bảo tồn di sản, bảo đảm quốc phòng, an ninh, kết nối hạ tầng và liên kết vùng.
Chính quyền Thành phố được trao thẩm quyền chủ động trong phê duyệt, điều chỉnh quy hoạch, tổ chức lập quy hoạch, quyết định chỉ tiêu quy hoạch, kiến trúc đặc thù và bố trí nguồn lực thực hiện.
Các biện pháp bảo đảm thực hiện quy hoạch tập trung vào kiểm soát phát triển khu vực nội đô lịch sử, di dời các cơ sở, trụ sở không phù hợp quy hoạch, quản lý và sử dụng hiệu quả quỹ đất sau di dời, gắn phát triển hạ tầng giao thông với chỉnh trang đô thị, tái định cư tại chỗ và khai thác quỹ đất vùng phụ cận.
Việc quản lý, khai thác không gian ngầm và không gian tầm thấp được thực hiện theo quy hoạch, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn, khuyến khích đầu tư và sử dụng hiệu quả tài nguyên không gian.
Cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị được thực hiện theo dự án, bảo đảm phù hợp quy hoạch, bảo vệ di sản, nâng cao chất lượng sống, hài hòa lợi ích của Nhà nước, người dân và doanh nghiệp, với cơ chế đồng thuận cộng đồng, lựa chọn nhà đầu tư và thẩm quyền can thiệp của chính quyền trong trường hợp cấp bách.
Phát triển đô thị và nhà ở theo mô hình đa trung tâm, đô thị xanh, thông minh, ưu tiên nhà ở xã hội, tái định cư và phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD).
Bên cạnh đó, quy định khi đầu tư xây dựng mới hoặc mở rộng trục đường bộ, đường sắt đô thị theo quy hoạch trên địa bàn Thành phố, cơ quan lập quy hoạch có trách nhiệm xác định vị trí, ranh giới, diện tích đất thu hồi trong vùng phụ cận để phục vụ cải tạo, chỉnh trang đô thị, tái định cư tại chỗ và phát triển nhà ở, thương mại, dịch vụ.
Trong lĩnh vực giao thông và môi trường, HĐND Thành phố quyết định các chính sách huy động nguồn lực, phát triển vận tải công cộng khối lượng lớn, hạn chế phương tiện cá nhân và ứng dụng công nghệ cao trong quản lý giao thông.
Công tác bảo vệ môi trường Thủ đô và Vùng Thủ đô được thực hiện theo nguyên tắc phát triển bền vững, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, tăng cường điều phối liên vùng, kiểm soát phát thải, quản lý chất thải, phát triển khu công nghiệp sinh thái và thành lập Trung tâm Điều phối môi trường vùng Thủ đô nhằm bảo đảm hiệu quả quản lý môi trường liên tỉnh, liên vùng.
Phát triển văn hóa – xã hội
Quy định về phát triển văn hóa, thể thao, du lịch (Điều 18) định hướng bảo vệ và phát triển văn hóa Thủ đô tương xứng với truyền thống nghìn năm Thăng Long – Hà Nội, xây dựng Hà Nội là trung tâm văn hóa tiêu biểu của cả nước và hình mẫu văn hóa người Hà Nội.
Trong đó HĐND Thành phố có thẩm quyền ban hành danh mục di sản, khu vực, công trình kiến trúc có giá trị; quyết định chính sách huy động nguồn lực xã hội hóa, chế độ chi ngân sách, cơ chế tôn vinh cá nhân tiêu biểu và phát triển công nghiệp văn hóa.
Giao UBND Thành phố quy định yêu cầu quản lý, bảo vệ, trùng tu, khai thác công trình kiến trúc có giá trị và thực hiện quản lý, cấp phép các hoạt động văn hóa, du lịch theo thẩm quyền.
Quy định về phát triển giáo dục, đào tạo (Điều 19) thể hiện định hướng xây dựng Thủ đô là trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao, có khả năng dẫn dắt đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Việc cho phép triển khai các mô hình giáo dục đa cấp, chất lượng cao, trường chuyên, liên kết giáo dục với nước ngoài cùng với phân cấp mạnh thẩm quyền quản lý, cấp phép, ban hành chương trình giáo dục đã tạo hành lang pháp lý linh hoạt, phù hợp với đặc thù đô thị lớn.
Các cơ chế này góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của Thủ đô trong bối cảnh cạnh tranh khu vực và toàn cầu.
Quy định về phát triển hệ thống y tế và an sinh xã hội (Điều 20) thể hiện mục tiêu xây dựng hệ thống y tế Thủ đô hiện đại, tiên phong trong ứng dụng công nghệ cao, chuyển đổi số và đóng vai trò hạt nhân của vùng Thủ đô.
Việc phân cấp thẩm quyền cho Thành phố trong phê duyệt kỹ thuật y tế, cấp phép hành nghề, quyết định giá dịch vụ y tế và chính sách hỗ trợ tài chính tạo điều kiện nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Đồng thời, cơ chế mở rộng chính sách an sinh xã hội, nâng mức thụ hưởng, ưu tiên nhóm yếu thế đã góp phần bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, tăng cường khả năng chống chịu và thích ứng của Thủ đô trước các rủi ro kinh tế – xã hội.
Phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Quy định chính sách chung phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Điều 21) định hướng phát triển Thủ đô trở thành trung tâm hàng đầu về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phân định thẩm quyền của HĐND Thành phố trong việc quy định mô hình tổ chức, quản lý nhiệm vụ, cơ chế chấp nhận rủi ro; giao UBND Thành phố thẩm quyền thành lập, quản lý tổ chức khoa học – công nghệ và thực hiện đăng ký, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp mang địa danh Thủ đô.
Điều 22 quy định chính sách đầu tư, hỗ trợ và khuyến khích phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Thủ đô theo cơ chế tài chính linh hoạt, lấy kết quả làm căn cứ phân bổ và quyết toán ngân sách.
Ngân sách Thành phố được sử dụng theo cơ chế quỹ, khoán chi toàn diện, chi theo nhiệm vụ, chương trình và kết quả đầu ra; sản phẩm, kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách được chuyển giao không bồi hoàn.
Bên cạnh đó quy định thành lập Quỹ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo của Thành phố từ ngân sách cấp hằng năm và các nguồn hợp pháp khác; đồng thời thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm có sử dụng ngân sách nhà nước, hoạt động theo nguyên tắc thị trường, chấp nhận rủi ro.
Về ưu đãi, quy định miễn thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với một số khoản thu nhập từ hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; cho phép doanh nghiệp trích tối đa 25% thu nhập tính thuế để lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ; miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 05 năm đối với doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo và tổ chức liên quan; áp dụng mức khấu trừ chi phí tối thiểu 200% khi xác định thu nhập chịu thuế đối với hoạt động đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Quy định cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Điều 23) đối với công nghệ, mô hình, sản phẩm, dịch vụ mới; giao HĐND Thành phố ban hành tiêu chí, phạm vi miễn áp dụng pháp luật, cơ chế kiểm soát và chính sách hỗ trợ; giao UBND Thành phố tổ chức, quản lý, cho phép và giám sát quá trình thử nghiệm, định kỳ báo cáo và kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Quy định chính sách phát triển các khu công nghệ cao trên địa bàn Thành phố (Điều 24); xác định Khu công nghệ cao Hòa Lạc là khu trọng điểm quốc gia và Thủ đô về nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm và đổi mới sáng tạo; cho phép áp dụng cơ chế đầu tư, đất đai, hạ tầng và chính sách đặc thù; xác lập vai trò của Ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp Thành phố trong tổ chức thực hiện.
Nguồn lực phát triển Thủ đô
Điều 25 quy định việc sử dụng nguồn tài chính, ngân sách của thành phố Hà Nội, theo đó: ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu cho ngân sách Thành phố toàn bộ số tăng thu ngân sách trung ương phát sinh trên địa bàn so với dự toán được giao, trên cơ sở tổng hợp các khoản thu, do Bộ Tài chính xác định hằng năm.
Dự toán chi ngân sách hằng năm của Thành phố được xác định theo định mức phân bổ cao hơn (1,5 lần) so với các địa phương khác.
Hội đồng nhân dân Thành phố được quyết định phương án vay trong nước và cơ chế vay lại vốn Chính phủ; quyết định việc giữ lại toàn bộ phần ngân sách trung ương được hưởng từ các khoản thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất thuộc thẩm quyền quản lý của Thành phố.
Các khoản thu từ giao dịch tín chỉ các-bon, giảm phát thải khí nhà kính sử dụng ngân sách Thành phố được hưởng 100% và không tính vào tỷ lệ phân chia ngân sách.
Hội đồng nhân dân Thành phố có thẩm quyền quyết định việc thành lập, tổ chức và cơ chế tài chính của các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; quyết định cơ cấu chi ngân sách, sử dụng ngân sách và các quỹ ngân sách cho đầu tư phát triển; quyết định hỗ trợ tài chính cho cơ quan trung ương, địa phương khác, hỗ trợ quốc tế và hỗ trợ giữa các đơn vị hành chính cấp xã trong các trường hợp cần thiết.
Ngoài ra, Hội đồng nhân dân Thành phố được quyết định sử dụng ngân sách cho các dự án liên kết vùng, công trình giao thông quan trọng đi qua địa bàn và ban hành chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách Thành phố cao hơn hoặc chưa được quy định tại văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.
Quy định thẩm quyền về đầu tư (Điều 26) đang có hai phương án:
+ Phương án 1: quy định phân cấp, phân quyền cho thành phố Hà Nội trong quyết định chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư đối với các dự án đầu tư công và dự án PPP sử dụng vốn ngân sách địa phương và các nguồn vốn hợp pháp khác, bao gồm cả vốn bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương; loại trừ các dự án nhà máy điện hạt nhân và dự án phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt thuộc thẩm quyền Quốc hội.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố được chấp thuận chủ trương đầu tư đối với các dự án thuộc thẩm quyền theo Luật Đầu tư, trừ một số lĩnh vực nhạy cảm.
Hội đồng nhân dân Thành phố ban hành quy định về tiêu chí phân loại dự án, thẩm quyền, trình tự, thủ tục đầu tư; cơ chế đầu tư công khẩn cấp và lệnh xây dựng khẩn cấp.
Trường hợp cần áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt khác với quy định hiện hành, Hội đồng nhân dân Thành phố trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho phép và báo cáo Quốc hội.
+ Phương án 2: xác định thẩm quyền của Hội đồng nhân dân Thành phố trong việc quyết định chủ trương đầu tư đối với các dự án đầu tư công và dự án PPP theo pháp luật về đầu tư công, PPP và các dự án quan trọng theo Luật; Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố chấp thuận chủ trương đầu tư đối với các dự án đầu tư theo Luật Đầu tư, trừ các dự án thuộc lĩnh vực, ngành nghề đặc biệt. Hội đồng nhân dân Thành phố quy định thống nhất nội dung, hồ sơ, tiêu chí, trình tự, thủ tục đầu tư và điều chỉnh chủ trương đầu tư.
Các dự án cấp bách về giao thông, môi trường, trật tự đô thị được áp dụng cơ chế đầu tư công và xây dựng khẩn cấp; việc lựa chọn nhà đầu tư, nhà thầu đối với dự án quan trọng được áp dụng hình thức đặc biệt theo quy định của Hội đồng nhân dân Thành phố.
- Quy định quản lý, sử dụng và khai thác tài sản công, tài sản kết cấu hạ tầng (Điều 27) nhằm khai thác hiệu quả nguồn lực từ tài sản công và tài sản kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư.
Thành phố được ban hành cơ chế đặc thù về quản lý, sử dụng, khai thác tài sản công, đẩy mạnh xã hội hóa và hợp tác công – tư, gắn với yêu cầu công khai, minh bạch, tiết kiệm, chống lãng phí. Qua đó, tài sản công không chỉ được bảo toàn mà còn trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển.
- Quy định quản lý, bảo vệ, sử dụng tài nguyên (Điều 28) nhằm thiết lập khung chính sách đặc thù về quản lý, sử dụng đất đai và tài nguyên theo hướng linh hoạt nhưng chặt chẽ, phù hợp với yêu cầu phát triển đô thị đặc biệt của Thủ đô.
Quy định cho phép Thành phố chủ động hơn trong phát triển quỹ đất, chỉnh trang và tái thiết đô thị, khai thác bãi sông, đất nông nghiệp gắn với sinh thái và du lịch; đồng thời bảo đảm quản lý, bảo vệ rừng và mở rộng không gian xanh, hướng tới phát triển bền vững.
Đặc biệt, bổ sung quy định trên bãi sông được phép tồn tại khu vực dân cư hiện hữu và xây dựng mới công trình, nhà ở với tỷ lệ phù hợp theo quy hoạch phòng, chống lũ và quy hoạch liên quan; các khu vực bãi sông, bãi nổi còn lại chỉ được xây dựng công trình phục vụ không gian công cộng, mục đích công cộng, bảo đảm không tôn cao địa hình, không làm cản trở dòng chảy.
- Quy định thu hút, trọng dụng người có tài năng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao (Điều 29) nhằm tạo cơ chế đột phá trong thu hút, sử dụng và đãi ngộ nhân lực chất lượng cao cho Thủ đô.
Thành phố được áp dụng các hình thức tuyển dụng, sử dụng nhân tài linh hoạt; ban hành chính sách đãi ngộ cạnh tranh và hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài nước.
Quy định này góp phần xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu quản trị và phát triển Thủ đô trong giai đoạn mới.
- Quy định thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, kinh doanh (Điều 30) đã kế thừa và phát triển các chính sách ưu đãi đầu tư của Luật Thủ đô 2024, đồng thời quy định thẩm quyền của Hội đồng nhân dân Thành phố trong xác định ngành, nghề ưu tiên, nhà đầu tư chiến lược, danh mục dự án được hưởng ưu đãi; ban hành các chính sách miễn, giảm tiền thuê đất, ưu đãi thuế, hỗ trợ lãi suất và các hỗ trợ khác; quy định trách nhiệm hoàn trả ưu đãi khi nhà đầu tư không thực hiện đúng cam kết; giao Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân, doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Vùng Thủ đô
Chương VII về Vùng Thủ đô quy định Thủ đô Hà Nội là hạt nhân, đô thị trung tâm và cực tăng trưởng của Vùng Thủ đô; xác lập định hướng ưu tiên đầu tư hạ tầng kết nối và thúc đẩy liên kết phát triển kinh tế – xã hội giữa Hà Nội và các địa phương trong vùng.
Điều 32 tập trung vào yêu cầu liên kết trong quy hoạch và đầu tư phát triển, bảo đảm kết nối hạ tầng giao thông và hạ tầng dùng chung; phối hợp quản lý môi trường, tài nguyên nước; phát triển các chuỗi sản xuất, cung ứng dịch vụ liên vùng trong các lĩnh vực trọng điểm; quy định nguyên tắc liên kết, phát triển vùng trên cơ sở tuân thủ pháp luật, bảo đảm đồng thuận, công khai, minh bạch; thực hiện thông qua các chương trình, dự án liên kết vùng và cơ chế điều phối phát triển Vùng Thủ đô thống nhất.
Đồng thời, xác lập cơ chế đầu tư, quản lý các dự án liên kết vùng (Điều 33); ưu tiên bố trí ngân sách trung ương, ngân sách địa phương; cho phép hỗ trợ, đầu tư chéo giữa các địa phương; thành lập Quỹ Phát triển Vùng Thủ đô để đầu tư các dự án hạ tầng, môi trường mang tính liên vùng, gắn với trách nhiệm chia sẻ chi phí và nghĩa vụ của các địa phương hưởng lợi.
Giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình
Chương VIII quy định về giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình nhằm thiết lập cơ chế kiểm soát quyền lực đồng bộ, chặt chẽ trong quá trình thực hiện Luật Thủ đô; bảo đảm việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù đúng thẩm quyền, đúng mục tiêu, minh bạch, hiệu quả và phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc.
Điều khoản chuyển tiếp
Quy định về điều khoản chuyển tiếp nhằm bảo đảm tính liên tục, ổn định và không gián đoạn trong quản lý, điều hành và thực hiện các cơ chế, chính sách phát triển Thủ đô khi Luật này có hiệu lực thi hành.
Theo đó, các cơ chế, chính sách đặc thù đã được ban hành trước đây tiếp tục được thực hiện cho đến khi có văn bản thay thế phù hợp với Luật mới.
Đồng thời, các chương trình, dự án, đề án và các cơ chế thí điểm, thử nghiệm đã được phê duyệt trước thời điểm Luật có hiệu lực được tiếp tục triển khai theo quyết định đã ban hành hoặc được điều chỉnh, áp dụng theo quy định của Luật này, nhằm bảo đảm tính kế thừa, đồng bộ và hiệu quả trong quá trình tổ chức thi hành Luật.
Nội dung bổ sung trong dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi)
Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) bổ sung quy định về nguyên tắc phân quyền cho chính quyền Thủ đô (Điều 4) nhằm thể chế hóa chủ trương phân quyền, phân cấp mạnh mẽ cho thành phố Hà Nội, đáp ứng yêu cầu đổi mới tư duy quản lý, tăng cường phân cấp, phân quyền tối đa theo phương châm "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm".
Thực hiện phân quyền tối đa, toàn diện, đồng thời phân định rõ thẩm quyền giữa Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân; tăng thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, trừ các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại, tôn giáo, dân tộc và lĩnh vực khác liên quan trực tiếp đến chủ quyền, lợi ích quốc gia theo quy định của pháp luật.
Quy định về thí điểm cơ chế, chính sách (Điều 9) xác lập khuôn khổ pháp lý cho việc thử nghiệm các mô hình, giải pháp quản lý và phát triển mới nhằm phục vụ xây dựng, phát triển Thủ đô và vùng Thủ đô.
Việc thí điểm phải bảo đảm tính hợp hiến, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đồng thời không phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Các lĩnh vực ưu tiên thí điểm bao gồm tổ chức chính quyền, mô hình đô thị và quản trị hiện đại; phát triển kinh tế, văn hóa dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; quản lý không gian, phát triển bền vững; huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực đặc thù; liên kết, điều phối phát triển Vùng Thủ đô và các lĩnh vực khác do HĐND Thành phố quyết định.
Phạm vi thí điểm được triển khai trên địa bàn Thành phố và vùng Thủ đô, ưu tiên tại các khu vực động lực phát triển theo quy hoạch.
Quy định về quản trị Thủ đô (Điều 10) xác lập thẩm quyền của UBND Thành phố trong việc quyết định và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách, biện pháp quản trị hiện đại nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên địa bàn.
Theo đó, UBND Thành phố được áp dụng các phương thức quản trị tiên tiến dựa trên dữ liệu số, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, đồng thời quy định về an toàn, quản lý rủi ro, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động quản lý nhà nước và cơ chế chia sẻ dữ liệu ẩn danh phục vụ quản lý.
Bên cạnh đó, UBND Thành phố được quyết định điều chỉnh trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo hướng cải cách hành chính, bảo đảm giảm thủ tục, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, không phát sinh thêm yêu cầu, điều kiện và thời gian giải quyết thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và bảo đảm liên thông, thống nhất giữa cơ sở dữ liệu của Trung ương và Thành phố.
Đồng thời, Thành phố được quy định các cơ chế phát huy dân chủ ở cơ sở, huy động sự tham gia của người dân và áp dụng các cơ chế phù hợp nhằm tăng cường vai trò tự quản của thôn, tổ dân phố trong quản trị địa phương.
Quy định về phát triển khu thương mại tự do và các loại hình kinh tế mới (Điều 31) tạo cơ sở pháp lý cho việc hình thành khu thương mại tự do và phát triển các mô hình kinh tế mới tại Thủ đô.
Quy định việc thành lập khu thương mại tự do của Thủ đô do Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định sau khi được Hội đồng nhân dân Thành phố phê duyệt; giao Thành phố quy định cơ chế tổ chức, hoạt động của khu thương mại tự do.
Đồng thời cho phép Hội đồng nhân dân Thành phố quy định cơ chế, chính sách quản lý, hỗ trợ phát triển các loại hình kinh tế mới như kinh tế ban đêm, kinh tế bạc, kinh tế không gian tầm thấp và các mô hình kinh tế mới khác, nhằm đa dạng hóa động lực tăng trưởng và nâng cao sức cạnh tranh của Thủ đô.
Dự thảo Luật bổ sung quy định về cơ chế miễn trừ, loại trừ trách nhiệm pháp lý (Điều 40) có điều kiện đối với người thực thi công vụ khi thực hiện đúng quy trình, vì lợi ích chung và trong bối cảnh thí điểm, thử nghiệm chính sách mới, nhằm khuyến khích đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, đồng thời vẫn bảo đảm kiểm soát quyền lực và phòng ngừa vi phạm.
Kế thừa quy định về danh hiệu Công dân danh dự Thủ đô tại Điều 7 Luật Thủ đô năm 2024, bổ sung quy định về công dân ưu tú Thủ đô (khoản b khoản 3 Điều 18 dự thảo Luật), trong HĐND Thành phố có thẩm quyền quy định về điều kiện, thủ tục tặng, thu hồi hai danh hiệu này.
Nội dung cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính
Dự thảo Luật Thủ đô (sửa đổi) đã mở rộng đáng kể thẩm quyền của chính quyền Thủ đô trong việc tự chủ cải cách hành chính.
Cụ thể: Nhằm tạo sự chủ động cho Thành phố Hà Nội trong việc cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, phù hợp với thực tiễn và yêu cầu phát triển của Thủ đô, dự thảo Luật giao thẩm quyền cho UBND Thành phố được thay đổi trình tự, thủ tục, thẩm quyền đang được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức hành chính thuộc Thành phố, bảo đảm yêu cầu về cải cách hành chính theo hướng giảm thủ tục hành chính, không quy định thêm thành phần hồ sơ, không tăng thêm yêu cầu, điều kiện, thời gian giải quyết thủ tục đang áp dụng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số.
Đồng thời, Thành phố vẫn phải bảo đảm yêu cầu liên thông, thống nhất với các cơ sở dữ liệu của Trung ương và của Thành phố sử dụng trong giải quyết TTHC (Điều 13).
Quy định thử nghiệm có kiểm soát (Điều 23) đã có quy định chi tiết hơn về việc miễn áp dụng các quy định của pháp luật đối với các dự án thử nghiệm có kiểm soát.
Điều này cho phép các doanh nghiệp công nghệ mới được hoạt động mà không bị ràng buộc bởi các thủ tục hành chính hiện hành chưa phù hợp với tính chất của công nghệ mới.
Nội dung phân quyền, phân cấp
Dự thảo Luật đã thể chế hoá chủ trương phân quyền, phân cấp triệt để cho chính quyền Thủ đô, có sự phát triển mạnh mẽ, chuyển từ việc quy định các cơ chế thực thi cụ thể sang xác lập một hệ thống nguyên tắc phân quyền toàn diện và tăng cường tính tự chủ tối đa cho chính quyền Thủ đô; cụ thể:
Bổ sung một điều riêng biệt về Nguyên tắc phân quyền (Điều 4), quy định này yêu cầu phân định rõ thẩm quyền giữa HĐND, UBND và Chủ tịch UBND.
Đặc biệt, dự thảo Luật xác định rõ các lĩnh vực Thủ đô được quyền tự chủ (kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục...) và các lĩnh vực không thực hiện phân quyền bao gồm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và tôn giáo.
Mở rộng thẩm quyền ban hành VBQPPL (Điều 8), quy định HĐND Thành phố có thẩm quyền ban hành quy định mới hoặc khác với quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ và cơ quan ngang Bộ để thực hiện thẩm quyền của chính quyền địa phương trong việc xây dựng và phát triển Thủ đô.
Tự chủ trong quản lý tổ chức bộ máy và biên chế (Điều 7), quy định HĐND Thành phố được trao quyền quyết định tổng số người làm việc theo vị trí việc làm tại các cơ quan, đơn vị thuộc Thành phố.
Đặc biệt, bổ sung quyền thí điểm chế độ công chức hợp đồng và cho phép người trực tiếp sử dụng công chức thực hiện việc tuyển dụng, bổ nhiệm và đánh giá.
Phân quyền trong quản trị hành chính và thí điểm chính sách (Điều 9), dự thảo Luật đã phân quyền hoàn toàn mới cho phép Thành phố chủ động xây dựng và phê duyệt các Đề án thí điểm cơ chế, chính sách chưa có trong luật hoặc khác với luật hiện hành để xử lý các "điểm nghẽn" thể chế.
Những nội dung ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số: Dự thảo Luật đã đẩy mạnh việc quản trị dựa trên dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo.
Theo Nghị quyết số 119/2026/UBTVQH15 ngày 06/02/2026 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Chương trình lập pháp năm 2026, dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI (tháng 4/2026).
Chúng tôi luôn Lắng nghe và phản hồi
