Đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định quy định tổ chức, hoạt động và quản lý hội

23/06/2026 15:21

(Chinhphu.vn) - Bộ Nội vụ đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung trong dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 126/2024/NĐ-CP về tổ chức, hoạt động và quản lý hội.

Đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định quy định tổ chức, hoạt động và quản lý hội

Bố cục của dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội

Bộ Tư pháp đang thẩm định dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 126/2024/NĐ-CP ngày 08/10/2024 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động và quản lý hội do Bộ Nội vụ chủ trì soạn thảo.

Theo dự thảo tờ trình của Bộ Nội vụ, dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 126/2024/NĐ-CP ngày 08/10/2024 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động và quản lý hội gồm 03 Điều, cụ thể:

Điều 1: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 126/2024/NĐ-CP, gồm 23 khoản;

Điều 2. Hiệu lực thi hành;

Điều 3: Trách nhiệm thi hành.

Nội dung chính của dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội

Nội dung bổ sung:

Dự thảo bổ sung quy định "Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, hợp pháp của thông tin, tài liệu cung cấp trong hồ sơ đề nghị thành lập hội; Trưởng ban vận động chịu trách nhiệm chung, thành viên Ban vận động chịu trách nhiệm đối với thông tin, tài liệu do mình cung cấp theo hồ sơ thành lập hội theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định này" đối với việc Ban vận động thành lập hội nhằm quy định ban vận động phải chịu tính chính xác về các thông tin, tài liệu khi nộp cho cơ quan nhà nước góp phần giúp các cơ quan quản lý nhà nước giải quyết hồ sơ được đảm bảo thời gian; trong đó phân định rõ trách nhiệm của Trưởng ban và các thành viên.

Bổ sung quy định "Đối với các hội đang trong quá trình xem xét, xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì việc cho phép tổ chức đại hội phải chờ kết quả giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thời gian này không tính vào thời gian gia hạn tổ chức đại hội theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 19" nhằm giải quyết phát sinh thực tiễn trong công tác quản lý nhà nước khi các hội đang mâu thuẫn chưa giải quyết xong.

Bổ sung quy định "Không thực hiện hoạt động nhận tiền gửi, cho vay" để phòng tránh các hội trở thành tổ chức tín dụng.

Bổ sung các quy định về đình chỉ có thời hạn nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về hội và giải quyết các phát sinh thực tiễn trong quá trình quản lý để có căn cứ xử lý khi các hội đang mâu thuẫn chưa giải quyết xong.

Bổ sung quy định "Bộ Nội vụ giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hội hoạt động trong phạm vi toàn quốc hoặc liên tỉnh", nội dung này bám sát dự thảo sửa đổi Quyết định số 118-QĐ/TW.

Bổ sung Phụ lục danh sách các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều lệ; do theo Kết luận số 102-KL/TW của Bộ Chính trị giao Thủ tướng phê duyệt hội có đảng đoàn, hiện nay đã bỏ cụm từ "có đảng đoàn" để phù hợp với tổ chức đảng.

Tờ trình của Bộ Nội vụ cũng cho biết, thực tiễn có Hiệp hội Các nhà sản xuất ô tô Việt Nam, Hiệp hội Các nhà sản xuất xe máy Việt Nam từ khi thành lập và hoạt động đến nay chủ tịch hội luôn là người nước ngoài. 2 hội này và Bộ Công Thương đề nghị xem xét, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 7 Điều 22 Nghị định số 126/2024/NĐ-CP để phù hợp với thực tiễn hoạt động của các hội, hiệp hội, trong đó có trường hợp Chủ tịch hội, hiệp hội là người nước ngoài.

Liên quan vấn đề này, Bộ Nội vụ nhận được văn bản số 5429/VPCP-TCCV ngày 10/6/2026 chuyển nội dung nêu trên để nghiên cứu trong quá trình xây dựng, hoàn thiện dự thảo Nghị định sửa đổi Nghị định số 126/2024/NĐ-CP.

Theo đó, Bộ Nội vụ đề xuất sửa tiêu chuẩn của chủ tịch hội tại Điều 22 Nghị định số 126/2024/NĐ-CP như sau "Có quốc tịch Việt Nam; trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định" nhằm tạo điều kiện cho một số hiệp hội nêu trên hoạt động và phù hợp với việc hội nhập quốc tế sâu rộng mà Việt Nam là thành viên.

Dự thảo cũng bổ sung một số quy định trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với nhóm hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ như: đầu mối chủ trì để trình cấp có thẩm quyền xác định hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ; phê duyệt chương trình công tác hàng năm; có ý kiến về kinh phí ngân sách nhà nước giao cho hội theo nhiệm vụ được giao; việc đổi tên, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể và việc hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ chính sách, công tác cán bộ; quản lý tài chính, tài sản, đầu tư của các hội, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật.

Bổ sung trách nhiệm chung của các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc phối hợp trong việc quản lý hoạt động hợp tác quốc tế, tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế, ký kết thỏa thuận quốc tế và tiếp nhận viện trợ nước ngoài của hội theo quy định của pháp luật để nhằm thể chế Quyết định số 392-QĐ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại và phù hợp với Quyết định số 30/2026/QĐ-TTg ngày 09/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức và quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam.

Bổ sung nguyên tắc trong trường hợp Chủ tịch hội không thực hiện triệu tập họp ban chấp hành, ban thường vụ khi có đề nghị của ban chấp hành, ban thường vụ theo quy định tại điều lệ nhằm giải quyết thực tiễn khi các hội phát sinh mâu thuẫn; làm căn cứ cho các cơ quan nhà nước giải quyết.

Nội dung sửa đổi gồm:

Thẩm quyền giải quyết các thủ tục; trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hội hoạt động trong phạm vi tỉnh, xã để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hiện nay.

Quy định cơ sở dữ liệu về hội, việc quản lý, khai thác, cung cấp thông tin cơ sở dữ liệu về hội tại khoản 1, khoản 4 Điều 9.

Điều kiện thành lập hội hoạt động trong phạm vi tỉnh, xã khi thực hiện sáp nhập tỉnh, xã và không còn hội hoạt động trong phạm vi huyện. Điều kiện thành lập một số hội hoạt động trong lĩnh vực chuyên sâu mà không đủ số lượng hội viên theo quy định nhưng việc thành lập là cần thiết để phục vụ yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế xã hội hoặc phù hợp với điều lệ, thông lệ quốc tế mà Việt Nam là thành viên tham gia, ví dụ như các hội thể thao (nội dung này do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề xuất từ phát sinh thực tiễn).

Sửa đổi một số quy định về tổ chức, hoạt động để tăng cường công tác quản lý nhà nước về hội và nhằm giải quyết các vướng mắc trong quá trình quản lý, thực hiện Nghị định số 126/2024/NĐ-CP; cũng như việc thay đổi cách quản lý, báo cáo đối với nhóm hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ để phù hợp với quy định trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Đề xuất 2 phương án công nhận hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ

Về việc công nhận hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, Bộ Nội vụ bám sát Kết luận số 230-KL/TW, quá trình sửa đổi Quyết định số 118-QĐ/TW, Nghị định số 126/2024/NĐ-CP và kiến nghị của một số địa phương góp ý để dự kiến 02 phương án như sau:

Phương án 1:

"1. Việc xác định hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ hoạt động trong phạm vi toàn quốc do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, phối hợp với cơ quan liên quan trình cấp có thẩm xem xét, quyết định.

2. Việc xác định hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm hoạt động trong phạm vi tỉnh, xã do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với cơ quan liên quan trình cấp có thẩm ở tỉnh xem xét, quyết định".

Phương án 2:

"2. Hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ hoạt động trong phạm vi tỉnh, xã do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định sau khi có ý kiến của cấp có thẩm quyền ở tỉnh trên cơ sở các hội đã được giao biên chế, cấp hoặc hỗ trợ về kinh phí, điều kiện hoạt động, được cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ thường xuyên, phù hợp với quy định của Đảng và điều kiện, yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của địa phương, ưu tiên các hội trong danh sách các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ hoạt động trong phạm vi toàn quốc".

Về vấn đề này, Bộ Nội vụ đề xuất chọn phương án 1 để nhằm cụ thể chủ thể chủ trì, cũng như rõ phân cấp, phân quyền và phù hợp với việc các hội này trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Thực tiễn, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã chủ trì, tham mưu trình Bộ Chính trị xác định các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương và giao cấp ủy địa phương quyết định danh sách hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở địa phương theo Kết luận số 230-KL/TW.

Hiện nay, các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; theo dự thảo Quyết định sửa đổi Quyết định số 118-QĐ/TW và ý kiến góp ý của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nên phải sửa quy định về phê duyệt nhiệm vụ và việc lập dự toán kinh phí ngân sách hỗ trợ cho hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ, như sau:

"a) Đối với nhiệm vụ trong chương trình, kế hoạch hoạt động hằng năm của hội đã có ý kiến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong đó xác định rõ nhiệm vụ được ngân sách nhà nước hỗ trợ (chi tiết số lượng, khối lượng nhiệm vụ), hội lập dự toán gửi Bộ Tài chính theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật có liên quan.

b) Đối với nhiệm vụ do cấp có thẩm quyền giao cho hội nhưng chưa có trong chương trình, kế hoạch hoạt động hằng năm, trường hợp cấp có thẩm quyền đã giao chi tiết số lượng, khối lượng nhiệm vụ phần ngân sách nhà nước hỗ trợ, hội lập dự toán kinh phí xin ý kiến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trước khi gửi Bộ Tài chính. Trường hợp nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao chưa chi tiết số lượng, khối lượng nhiệm vụ phần ngân sách nhà nước hỗ trợ, hội xây dựng đề án hoặc kế hoạch triển khai (trong đó nêu chi tiết số lượng, khối lượng nhiệm vụ phần ngân sách nhà nước hỗ trợ) gửi lấy ý kiến cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực hoạt động chính, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan đến nhiệm vụ được giao (thời hạn trả lời không quá 15 ngày làm việc). Sau khi có ý kiến của các cơ quan, hội tiếp thu, hoàn thiện trình Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xem xét.

Căn cứ ý kiến của cấp có thẩm quyền giao nhiệm vụ và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hội lập dự toán gửi Bộ Tài chính theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật có liên quan".

Đề xuất sửa đổi về quy định chế độ thù lao

Về quy định chế độ thù lao, Bộ Nội vụ cho biết, Quyết định số 118-QĐ/TW chỉ quy định người nghỉ hưu giữ chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch chuyên trách tại hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ.

Quyết định số 30/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ chỉ áp dụng cho đối tượng là người đã nghỉ hưu giữ chức danh lãnh đạo đứng đầu tại các hội. Tuy nhiên, thực tế người làm việc tại các hội không chỉ là những người nghỉ hưu mà còn các đối tượng khác như người hết tuổi lao động nhưng không phải là người nghỉ hưu và người trong độ tuổi lao động, vì vậy, có sự so bì trong nội bộ hội.

Theo phản ánh của các hội và các cơ quan, đơn vị, do đặc điểm, tính chất tổ chức hội, người làm công tác hội, việc quy định chế độ thù lao này không phù hợp, gây bất hợp lý trong việc thực hiện chế độ, chính sách đối với người làm việc tại hội, vì cùng chức danh, cùng công việc thực hiện như nhau, nếu là người nghỉ hưu thì được hưởng chế độ thù lao; người không nghỉ hưu không được hưởng thù lao; đồng thời chỉ quy định cho người đứng đầu, không quy định cho các chức danh còn lại (người đã nghỉ hưu giữ chức danh lãnh đạo chuyên trách tại các hội vừa có lương hưu và lại được hưởng thêm chế độ thù lao, trong khi đó người không nghỉ hưu thì không được hưởng chế độ thù lao).

Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Nội vụ đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương và các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương tiến hành tổng kết đánh giá thực hiện chế độ thù lao quy định tại Quyết định số 30/2011/QĐ-TTg để báo cáo Thủ tướng Chính phủ (Báo cáo số 1404/BC-BNV ngày 16/4/2025).

Theo đó, tại dự thảo Nghị định Bộ Nội vụ đã đề xuất mở rộng đối tượng hưởng thù lao là người chưa nghỉ hưu được giữ chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch chuyên trách tại hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ. Qua quá trình lấy ý kiến một số địa phương và các hội thống nhất với nội dung này. Một số Bộ như Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính đề nghị làm rõ về căn cứ quy định mức thù lao hàng tháng đối với đối tượng này tại dự thảo Nghị định bảo đảm phù hợp với Quyết định số 118-QĐ/TW.

Về vấn đề này, Bộ Nội vụ báo cáo như sau: Qua rà soát Quyết định số 118-QĐ/TW cũng như dự thảo sửa đổi Quyết định số 118-QĐ/TW, Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương tiếp tục đề xuất giữ nguyên quy định cho hưởng thù lao đối với người đã nghỉ hưu.

Theo đó, Bộ Nội vụ đã bám sát tinh thần nêu trên để cụ thể hóa chế độ thù lao trên cơ sở tương thích với phụ cấp chức vụ tại Quy định số 368-QĐ/TW ngày 08/9/2025 của Bộ Chính trị về danh mục vị trí chức danh, nhóm chức danh, chức vụ lãnh đạo của hệ thống chính trị; bảng lương lãnh đạo hội tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP; Nghị định số 07/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 204/2004/NĐ-CP để cụ thể các mức hưởng thù lao đối với người đã nghỉ hưu giữ chức danh Chủ tịch Phó Chủ tịch chuyên trách nêu trên cho phù hợp tại dự thảo Nghị định như sau:

"4. Đối với người giữ chức danh chủ tịch, phó chủ tịch chuyên trách hội được hưởng chế độ thù lao, mức thù lao hàng tháng được quy định như sau:

a) Đối với hội hoạt động phạm vi toàn quốc hoặc liên tỉnh: Chủ tịch không quá 6,5 lần so với mức lương cơ sở; Phó Chủ tịch chuyên trách không quá 5,5 lần so với mức lương cơ sở;

b) Đối với hội hoạt động phạm vi tỉnh: thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh thì Chủ tịch không quá 5,4 lần so với mức lương cơ sở; Phó Chủ tịch không quá 4,4 lần so với mức lương cơ sở. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương còn lại thì Chủ tịch không quá 5,0 lần so với mức lương cơ sở; Phó Chủ tịch không quá 4,0 lần so với mức lương cơ sở;

c) Đối với hội hoạt động phạm vi xã: Chủ tịch không quá 1,5 lần so với mức lương cơ sở; Phó Chủ tịch không quá 1,0 lần so với mức lương cơ sở".

Dự thảo cũng đề xuất sửa đổi số lượng Phó Chủ tịch không chuyên trách tại hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ.

Cụ thể, theo dự thảo Quyết định sửa đổi Quyết định số 118-QĐ/TW thì 29 hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ hoạt động phạm vi toàn quốc quy định thống nhất số lượng được bố trí không quá 3 phó chủ tịch chuyên trách. Theo yêu cầu hoạt động, có thể bố trí một số phó chủ tịch không chuyên trách, số lượng do hội trình Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xem xét, quyết định.

Đối với hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở xã để phù hợp khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp (kết thúc hoạt động của hội do Đảng, Nhà nước ở huyện). Số lượng Phó Chủ tịch không chuyên trách hội ở xã bằng với số lượng Phó Chủ tịch không chuyên trách ở huyện trước, đảm bảo không tăng đối tượng.

Ngoài ra, dự thảo cũng đề xuất sửa đổi trách nhiệm của Bộ Ngoại giao; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Ủy ban nhân dân cấp xã cho phù hợp.

TOÀN VĂN: Dự thảo tờ trình Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 126/2024/NĐ-CP về tổ chức, hoạt động và quản lý hội

TOÀN VĂN: Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 126/2024/NĐ-CP về tổ chức, hoạt động và quản lý hội

Đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định quy định tổ chức, hoạt động và quản lý hội- Ảnh 1.

Đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định quy định tổ chức, hoạt động và quản lý hội- Ảnh 2.

Đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định quy định tổ chức, hoạt động và quản lý hội- Ảnh 3.

Đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định quy định tổ chức, hoạt động và quản lý hội- Ảnh 4.

Đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định quy định tổ chức, hoạt động và quản lý hội- Ảnh 5.

Đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định quy định tổ chức, hoạt động và quản lý hội- Ảnh 6.

Đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định quy định tổ chức, hoạt động và quản lý hội- Ảnh 7.

Đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định quy định tổ chức, hoạt động và quản lý hội- Ảnh 8.

Đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định quy định tổ chức, hoạt động và quản lý hội- Ảnh 9.

Đề xuất sửa đổi, bổ sung Nghị định quy định tổ chức, hoạt động và quản lý hội- Ảnh 10.

Phụ lục I

Danh sách hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ hoạt động trong phạm vi toàn quốc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều lệ 

(Kèm theo Nghị định số /2026/NĐ-CP ngày      tháng      năm 2026 của Chính phủ)

1. Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

2. Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam.

3. Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam.

4. Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.

5. Liên minh Hợp tác xã Việt Nam.

6. Hội Chữ thập đỏ Việt Nam.

7. Hội Nhà báo Việt Nam.

8. Hội Nhà văn Việt Nam.

9. Hội Luật gia Việt Nam.

10. Liên đoàn Luật sư Việt Nam.

TOÀN VĂN: Nghị định số 126/2024/NĐ-CP quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội

Nội dung này, đã nhận được 0 góp ý, hiến kế
Góp ý, hiến kế cho Chính phủ ngay tại đây
Đọc nhiều
ĐỀ THI, ĐÁP ÁN CÁC MÔN THI TỐT NGHIỆP THPT 2026; các mốc thời gian XÉT TUYỂN ĐẠI HỌC

ĐỀ THI, ĐÁP ÁN CÁC MÔN THI TỐT NGHIỆP THPT 2026; các mốc thời gian XÉT TUYỂN ĐẠI HỌC

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Đề thi, đáp án các môn thi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026. Những mốc thời gian cần nhớ trong kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng 2026.

TRA CỨU ĐIỂM THI, ĐIỂM CHUẨN VÀO LỚP 10 CỦA HÀ NỘI năm học 2026-2027

TRA CỨU ĐIỂM THI, ĐIỂM CHUẨN VÀO LỚP 10 CỦA HÀ NỘI năm học 2026-2027

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Thí sinh có thể TRA CỨU ĐIỂM THI, ĐIỂM CHUẨN TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 của Hà Nội năm học 2026-2027 trên Cổng TTĐT của Sở GDĐT Hà Nội (https://hanoi.edu.vn), Cổng tuyển sinh đầu cấp của thành phố (https://tsdaucap.hanoi.gov.vn).

TRA CỨU ĐIỂM THI, ĐIỂM CHUẨN TUYỂN SINH LỚP 10 TPHCM năm học 2026-2027

TRA CỨU ĐIỂM THI, ĐIỂM CHUẨN TUYỂN SINH LỚP 10 TPHCM năm học 2026-2027

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Học sinh TRA CỨU ĐIỂM THI TUYỂN SINH vào lớp 10 của TPHCM bằng cách đăng nhập vào hệ thống tuyển sinh của TPHCM. Sở GDĐT TPHCM đã công bố điểm chuẩn lớp 10 chuyên và tích hợp, dự kiến công bố điểm chuẩn lớp 10 thường vào ngày 26/6.

TRA CỨU ĐIỂM THI TỐT NGHIỆP; ĐÁP ÁN CÁC MÔN THI TỐT NGHIỆP THPT; CÁC MỐC THỜI GIAN TUYỂN SINH ĐẠI HỌC 2026

TRA CỨU ĐIỂM THI TỐT NGHIỆP; ĐÁP ÁN CÁC MÔN THI TỐT NGHIỆP THPT; CÁC MỐC THỜI GIAN TUYỂN SINH ĐẠI HỌC 2026

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Theo kế hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo, kết quả thi tốt nghiệp THPT năm nay sẽ được công bố vào 08.00 ngày 01/7/2026. Việc xét công nhận tốt nghiệp THPT hoàn thành chậm nhất ngày 03/7/2026.

Chi tiết 34 ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH

Chi tiết 34 ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Kể từ ngày 12/6/2025, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố. Trong đó có 19 tỉnh và 4 thành phố hình thành sau sắp xếp và 11 tỉnh, thành phố không thực hiện sắp xếp.

Chúng tôi luôn Lắng nghe và phản hồi Chúng tôi
luôn
Lắng nghe
và phản hồi