BỨC TRANH KINH TẾ QUÝ I/2026 VÀ NHỮNG VIỆC CẦN LÀM ĐỂ THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG CAO, BỀN VỮNG

05/04/2026 18:55

(Chinhphu.vn) - Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động, kinh tế Việt Nam vẫn giữ được đà phục hồi và duy trì các động lực tăng trưởng quan trọng là điểm sáng mang tính nền tảng. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động mạnh bởi xung đột địa chính trị và áp lực lạm phát quay trở lại, bức tranh kinh tế trong nước bắt đầu xuất hiện những thách thức mới đòi hỏi sự điều hành cần chủ động hơn, sâu sắc hơn. Nếu kiểm soát tốt áp lực lạm phát, giảm hiệu quả chi phí cho doanh nghiệp và củng cố năng lực nội sinh, kinh tế Việt Nam có thể tạo ra một chu kỳ tăng trưởng mới với chất lượng cao hơn trong những quý tới.

BỨC TRANH KINH TẾ QUÝ I/2026 VÀ NHỮNG VIỆC CẦN LÀM ĐỂ THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG CAO, BỀN VỮNG- Ảnh 1.

Bức tranh kinh tế quý I/2026: Phục hồi trên diện rộng và những thách thức mới

Quý I/2026, kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà phục hồi trên diện rộng khi sản xuất công nghiệp, đầu tư và thương mại hàng hóa quốc tế đều tăng trưởng tích cực. 

Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động mạnh bởi xung đột địa chính trị và áp lực lạm phát quay trở lại, bức tranh kinh tế trong nước bắt đầu xuất hiện những thách thức mới: chi phí sản xuất gia tăng, cầu tiêu dùng trong nước phục hồi chậm, cấu trúc thương mại lệch pha và mức độ phụ thuộc vào khu vực FDI ngày càng lớn. Phục hồi đang diễn ra, nhưng nền tảng và độ bền của các động lực tăng trưởng chưa được củng cố bền vững.

Cú sốc địa chính trị và áp lực lạm phát quay trở lại

Bước sang năm 2026, kinh tế thế giới đang trải qua những biến động mang tính cấu trúc. Trật tự kinh tế và chính trị toàn cầu theo truyền thống suy giảm; cạnh tranh địa chính trị, địa kinh tế gia tăng; nguy cơ bong bóng công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra các cú sốc lan tỏa tới đầu tư, thị trường vốn và tăng trưởng.

Kinh tế toàn cầu chưa kịp ổn định sau chu kỳ thắt chặt tiền tệ đã phải đối mặt với cú sốc mới từ xung đột tại Trung Đông. Việc gián đoạn các tuyến vận tải chiến lược và nguy cơ thu hẹp nguồn cung năng lượng đẩy giá dầu và chi phí logistics tăng mạnh, gây áp lực rất lớn lên thương mại toàn cầu, với dự báo khối lượng thương mại hàng hóa năm 2026 chỉ tăng 1,4%, giảm 3,2 điểm phần trăm so với năm 2025 làm dấy lên lo ngại về một cuộc khủng hoảng kinh tế sắp xảy ra.

Hệ quả đưa tới làn sóng lạm phát chi phí mới đang hình thành, làm gia tăng chi phí sản xuất toàn cầu và kéo dài tình trạng bất định của thị trường. 

Với nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, các cú sốc này truyền dẫn nhanh vào trong nước thông qua giá nhập khẩu, chi phí đầu vào và nhu cầu thị trường quốc tế. Biến động bên ngoài không chỉ làm tăng chi phí, mà còn làm suy yếu cả hai động lực tăng trưởng then chốt của kinh tế nước ta đó là xuất khẩu và tiêu dùng.

BỨC TRANH KINH TẾ QUÝ I/2026 VÀ NHỮNG VIỆC CẦN LÀM ĐỂ THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG CAO, BỀN VỮNG- Ảnh 2.

Kinh tế toàn cầu chưa kịp ổn định sau chu kỳ thắt chặt tiền tệ đã phải đối mặt với cú sốc mới từ xung đột tại Trung Đông.

Sản xuất mở rộng nhưng áp lực chi phí gia tăng

Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2026 tăng 9,0%, cao hơn mức 8,3% của cùng kỳ năm trước, sản xuất duy trì đà tăng trưởng, doanh nghiệp vẫn mở rộng hoạt động. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,7%, tiếp tục là trụ cột.

Tuy nhiên, diễn biến của Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 3 giảm xuống 51,2 điểm, phản ánh tốc độ mở rộng đang chậm lại. Chi phí đầu vào tăng nhanh nhất trong nhiều năm đã đẩy giá đầu ra tăng mạnh, làm suy yếu nhu cầu và niềm tin kinh doanh.

Cùng với đó, thời gian giao hàng kéo dài, dấu hiệu của đứt gãy chuỗi cung ứng tiếp tục gây áp lực lên hoạt động sản xuất. Chi phí tăng, cầu tiêu dùng phục hồi chậm đang bào mòn biên lợi nhuận và động lực sản xuất của doanh nghiệp. Sản xuất tăng về lượng, nhưng chịu sức ép ngày càng lớn về chi phí và thị trường.

BỨC TRANH KINH TẾ QUÝ I/2026 VÀ NHỮNG VIỆC CẦN LÀM ĐỂ THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG CAO, BỀN VỮNG- Ảnh 3.

Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2026 tăng 9,0%, sản xuất duy trì đà tăng trưởng, doanh nghiệp mở rộng hoạt động. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,7%, tiếp tục là trụ cột.

Dòng chảy doanh nghiệp cải thiện nhưng chất lượng chưa bền vững

Quý l/2026 ghi nhận sự gia tăng mạnh của doanh nghiệp gia nhập thị trường với 57,4 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và 38,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Bình quân một tháng có 32 nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường. Tuy nhiên, vốn bình quân một doanh nghiệp giảm, doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực dịch vụ chiếm tới 74,9%, cho thấy năng lực sản xuất mới chưa được cải thiện tương xứng.

Trong quý I/2026, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 91,8 nghìn doanh nghiệp. Bình quân một tháng có 30,6 nghìn doanh nghiệp rút khỏi thị trường.

Dòng chảy doanh nghiệp gia nhập và rút khỏi thị trường đã đảo chiều so với hai tháng đầu năm 2026. Niềm tin thị trường cải thiện. Tuy vậy chất lượng doanh nghiệp và năng lực sản xuất còn yếu. Doanh nghiệp đang quay trở lại, nhưng chưa đủ mạnh để dẫn dắt một chu kỳ tăng trưởng mới.

BỨC TRANH KINH TẾ QUÝ I/2026 VÀ NHỮNG VIỆC CẦN LÀM ĐỂ THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG CAO, BỀN VỮNG- Ảnh 4.

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu 3 tháng đầu năm 2026 đạt 249,5 tỷ USD, tăng 23%. Tuy nhiên, kim ngạch nhập khẩu tăng 27% cao hơn 7,9 điểm phần trăm so với xuất khẩu, khiến nền kinh tế nhập siêu 3,64 tỷ USD.

Thương mại hàng hóa quốc tế tăng cao nhưng mất cân đối gia tăng

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu 3 tháng đầu năm 2026 đạt 249,5 tỷ USD, tăng 23%. Tuy nhiên, kim ngạch nhập khẩu tăng 27% cao hơn 7,9 điểm phần trăm so với xuất khẩu, khiến nền kinh tế nhập siêu 3,64 tỷ USD.

Trong tổng kim ngạch xuất khẩu 122,93 tỷ USD, khu vực FDI chiếm 80,1%, tăng 33,3% so với cùng kỳ năm trước, trong khi khu vực trong nước giảm 16,6% và chỉ chiếm 19,9%.

Ở chiều nhập khẩu, tổng kim ngạch đạt 126,57 tỷ USD, khu vực FDI chiếm ưu thế, đạt 91,37 tỷ USD, tăng 45,3%; khu vực kinh tế trong nước đạt 35,2 tỷ USD, giảm 4,3%.

Bức tranh xuất, nhập khẩu hàng hóa phản ánh mô hình thương mại hàng hóa quốc tế phụ thuộc ngày càng lớn vào khu vực FDI. Khi khu vực FDI chi phối cả nhập khẩu và xuất khẩu, tăng trưởng thương mại hàng hóa quốc tế có thể cao nhưng giá trị giữ lại trong nền kinh tế và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế lại hạn chế.

Trong bối cảnh giá năng lượng và logistics tăng do xung đột Trung Đông, nhập khẩu tăng không chỉ phản ánh mở rộng sản xuất mà còn là hệ quả của chi phí toàn cầu leo thang. Nhập siêu trong bối cảnh chi phí toàn cầu tăng cao là kênh dẫn suất trực tiếp áp lực lạm phát vào nền kinh tế.

Cùng với đó, sự phụ thuộc ngày càng lớn vào khu vực FDI đưa tới nguy cơ nền kinh tế rơi vào "bẫy phụ thuộc" khu vực FDI. Khi đó, tăng trưởng phụ thuộc vào quyết định của các tập đoàn đa quốc gia thay vì năng lực nội tại của nền kinh tế. Đặc biệt, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu biến động, rủi ro này càng trở nên rõ nét.

Tiêu dùng phục hồi nhưng sức cầu còn yếu

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý I/2026 đạt 1.902,8 nghìn tỷ đồng, tăng 7,0% so với cùng kỳ năm trước. 

Mức tăng này phản ánh xu hướng phục hồi, nhưng vẫn thấp hơn 0,5 điểm phần trăm so với quý I/2025, cho thấy tổng cầu tiêu dùng trong nước phục hồi chưa thực sự vững chắc.

Đáng chú ý, mức tăng 7% diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đón 6,7 triệu lượt khách quốc tế - lực lượng hỗ trợ đáng kể cho tiêu dùng cuối cùng. Nếu loại trừ yếu tố này, sức mua trong nước còn phục hồi chậm hơn.

Trong khi đó, xu hướng giá cả gia tăng, đặc biệt là giá năng lượng và chi phí sinh hoạt đang bắt đầu tác động trực tiếp đến quyết định tiêu dùng của hộ gia đình, khiến người dân có xu hướng thắt chặt chi tiêu hơn. Động lực tăng trưởng từ tiêu dùng trong nước đang phục hồi nhưng chưa đủ mạnh để trở thành trụ đỡ, lại bắt đầu chịu sức ép từ mặt bằng giá tăng.

BỨC TRANH KINH TẾ QUÝ I/2026 VÀ NHỮNG VIỆC CẦN LÀM ĐỂ THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG CAO, BỀN VỮNG- Ảnh 7.

Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý I/2026 tăng 10,7%, cao hơn mức tăng của cùng kỳ năm trước.

Đầu tư tăng tốc nhưng hiệu ứng lan tỏa chưa như kỳ vọng

Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý I/2026 tăng 10,7%, cao hơn mức tăng của cùng kỳ năm trước.

Cụ thể, khu vực Nhà nước ước đạt 207,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 27,8% tổng vốn đầu tư, tăng 11,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó đầu tư công đạt 133,2 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1%, tương đương 14,5% kế hoạch năm.

Khu vực ngoài nhà nước đạt 402,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 54,1%, tăng 9,8%. Khu vực FDI đạt 135,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 18,1%, tăng 11,8%.

Đầu tư công tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt trong bối cảnh nền kinh tế cần kích thích tăng trưởng. Tuy nhiên, hiệu ứng lan tỏa của đầu tư công đang có xu hướng suy giảm. Cụ thể, 1 đồng vốn đầu tư công năm 2024 kéo theo 3,12 đồng vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước và 0,92 đồng vốn đầu tư của khu vực FDI, những số này của năm 2025 giảm xuống còn 2,63 và 0,80.

Khả năng hút vốn đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước và khu vực FDI của đầu tư công giảm dần phản ánh hiệu quả kết nối và lan tỏa giữa các khu vực đầu tư chưa thực sự được cải thiện.

Đầu tư tăng tốc nhưng nếu hiệu ứng lan tỏa không được cải thiện, vai trò dẫn dắt của đầu tư công sẽ khó phát huy đầy đủ là động lực tăng trưởng chủ yếu trong thực tế động lực tiêu dùng và xuất khẩu chưa lấy lại vị thế cân bằng của các nhóm động lực tăng trưởng truyền thống.

Áp lực lạm phát chi phí đẩy gia tăng, ràng buộc chính sách dần rõ nét

Diễn biến giá tiêu dùng trong quý I/2026 phản ánh áp lực lạm phát đang quay trở lại.

Chỉ số CPI tháng 3/2026 tăng 4,65% so với cùng kỳ năm trước - mức tăng tương đối cao, kéo CPI bình quân quý I/2026 tăng 3,51%.

Nguyên nhân chính đến từ giá xăng dầu trong nước tăng mạnh theo diễn biến giá thế giới, trong bối cảnh xung đột Trung Đông làm gián đoạn nguồn cung và đẩy chi phí năng lượng tăng cao. Cùng với đó, giá vật liệu xây dựng tăng do chi phí nguyên vật liệu và vận chuyển gia tăng đã lan tỏa sang nhiều lĩnh vực sản xuất.

Điều đáng lưu ý là áp lực lạm phát hiện nay mang tính chi phí đẩy rõ rệt. Trong khi tổng cầu tiêu dùng chưa phục hồi mạnh, giá cả vẫn tăng do chi phí đầu vào tăng nhanh. Điều này sẽ gây bất lợi và khó trong điều hành, bởi các công cụ kiểm soát tổng cầu không xử lý được gốc rễ của áp lực tăng giá.

Bên cạnh yếu tố thị trường, áp lực lạm phát trong thời gian tới còn đến từ yếu tố chính sách. Việc điều chỉnh giá các dịch vụ cơ bản theo lộ trình như giá điện, dịch vụ y tế, giáo dục cùng với tăng lương cơ bản sẽ góp phần cải thiện thu nhập nhưng đồng thời cũng tạo áp lực gia tăng mặt bằng giá.

Đặc biệt, nguy cơ hình thành vòng xoáy chi phí - giá cả - kỳ vọng lạm phát đang xuất hiện khi doanh nghiệp buộc phải tăng giá bán để bù đắp chi phí, kỳ vọng lạm phát của thị trường có thể bị đẩy lên, làm giảm hiệu quả điều hành chính sách kiểm soát lạm phát.

Nếu đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu cùng với chi phí logistics gia tăng, lạm phát sẽ chuyển từ trạng thái kiểm soát sang trạng thái gây áp lực, đưa đến nguy cơ cản trở việc thực thi chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong các quý tới.

BỨC TRANH KINH TẾ QUÝ I/2026 VÀ NHỮNG VIỆC CẦN LÀM ĐỂ THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG CAO, BỀN VỮNG- Ảnh 18.

Bức tranh kinh tế quý I/2026 phản ánh sự đan xen rõ nét giữa các yếu tố tích cực như: Sản xuất, đầu tư, thương mại tiếp tục tăng trưởng; doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng mạnh; dòng vồn FDI duy trì tích cực.

Cùng với đó một số rủi ro của nền kinh tế cũng bộc lộ: Áp lực chi phí và lạm phát gia tăng; tổng cầu tiêu dùng trong nước phục hồi chậm; nhập siêu quay trở lại; phụ thuộc vào khu vực FDI ngày càng lớn; hiệu ứng lan tỏa của đầu tư công suy giảm.

Tăng trưởng kinh tế đang phục hồi theo chiều rộng, nhưng các ràng buộc về cấu trúc phát triển, đặc biệt là áp lực lạm phát và động lực tăng trưởng dựa vào xuất khẩu phụ thuộc quá lớn vào khu vực FDI đang dần thu hẹp dư địa phát triển.

BỨC TRANH KINH TẾ QUÝ I/2026 VÀ NHỮNG VIỆC CẦN LÀM ĐỂ THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG CAO, BỀN VỮNG- Ảnh 19.

Cần làm gì để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng cao, bền vững?

Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, xung đột địa chính trị gia tăng, áp lực lạm phát và gián đoạn chuỗi cung ứng có thể kéo dài, trong điều hành vĩ mô cần tập trung giữ vững ổn định để tạo nền tảng cho tăng trưởng, giảm chi phí để hỗ trợ doanh nghiệp và củng cố năng lực nội sinh để bảo đảm phát triển nhanh, bền vững trong một môi trường kinh tế toàn cầu nhiều biến động.

Các chính sách và giải pháp trong thời gian tới cần tập trung vào một số nhóm trọng tâm sau:

Một là, giảm chi phí và củng cố nội lực của nền kinh tế. Xác định mục tiêu xuyên suốt và đặt ở vị trí ưu tiên là giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, nhằm đảm bảo dư địa điều hành để phấn đấu đạt mức tăng trưởng cao nhất có thể trong năm 2026.

Việc điều hành chính sách cần được thực hiện theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ và phản ứng kịp thời trước các biến động bên ngoài. Chính sách tiền tệ cần được điều hành thận trọng, linh hoạt, gắn với mục tiêu kiểm soát lạm phát. Chính sách tài khóa cần phát huy vai trò hỗ trợ tăng trưởng, tập trung vào giảm chi phí và thúc đẩy tổng cầu.

Hai là, giảm chi phí cho doanh nghiệp cần trở thành giải pháp trọng tâm, thông qua giảm thuế, phí, chi phí logistic và chi phí vốn. Trong bối cảnh lạm phát chi phí đẩy, giảm chi phí sản xuất quan trọng hơn kích cầu tiêu dùng. Theo đó, cần tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, cắt giảm chi phí tuân thủ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, nhằm nâng cao năng lực sản xuất và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Ba là, đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả đầu tư công, bảo đảm vai trò dẫn dắt, nâng cao khả năng lan tỏa, qua đó kích thích đầu tư của khu vực ngoài nhà nước, thu hút hiệu quả dòng vốn FDI.

Bốn là, phát triển doanh nghiệp trong nước, giảm phụ thuộc vào khu vực FDI.

Năm là, trong bối cảnh tổng cầu còn hạn chế, cần triển khai các biện pháp kích thích tiêu dùng trong nước có chọn lọc, hợp lý, bền vững, gắn với ổn định thu nhập và kiểm soát giá cả, góp phần củng cố một trong những trụ cột quan trọng của tăng trưởng.

Trong dài hạn, yêu cầu cấp thiết là củng cố năng lực nội sinh của nền kinh tế, phát triển mạnh khu vực doanh nghiệp trong nước, giảm dần sự phụ thuộc vào các động lực bên ngoài, nâng cao tính tự chủ và khả năng chống chịu trước các cú sốc toàn cầu.

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động, kinh tế Việt Nam vẫn giữ được đà phục hồi và duy trì các động lực tăng trưởng quan trọng là điểm sáng mang tính nền tảng đáng ghi nhận. Tuy nhiên, những ràng buộc về chi phí, lạm phát và cấu trúc cũng đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển sang một giai đoạn điều hành chủ động hơn, sâu sắc hơn. Với sự quyết liệt, linh hoạt của Chính phủ trong điều hành vĩ mô; sự đồng hành kịp thời của Quốc hội trong hoàn thiện thể chế và tháo gỡ các điểm nghẽn; cùng với tinh thần năng động, thích ứng và không ngừng đổi mới của cộng đồng doanh nghiệp, nền kinh tế có đủ điều kiện để vượt qua các thách thức và điều chỉnh, chuyển đổi các động lực tăng trưởng theo hướng bền vững hơn. Nếu kiểm soát tốt áp lực lạm phát, giảm hiệu quả chi phí cho doanh nghiệp và củng cố năng lực nội sinh, kinh tế Việt Nam có thể tạo ra một chu kỳ tăng trưởng mới với chất lượng cao hơn trong những quý tới./.

Nguyễn Bích Lâm

Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê

Nội dung này, đã nhận được 0 góp ý, hiến kế
Góp ý, hiến kế cho Chính phủ ngay tại đây
Đọc nhiều
Lịch nghỉ LỄ GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG, 30/4-1/5, NGHỈ QUỐC KHÁNH 2026

Lịch nghỉ LỄ GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG, 30/4-1/5, NGHỈ QUỐC KHÁNH 2026

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Chi tiết lịch nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, nghỉ lễ 30/4 - 1/5 và Quốc khánh 2/9 năm 2026.

DANH SÁCH BỘ CHÍNH TRỊ, BAN BÍ THƯ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIV

DANH SÁCH BỘ CHÍNH TRỊ, BAN BÍ THƯ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIV

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Sáng 23/1, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV tiến hành Hội nghị lần thứ nhất. Hội nghị đã bầu Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Ban Bí thư Trung ương khóa XIV.

DANH SÁCH ỦY VIÊN CHÍNH THỨC VÀ ỦY VIÊN DỰ KHUYẾT BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIV

DANH SÁCH ỦY VIÊN CHÍNH THỨC VÀ ỦY VIÊN DỰ KHUYẾT BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIV

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Chiều 22/1/2026, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã tiến hành bỏ phiếu bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Đại hội đã bầu ra 200 Ủy viên, trong đó có 180 Ủy viên chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết.

CHỈ ĐẠO MỚI NHẤT VỀ CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG, TIỀN THƯỞNG, CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC

CHỈ ĐẠO MỚI NHẤT VỀ CẢI CÁCH TIỀN LƯƠNG, TIỀN THƯỞNG, CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo cải cách chế độ tiền lương, tiền thưởng và đa dạng chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức, viên chức.

TOÀN VĂN: Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước

TOÀN VĂN: Nghị quyết 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước.

Chúng tôi luôn Lắng nghe và phản hồi Chúng tôi
luôn
Lắng nghe
và phản hồi