Vượt qua chính mình: Từ bẫy thu nhập trung bình đến năng lực phát triển mới

02/11/2026 15:05

(Chinhphu.vn) - Yêu cầu đặt ra trong thời điểm kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển đặc biệt đó là không chỉ tăng trưởng nhanh hơn, mà quan trọng là kiến tạo năng lực, chuyển hóa cơ hội phát triển thành sức mạnh quốc gia.

Vượt qua chính mình: Từ bẫy thu nhập trung bình đến năng lực phát triển mới - Ảnh 1.

Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn mới: Vượt qua chính mình để tạo ra năng lực phát triển mới

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển có ý nghĩa đặc biệt. Sau bốn thập kỷ đổi mới, từ một nền kinh tế nghèo, Việt Nam đã vươn lên nhóm nền kinh tế thu nhập trung bình cao. 

Mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu mới về chất, không chỉ tăng trưởng nhanh hơn mà phải tạo dựng những năng lực phát triển mới. Đây là chặng đường khó khăn hơn nhiều so với việc khai thác các lợi thế đã tạo nên thành công trong quá khứ.

Nền kinh tế có thể tiếp tục tăng trưởng nhưng vẫn có nguy cơ mắc kẹt nếu năng suất không tăng đủ nhanh, năng lực làm chủ công nghệ còn hạn chế, doanh nghiệp trong nước không đủ sức lớn lên, chất lượng nguồn nhân lực chưa được nâng cấp và thể chế, quản trị không theo kịp những thay đổi của thời đại. 

Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là làm thế nào để Việt Nam tăng trưởng nhanh hơn, mà quan trọng hơn là làm sao vượt qua những giới hạn của mô hình tăng trưởng đã tạo nên thành công trong các thập kỷ qua, kiến tạo năng lực cho những thập niên tới và chuyển hóa cơ hội phát triển thành sức mạnh quốc gia.

Tăng trưởng nhanh chưa đủ để trở thành quốc gia phát triển

Bốn thập kỷ đổi mới đã tạo nên những thay đổi có ý nghĩa lịch sử đối với kinh tế nước ta. Cải cách thể chế, mở cửa và hội nhập đã giải phóng nguồn lực, mở rộng không gian sản xuất, kinh doanh và thị trường; thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); thúc đẩy xuất khẩu, đưa Việt Nam tham gia ngày càng sâu vào các chuỗi sản xuất toàn cầu. Những thành quả đó tạo nền tảng quan trọng cho bước phát triển tiếp theo.

Nhưng khi nền kinh tế bước sang trình độ cao hơn, bài toán phát triển cũng thay đổi. Ở giai đoạn đầu, tăng trưởng có thể được thúc đẩy bằng cách huy động thêm vốn, lao động, đất đai và mở rộng quy mô sản xuất. Tuy nhiên, khi tiền lương tăng, cơ cấu lao động thay đổi, hiệu quả của việc bổ sung vốn có xu hướng giảm dần và cạnh tranh ngày càng gay gắt, những động lực từng tạo ra tăng trưởng sẽ không còn đủ mạnh như trước. Khi đó, vấn đề không còn đơn giản là huy động thêm bao nhiêu nguồn lực, mà là tạo ra bao nhiêu giá trị từ những nguồn lực đang có.

Đây là ranh giới giữa tăng trưởng và phát triển. Tăng trưởng làm cho nền kinh tế lớn hơn; phát triển đòi hỏi nền kinh tế nâng cao năng lực tạo ra giá trị, năng suất và sức cạnh tranh.

Nền kinh tế có thể đạt tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm nhưng vẫn chưa tạo được nền tảng để bước lên trình độ phát triển cao hơn nếu năng suất, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, năng lực doanh nghiệp và chất lượng thể chế không được cải thiện tương xứng. Vì vậy, bước chuyển Việt Nam cần thực hiện trong những thập niên tới không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà sâu xa hơn là thay đổi nền tảng của tăng trưởng: từ dựa nhiều vào huy động nguồn lực sang dựa nhiều hơn vào năng lực tạo ra giá trị.

Nếu bốn thập kỷ đổi mới là quá trình giải phóng nguồn lực để tạo tăng trưởng, thì giai đoạn phát triển mới phải là quá trình kiến tạo năng lực để nâng cao chất lượng tăng trưởng. Đó là yêu cầu đặt ra đối với nền kinh tế đã bước vào nhóm thu nhập trung bình cao.

Bẫy thu nhập trung bình thực chất là bẫy về năng suất và năng lực

Khái niệm "bẫy thu nhập trung bình" thường được dùng để mô tả tình trạng nền kinh tế sau giai đoạn tăng trưởng nhanh, đạt mức thu nhập trung bình nhưng sau đó tăng trưởng và năng suất chậm lại, không thể tiến lên nhóm các nền kinh tế thu nhập cao.

Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn nhận đây là vấn đề về mức thu nhập, chúng ta chưa chạm tới bản chất của bẫy: nền kinh tế không tạo ra đủ năng suất và năng lực mới để duy trì quá trình phát triển khi những động lực cũ dần tới giới hạn.

Khi nền kinh tế còn ở trình độ thấp, tích lũy vốn, mở rộng sản xuất, chuyển dịch lao động và tiếp nhận công nghệ có thể tạo ra những bước tiến lớn về năng suất. Nhưng khi trình độ phát triển tăng lên, các động lực này dần bộc lộ giới hạn. Muốn tiếp tục tăng trưởng, quốc gia phải nâng cao năng lực hấp thụ và làm chủ công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng chất lượng nguồn nhân lực và phát triển các doanh nghiệp trong nước có khả năng cạnh tranh ở trình độ cao hơn.

Vì thế, năng suất không chỉ là chỉ tiêu phản ánh chất lượng tăng trưởng mà còn biểu hiện của năng lực phát triển. Doanh nghiệp có năng lực công nghệ cao có thể tạo ra nhiều giá trị hơn với cùng lượng lao động và vốn. Người lao động có kỹ năng tốt hơn có thể đảm nhiệm những công việc có giá trị gia tăng cao hơn. Thể chế hiệu quả giúp nguồn lực được phân bổ tới những lĩnh vực có năng suất cao hơn; quản trị tốt giúp các quyết định được chuyển hóa thành kết quả; năng lực đổi mới cho phép nền kinh tế liên tục tạo ra sản phẩm, quy trình và mô hình kinh doanh mới.

Do đó, vượt qua bẫy thu nhập trung bình không thể chỉ bằng cách nâng tốc độ tăng GDP trong một vài năm. Điều quyết định là khả năng tạo ra năng suất và năng lực mới đủ nhanh để duy trì tăng trưởng ở trình độ phát triển cao hơn.

Đối với kinh tế nước ta, thách thức hiện nay không chỉ là vượt qua ngưỡng thu nhập, mà phải xây dựng năng lực để tiếp tục vượt qua những giới hạn của chính mình. Đây là sự thay đổi căn bản trong cách nhìn nhận bài toán phát triển.

Bẫy quán tính phát triển

Có một loại bẫy ít được chú ý nhưng đặc biệt quan trọng đối với các nền kinh tế đang chuyển đổi: bẫy quán tính phát triển.

Khi một mô hình tăng trưởng đem lại thành công, nó thường hình thành những thói quen trong tư duy, cách phân bổ nguồn lực, phương thức quản lý và các lợi ích đi kèm. Những cách làm từng đem lại kết quả dễ tiếp tục được duy trì, ngay cả khi điều kiện phát triển đã thay đổi. Thành công của ngày hôm qua có thể trở thành lý do khiến chúng ta tiếp tục làm theo cách của ngày hôm qua. Đó chính là quán tính phát triển.

Nguy cơ này đặc biệt lớn khi nền kinh tế chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào nguồn lực sang tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nếu tư duy phát triển, cơ chế khuyến khích doanh nghiệp, thể chế và phương thức sử dụng nguồn lực chậm thay đổi, nền kinh tế có thể tiếp tục phân bổ nguồn lực theo logic cũ, khiến quá trình chuyển đổi kéo dài, kém hiệu quả.

Quán tính phát triển không chỉ nằm trong tư duy và phương thức quản lý. Nó có thể được duy trì bởi những cấu trúc lợi ích và tương quan quyền lực kinh tế đã hình thành trong quá trình phát triển. Những chủ thể đang nắm giữ vị thế, nguồn lực và lợi ích có thể tác động tới việc phân bổ cơ hội trong nền kinh tế. Nếu các vị thế đó trở thành rào cản đối với doanh nghiệp mới, công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới hoặc sự dịch chuyển nguồn lực sang những lĩnh vực có năng suất cao hơn, nền kinh tế sẽ khó tạo ra sự chuyển đổi cần thiết.

Vấn đề không phải là phủ nhận vai trò của các doanh nghiệp, ngành hay mô hình đã tạo nên thành công. Điều cần thiết là xây dựng môi trường, trong đó thành công cũ tiếp tục được phát huy nhưng không trở thành rào cản đối với năng lực mới. Một nền kinh tế không thể vừa yêu cầu hình thành những động lực phát triển mới, vừa duy trì quá lâu các cơ chế khiến những động lực ấy khó xuất hiện. Vì thế, thách thức khi bước vào ngưỡng thu nhập trung bình cao không chỉ là thiếu nguồn lực. Đó còn là nguy cơ chậm thay đổi tư duy, thể chế và phương thức sử dụng nguồn lực, cũng như không xử lý kịp thời những cấu trúc lợi ích cản trở đổi mới.

Nếu không nhận diện và tháo gỡ được những lực cản này, nền kinh tế vẫn có thể tăng trưởng nhưng khó tạo ra bước tiến lớn về năng suất. Vì vậy, vượt qua bẫy thu nhập trung bình trước hết đòi hỏi phải vượt qua bẫy quán tính phát triển.

Hàn Quốc và Thái Lan: Hai cách ứng xử trước ngưỡng phát triển

Kinh nghiệm phát triển ở Đông Á cho thấy các nền kinh tế có thể xuất phát từ những điều kiện tương đồng nhưng đi đến các quỹ đạo phát triển khác nhau, tùy thuộc vào khả năng chuyển hóa cơ hội thành năng lực mới.

Hàn Quốc là trường hợp tiêu biểu. Trong quá trình công nghiệp hóa, nước này từng dựa nhiều vào lao động, tích lũy vốn và xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp. Nhưng cùng với sự phát triển, Hàn Quốc từng bước nâng cấp nền tảng tăng trưởng, chú trọng công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực của doanh nghiệp trong nước.

Điều đáng học ở Hàn Quốc không chỉ nằm ở từng chính sách cụ thể, mà ở khả năng theo đuổi quá trình nâng cấp năng lực trong thời gian dài. Nhà nước giữ vai trò định hướng và hỗ trợ phát triển công nghiệp; doanh nghiệp chịu sức ép cạnh tranh; xuất khẩu trở thành thước đo quan trọng của năng lực cạnh tranh; giáo dục và công nghệ được đặt vào vị trí nền tảng của công nghiệp hóa. Qua quá trình đó, Hàn Quốc hình thành những tập đoàn công nghiệp có khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Khi doanh nghiệp trong nước đủ năng lực vươn lên, nền kinh tế không chỉ thu hút vốn và công nghệ từ bên ngoài mà còn từng bước hấp thụ, làm chủ và phát triển công nghệ, xây dựng thương hiệu, tiến lên những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị. Nói cách khác, nền kinh tế từng bước tạo dựng năng lực làm chủ. Đây là khác biệt quan trọng giữa việc tham gia vào quá trình phát triển và khả năng chủ động nâng cấp trình độ phát triển.

Thái Lan đem lại một bài học khác. Trong thập niên 1990, nước này có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển nhanh: tăng trưởng cao, thu hút FDI, công nghiệp chế biến phát triển, đặc biệt trong các ngành ô tô và điện tử, cùng với nông nghiệp hàng hóa, du lịch và dịch vụ.

Tuy nhiên, quá trình nâng cao năng suất và chuyển đổi cơ cấu kinh tế chưa tạo ra động lực đủ mạnh để duy trì tốc độ phát triển cao trong dài hạn. Năng lực đổi mới, nâng cấp công nghệ và phát triển doanh nghiệp trong nước chưa theo kịp yêu cầu mới. Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 cũng bộc lộ những điểm yếu trong mô hình tăng trưởng và hệ thống tài chính của Thái Lan.

Điều đáng suy ngẫm là thành công ban đầu không tự động bảo đảm cho những bước tiến tiếp theo. Sự phụ thuộc vào các chuỗi sản xuất do nước ngoài dẫn dắt, những hạn chế trong năng lực công nghệ của doanh nghiệp trong nước, tình trạng nợ của hộ gia đình cao, bất ổn chính trị kéo dài và quá trình già hóa dân số đã làm gia tăng sức ép đối với triển vọng tăng trưởng. Các yếu tố này không phải nguyên nhân duy nhất, nhưng cho thấy khó khăn trong việc chuyển hóa thành quả ban đầu thành năng lực phát triển bền vững.

Vấn đề không phải là Thái Lan thất bại, bởi nước này đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế đáng kể. Điều cần rút ra là quá trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, đổi mới và năng lực nội sinh chưa đủ mạnh để tạo ra một quỹ đạo phát triển cao hơn. Thành công ban đầu không được tiếp nối bằng cải cách và nâng cấp năng lực tương xứng.

Kinh tế nước ta hiện có một số điểm tương đồng với Thái Lan trong giai đoạn công nghiệp hóa và hội nhập sâu rộng, như thu hút FDI, phát triển công nghiệp chế biến chế tạo, tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và đứng trước yêu cầu nâng cao năng suất. Tuy nhiên, sự tương đồng đó không có nghĩa Việt Nam tất yếu đi theo cùng một quỹ đạo như Thái Lan.

Chúng ta có lợi thế của quốc gia đi sau: có thể học hỏi cả thành công lẫn hạn chế của Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan và các nền kinh tế khác; tiếp cận nhanh hơn với công nghệ mới; khai thác thị trường trong nước và tận dụng nền tảng kinh tế vĩ mô đã được xây dựng. Điều quan trọng là nhận diện sớm những nguy cơ có thể cản trở quá trình nâng cấp năng lực, thay vì chỉ lo ngại về khả năng lặp lại kinh nghiệm của quốc gia khác.

Kinh nghiệm của Hàn Quốc và Thái Lan cho thấy cơ hội phát triển không tự động tạo ra năng lực phát triển. Điều quyết định là quốc gia có thể biến cơ hội thành năng lực công nghiệp, công nghệ và doanh nghiệp đến đâu, cũng như có duy trì được quá trình nâng cấp đó đủ lâu hay không.

Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn mới: Vượt qua chính mình để tạo ra năng lực phát triển mới

Việt Nam đang đứng trước những cơ hội lớn để phát triển, nhưng cơ hội chỉ có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành năng lực tương xứng. Nguy cơ đối với nền kinh tế không chỉ là thiếu cơ hội, mà còn là có cơ hội nhưng không chuyển hóa được thành năng lực nội sinh.

Điều đó đòi hỏi một cuộc chuyển đổi sâu sắc trong tư duy và phương thức tăng trưởng. Những lợi thế về chi phí và nguồn lực từng tạo nên sức cạnh tranh của nền kinh tế cần từng bước được bổ sung, thay thế bằng lợi thế về năng suất, công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực đổi mới.

Thu hút công nghệ từ bên ngoài phải đi cùng với nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ và từng bước sáng tạo công nghệ. Tham gia chuỗi giá trị toàn cầu phải được tiếp nối bằng quá trình nâng vị thế của doanh nghiệp Việt trong chuỗi, gia tăng giá trị tạo ra trong nước và phát triển năng lực cạnh tranh ở những công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.

Yêu cầu đối với khu vực doanh nghiệp trong nước cũng cần thay đổi. Không chỉ gia tăng số lượng, doanh nghiệp phải nâng cao năng suất, năng lực quản trị, khả năng đổi mới và làm chủ công nghệ; từng bước hình thành những doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Nguồn nhân lực cần phát triển theo những chuẩn mực mới. Lợi thế về số lượng lao động sẽ giảm dần ý nghĩa nếu không được chuyển hóa thành chất lượng và năng suất. Người lao động cần có khả năng học hỏi, thích ứng với công nghệ mới, tạo ra giá trị cao hơn trong nền kinh tế thay đổi nhanh chóng.

Đặc biệt, cải cách thể chế không chỉ là tháo gỡ những rào cản hiện hữu mà còn phải tạo lập môi trường để nguồn lực dịch chuyển thuận lợi hơn tới những lĩnh vực có năng suất và tiềm năng phát triển cao. Thể chế cần khuyến khích đổi mới, bảo đảm cạnh tranh, tạo cơ hội cho doanh nghiệp mới và những năng lực mới hình thành, phát triển. Tất cả những chuyển đổi đó bắt đầu từ một yêu cầu sâu xa hơn: đổi mới tư duy phát triển.

Trong bốn thập kỷ qua, đổi mới đã giải phóng nguồn lực và mở ra không gian phát triển mới. Trong những thập niên tới, yêu cầu đặt ra là tiếp tục đổi mới để kiến tạo năng lực phát triển mới. Đổi mới tư duy không có nghĩa phủ nhận những gì đã đạt được. Ngược lại, đó là cách bảo vệ và phát huy thành quả của đổi mới bằng việc nhận thức rằng những điều kiện tạo nên thành công trong quá khứ không mặc nhiên đủ để bảo đảm thành công trong tương lai.

Đây chính là ý nghĩa của năng lực chuyển đổi. Một quốc gia có năng lực chuyển đổi phải có khả năng nhận biết những thay đổi của môi trường phát triển, nhận biết giới hạn của mô hình cũ, chủ động đổi mới tư duy, thể chế, công nghệ và phương thức quản trị, đồng thời tổ chức thực hiện thành công quá trình chuyển lên trình độ phát triển cao hơn.

Nếu thiếu năng lực chuyển đổi, nền kinh tế có thể tiếp tục tăng trưởng nhưng dễ bị níu kéo bởi quán tính của mô hình cũ. Ngược lại, khi có năng lực chuyển đổi, những thay đổi của thế giới không chỉ là thách thức mà còn trở thành động lực để Việt Nam nâng cấp chính mình.

Vượt qua chính mình không phải là phủ nhận con đường đã đi qua, mà là chủ động thay đổi để những thành quả hôm nay trở thành nền tảng cho năng lực phát triển ngày mai.

Không chỉ thoát khỏi cái bẫy, phải thoát khỏi cả logic dẫn tới bẫy

Trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 là mục tiêu lớn, đòi hỏi Việt Nam không chỉ tập trung vào tốc độ tăng GDP và thu nhập bình quân mà còn phải trả lời một câu hỏi quan trọng: mỗi giai đoạn tăng trưởng tạo thêm những năng lực gì cho nền kinh tế?

Nếu tăng trưởng đi cùng với năng suất cao hơn, doanh nghiệp trong nước mạnh hơn, công nghệ tiến bộ hơn, nguồn nhân lực có chất lượng tốt hơn, thể chế hiệu quả hơn và khả năng thích ứng tốt hơn, thì tăng trưởng hôm nay đang tạo nền tảng cho phát triển ngày mai.

Ngược lại, nếu tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác những lợi thế cũ mà không tạo ra năng lực mới, nền kinh tế có thể đạt được thành quả trước mắt nhưng khó duy trì đà phát triển trong dài hạn.

Vì vậy, vượt qua bẫy thu nhập trung bình không chỉ là vượt qua một ngưỡng thu nhập. Đó là vượt qua những giới hạn của mô hình đã tạo nên tăng trưởng trong giai đoạn trước, đồng thời thoát khỏi chính logic có thể khiến nền kinh tế mắc kẹt.

Muốn vượt qua chính mình, Việt Nam phải có năng lực chuyển đổi. Quốc gia không chỉ mắc kẹt vì thiếu cơ hội, mà còn có thể mắc kẹt khi không đủ năng lực chuyển hóa cơ hội thành sức mạnh phát triển mới. Đây là bài toán quan trọng đòi hỏi kinh tế Việt Nam cần giải quyết trong những thập niên tới.

Muốn trở thành quốc gia phát triển, Việt Nam không chỉ cần đạt các chỉ tiêu về quy mô và thu nhập, mà phải xây dựng được những năng lực tương xứng với trình độ phát triển đó. Đây cũng là điểm khởi đầu cho những nội dung tiếp theo của hành trình phát triển: Việt Nam cần có những năng lực nào, cần những điều kiện gì để chuyển hóa các năng lực ấy thành sức mạnh phát triển nhanh, bền vững./.

Nguyễn Bích Lâm

Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê

Nội dung này, đã nhận được 0 góp ý, hiến kế
Góp ý, hiến kế cho Chính phủ ngay tại đây
Đọc nhiều
NGÀY VĂN HÓA VIỆT NAM - 24/11, người lao động được nghỉ, hưởng nguyên lương

NGÀY VĂN HÓA VIỆT NAM - 24/11, người lao động được nghỉ, hưởng nguyên lương

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Quốc hội thông qua Nghị quyết quy định ngày 24/11 hằng năm là “Ngày Văn hóa Việt Nam”, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030

Danh mục 111 NGÀNH được nhận HỌC BỔNG hằng tháng

Danh mục 111 NGÀNH được nhận HỌC BỔNG hằng tháng

Hướng dẫn thực hiện chính sách

(Chinhphu.vn) - Toàn văn Quyết định số 1826/QĐ-BGDĐT của Bộ GDĐT ban hành danh mục 111 đào tạo (thuộc 15 nhóm ngành) người học được nhận học bổng theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP của Chính phủ.

Chi tiết 34 ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH

Chi tiết 34 ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Kể từ ngày 12/6/2025, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố. Trong đó có 19 tỉnh và 4 thành phố hình thành sau sắp xếp và 11 tỉnh, thành phố không thực hiện sắp xếp.

Tra cứu TUỔI NGHỈ HƯU và THỜI ĐIỂM NGHỈ HƯU

Tra cứu TUỔI NGHỈ HƯU và THỜI ĐIỂM NGHỈ HƯU

Hướng dẫn thực hiện chính sách

(Chinhphu.vn) - Năm 2026, độ tuổi nghỉ hưu của người lao động nam là 61 tuổi 6 tháng, lao động nữ là 57 tuổi. Năm 2027, độ tuổi nghỉ hưu của người lao động nam sẽ là 61 tuổi 9 tháng, lao động nữ sẽ là 57 tuổi 4 tháng;...

TOÀN VĂN: Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

TOÀN VĂN: Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết.

Chúng tôi luôn Lắng nghe và phản hồi Chúng tôi
luôn
Lắng nghe
và phản hồi