Tình hình kinh tế - xã hội tháng Bảy năm 2026




Báo cáo tình hình KINH TẾ XÃ HỘI THÁNG 7 và 7 tháng năm 2026
1. Nông, lâm nghiệp và thủy sản
a) Nông nghiệp
Lúa mùa: Tính đến ngày 20/7/2026, cả nước gieo cấy được 1.138,5 nghìn ha lúa mùa, giảm 45,6 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước. Các địa phương phía Bắc đạt 806,9 nghìn ha, giảm 25,4 nghìn ha; các địa phương phía Nam đạt 331,6 nghìn ha, giảm 20,2 nghìn ha.
Lúa hè thu: Tính đến ngày 20/7/2026, cả nước gieo cấy được 1.862,8 nghìn ha lúa hè thu, giảm 24,0 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Các địa phương phía Bắc đạt 166,9 nghìn ha, giảm 5,5 nghìn ha; các địa phương phía Nam đạt 1.695,9 nghìn ha, giảm 18,5 nghìn ha.
Lúa thu đông: Đến ngày 20/7/2026 các địa phương phía Nam gieo cấy được 170,0 nghìn ha lúa thu đông, bằng 59,0% cùng kỳ năm trước.
Cây hằng năm: Diện tích một số cây hằng năm chủ yếu giảm so với cùng kỳ năm trước do hiệu quả kinh tế không cao.
Chăn nuôi: Chăn nuôi trâu, bò trong tháng tiếp tục xu hướng giảm; chăn nuôi lợn phát triển ổn định; chăn nuôi gia cầm duy trì đà tăng trưởng khá. Ước tính tổng số lợn của cả nước đến thời điểm cuối tháng Bảy tăng 2,6% so với cùng thời điểm năm 2025; tổng số gia cầm tăng 3,1%; tổng số bò giảm 2,2%; tổng số trâu giảm 6,1%.
b) Lâm nghiệp
Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước tháng Bảy ước đạt 14,6 nghìn ha, tăng 5,0% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 6,5 triệu cây, tăng 3,2%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2.387,1 nghìn m3, tăng 13,5%, diện tích rừng bị thiệt hại[1] là 449,6 ha, gấp 6,2 lần.
Tính chung bảy tháng năm 2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 159,8 nghìn ha, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 57,9 triệu cây, tăng 2,4%; sản lượng gỗ khai thác đạt 14.181,9 nghìn m3, tăng 6,1%; diện tích rừng bị thiệt hại là 845,4 ha, giảm 9,0%.
c) Thủy sản
Sản lượng thủy sản tháng Bảy ước đạt 918,9 nghìn tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 586,8 nghìn tấn, tăng 6,1%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 332,1 nghìn tấn, tăng 1,2%.
Tính chung bảy tháng năm 2026, sản lượng thủy sản ước đạt 5.873,1 nghìn tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 4.101,0 nghìn tấn, tăng 2,6%; tôm đạt 965,8 nghìn tấn, tăng 7,4%; thủy sản khác đạt 806,3 nghìn tấn, tăng 5,2%.
2. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp tháng Bảy duy trì đà tăng trưởng tích cực. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng Bảy ước tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của bảy tháng so với cùng kỳ năm trước trong nhiều năm qua.
Chỉ số sản xuất công nghiệp bảy tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương.
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/07/2026 tăng 1,0% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,1% so với cùng thời điểm năm trước.
3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Trong tháng Bảy, cả nước có hơn 14,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 15,5% so với tháng trước và giảm 13,9% so với cùng kỳ năm trước; hơn 10,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 25,5% và giảm 30,7%; 8.723 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 20,4% và tăng 18,8%; 10.382 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 3,9% và tăng 136,8%; 7.209 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 45,4% và tăng 269,9%.
Tính chung bảy tháng năm 2026, cả nước có 187,2 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước; bình quân một tháng có 26,7 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là 155,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 7,6% so với cùng kỳ năm trước; bình quân một tháng có 22,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
4. Đầu tư
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Bảy ước đạt 98,6 nghìn tỷ đồng, tăng 25,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 445,5 nghìn tỷ đồng, bằng 39,0% kế hoạch năm và tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 bằng 37,0% và tăng 24,7%).
– Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 31/7/2026 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58,0% so với cùng kỳ năm trước.
– Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam bảy tháng năm 2026 ước đạt 15,20 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước.
– Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong bảy tháng năm 2026 có 106 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 1,17 tỷ USD, gấp 2,9 lần so với cùng kỳ năm trước; có 23 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 1,19 tỷ USD, gấp 9,2 lần. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 2,36 tỷ USD, gấp 4,5 lần so với cùng kỳ năm trước.
5. Thu, chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng Bảy ước đạt 259,7 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước bảy tháng năm 2026 ước đạt 1.834,6 nghìn tỷ đồng, bằng 72,5% dự toán năm và tăng 16,0% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng Bảy ước đạt 215,4 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng chi ngân sách Nhà nước bảy tháng năm 2026 ước đạt 1.364,3 nghìn tỷ đồng, bằng 43,2% dự toán năm và tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước.
6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch
a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng Bảy ước đạt 669,1 nghìn tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 4.555,8 nghìn tỷ đồng, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,5% (năm 2025 tăng 7,4%).
b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa[2]
Trong tháng Bảy, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa[3] đạt 109,75 tỷ USD, tăng 5,3% so với tháng trước và tăng 33,0% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 21,7%; nhập khẩu tăng 34,8%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 20,52 tỷ USD.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Bảy đạt 53,08 tỷ USD, tăng 4,5% so với tháng trước và tăng 25,0% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 63,64 tỷ USD, tăng 5,8%, chiếm 19,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 255,89 tỷ USD, tăng 26,4%, chiếm 80,1%.
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu bảy tháng năm 2026, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 287,91 tỷ USD, chiếm 90,1%.
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Bảy đạt 56,67 tỷ USD, tăng 6,1% so với tháng trước và tăng 41,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 340,05 tỷ USD, tăng 34,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 92,14 tỷ USD, tăng 24,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 247,91 tỷ USD, tăng 39,2%.
Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu bảy tháng năm 2026, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 319,95 tỷ USD, chiếm 94,1%.
Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa bảy tháng năm 2026, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 104,7 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 138,6 tỷ USD.
Theo số liệu sơ bộ, cán cân thương mại hàng hóa tháng Bảy nhập siêu 3,59 tỷ USD. Tính chung bảy tháng năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 20,52 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 10,35 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 28,50 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 7,98 tỷ USD.
c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Bảy giảm 0,12% so với tháng trước; tăng 3,08% so với tháng 12/2025 và tăng 4,45% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2026, CPI tăng 4,39% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,19%.
Chỉ số giá vàng tháng Bảy giảm 3,02% so với tháng trước; giảm 5,66% so với tháng 12/2025; tăng 19,15% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân bảy tháng năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 51,86% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng Bảy tăng 0,18% so với tháng trước; tăng 0,01% so với tháng 12/2025; tăng 0,38% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân bảy tháng năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,55% so với cùng kỳ năm trước.
d) Vận tải hành khách và hàng hóa
Vận tải hành khách tháng Bảy ước đạt 620,7 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 3,1% so với tháng trước và luân chuyển đạt 30,9 tỷ lượt khách.km, tăng 5,0%. Tính chung bảy tháng năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 4.007,1 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,0% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 201,6 tỷ lượt khách.km, tăng 12,4%.
Vận tải hàng hóa tháng Bảy ước đạt 294,3 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 0,9% so với tháng trước và luân chuyển đạt 61,8 tỷ tấn.km, tăng 2,5%. Tính chung bảy tháng năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 1.933,2 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 387,6 tỷ tấn.km, tăng 12,3%.
đ) Khách quốc tế đến Việt Nam
Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn đối với du khách quốc tế nhờ chính sách thị thực thuận lợi, công tác xúc tiến, quảng bá được đẩy mạnh, sản phẩm du lịch đa dạng cùng với lợi thế về cảnh quan thiên nhiên, văn hóa, ẩm thực và chi phí du lịch hợp lý. Trong tháng Bảy[4], khách quốc tế đến nước ta ước đạt 1,67 triệu lượt người, giảm 0,7% so với tháng trước và tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 13,9 triệu lượt người, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước.
7. Một số tình hình xã hội
Theo kết quả sơ bộ Điều tra lao động việc làm, tình hình đời sống dân cư duy trì ổn định. Tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong tháng Bảy không thay đổi và tăng lên so với cùng kỳ năm trước là 96,7% (giảm 0,2 điểm phần trăm so với kỳ báo cáo tháng Sáu và tăng 0,5 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết là 3,3%.
Công tác bảo đảm an sinh xã hội luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện nhằm mục đích hỗ trợ đời sống Nhân dân. Trong tháng Bảy, tính đến ngày 26/7/2026, Chính phủ đã hỗ trợ hơn 283,2 tấn gạo cho người dân khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ.
Tính từ đầu năm đến nay, Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân 18,1 nghìn tấn gạo, trong đó: Gần 9,1 nghìn tấn gạo cứu đói nhân dịp Tết Nguyên đán cho 604,6 nghìn nhân khẩu; hơn 8,2 nghìn tấn gạo cứu đói giáp hạt cho 547,2 nghìn nhân khẩu; hơn 887,4 tấn gạo khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ cho 59,1 nghìn nhân khẩu.
Tri ân người có công: Tính đến ngày 26/7/2026, “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ, các lực lượng đã tìm kiếm, quy tập được 1.491 hài cốt liệt sĩ; trong đó có 467 hài cốt trong nước, 174 hài cốt tại Lào và 850 hài cốt tại Cam-pu-chia.
Y tế: Tính chung từ đầu năm đến nay, cả nước có gần 61,6 nghìn người mắc bệnh sốt xuất huyết (08 người tử vong); gần 58,7 nghìn người mắc tay chân miệng (10 người tử vong); gần 4,8 nghìn người mắc sốt phát ban nghi sởi; 178 người mắc viêm não vi rút (01 người tử vong); 31 người mắc viêm màng não do não mô cầu (05 người tử vong[5]); 40 người tử vong do bệnh dại.
Tai nạn giao thông trong tháng Bảy (từ 15/6-14/7/2026), cả nước xảy ra 1.167 vụ, làm chết 700 người và bị thương 693 người. Tính chung bảy tháng năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 8.940 vụ tai nạn giao thông, làm chết 5.577 người và bị thương 5.179 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 18,0%; số người chết giảm 10,4%; số người bị thương giảm 27,9%. Bình quân một ngày trong bảy tháng năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 42 vụ tai nạn giao thông, làm chết 26 người, bị thương 24 người.
Thiệt hại do thiên tai trong tháng Bảy chủ yếu do ảnh hưởng của mưa lốc, giông sét. Tính chung bảy tháng năm nay, thiên tai làm 44 người chết và mất tích, 75 người bị thương; 35,4 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng; 7,9 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 1.936,1 tỷ đồng, giảm 73,7% so với cùng kỳ năm 2025.
Vi phạm môi trường và cháy nổ: Trong tháng Bảy (từ 26/6-23/7/2026)[6], các cơ quan chức năng phát hiện 1.909 vụ vi phạm môi trường tại 33/34 địa phương. Tính chung bảy tháng năm 2026, các cơ quan chức năng phát hiện 11.549 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 8.877 vụ với tổng số tiền phạt 166,1 tỷ đồng, tăng 30,0% so với cùng kỳ năm trước; trên địa bàn cả nước xảy ra 1.752 vụ cháy, nổ, làm 60 người chết và 82 người bị thương, thiệt hại ước tính 602,2 tỷ đồng, gấp 3 lần cùng kỳ năm trước./.
[1] Số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường tính đến ngày 15/7/2026.
[2] Kim ngạch xuất khẩu tính theo giá F.O.B và kim ngạch nhập khẩu tính theo giá C.I.F (bao gồm chi phí vận tải, bảo hiểm của hàng nhập khẩu).
[3] Số liệu ước tính trị giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa tháng Bảy do Cục Hải quan cung cấp ngày 02/8/2026.
[4] Kỳ báo cáo từ ngày 26/6/2026-25/7/2026.
[5] Bổ sung 01 ca tử vong vào Tháng 5/2026.
[6] Theo báo cáo từ Sở Nông nghiệp và Môi trường, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Thống kê cấp tỉnh tổng hợp.
Chúng tôi luôn Lắng nghe và phản hồi