HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 3

29/07/2026 12:16

(Chinhphu.vn) - Sáng 29/7, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.


Sáng 29/7, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Tham dự Hội nghị có Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; các nguyên Chủ tịch nước: Nguyễn Minh Triết (điểm cầu TPHCM), Trương Tấn Sang (điểm cầu Tây Ninh), Lương Cường; Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; các nguyên Thủ tướng Chính phủ: Nguyễn Tấn Dũng (điểm cầu TPHCM), Phạm Minh Chính; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; các nguyên Chủ tịch Quốc hội: Nguyễn Văn An, Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Thị Kim Ngân; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; nguyên Thường trực Ban Bí thư Trần Quốc Vượng; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư; các đồng chí nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, cơ quan, đơn vị…

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 3- Ảnh 3.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, nguyên lãnh đạo Đảng và Nhà nước dự Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối từ điểm cầu trung tâm - Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội đến các điểm cầu ở các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương, các địa phương, cơ quan, đơn vị.

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV họp từ ngày 20-24/7 tại Thủ đô Hà Nội. Sau khi xem xét, thảo luận các tờ trình, báo cáo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao nhiều chủ trương, chính sách lớn về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển và bảo vệ đất nước.

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 3- Ảnh 4.

Các đại biểu dự Hội nghị tại điểm cầu trung tâm - Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Theo chương trình, tại Hội nghị, các đại biểu sẽ nghe các đồng chí lãnh đạo truyền đạt, quán triệt các chuyên đề về: Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam; Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; Nghị quyết về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển; Nghị quyết về Chiến lược An ninh quốc gia; Kết luận về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới; Kết luận về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; Quy định về những điều đảng viên không được làm;…

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 3- Ảnh 5.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị quán triệt Nghị quyết - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

"Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam" và "Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh"

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đã quán triệt 2 chuyên đề "Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam" và "Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh".

Đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia để tạo năng lực phát triển mới

Về Chuyên đề "Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam", đồng chí Nguyễn Thanh Nghị cho biết, Nghị quyết đề ra 5 quan điểm chỉ đạo, trong đó khẳng định đổi mới mô hình phát triển là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử để xây dựng thành công mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam; thể hiện các nguyên tắc nền tảng trong đổi mới mô hình phát triển, đó là thực hiện nhất quán "bốn kiên định"; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp của Đảng; phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước; khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội.

Đồng thời, thể hiện nội hàm của đổi mới mô hình phát triển, đó là đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia để tạo năng lực phát triển mới; chuyển đổi sang Mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập - mô hình lấy con người là trung tâm, mục tiêu, động lực và chủ thể phát triển; nâng cao sức mạnh tổng hợp, tiềm lực quốc gia, chất lượng đời sống và hạnh phúc của nhân dân làm trục xuyên suốt; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực chính; lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển và lấy nâng cao năng suất lao động, hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực quốc gia là những nguyên tắc trung tâm.

Thể hiện cơ chế vận hành và vị trí của các mô hình thành phần. Mô hình phát triển vận hành đồng bộ theo cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản trị, nhân dân làm chủ"; dựa trên nền quản trị quốc gia hiện đại và mối quan hệ hài hòa, hiệu quả giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; tổ chức phát triển trong không gian tích hợp, đa tầng, liên thông, tạo liên kết và lan tỏa.

Thể hiện định hướng khai thác, phát huy mọi nguồn lực cho đổi mới mô hình phát triển, hướng đến phát triển đất nước giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển; nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng, tự phục hồi và quản trị rủi ro; không ngừng bồi đắp năng lực quốc gia, bảo đảm đất nước phát triển nhanh, bền vững và trường tồn.

Thể hiện phương thức triển khai thực hiện. Đổi mới mô hình phát triển phải được thực hiện đồng bộ, toàn diện và phù hợp với từng giai đoạn; bảo đảm gắn kết hữu cơ các trụ cột phát triển thành một thể thống nhất.

Theo đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Nghị quyết đề ra mục tiêu cho các giai đoạn đến năm 2030, 2035, 2045 và định hướng tầm nhìn đến năm 2130.

Nghị quyết đề ra 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về: Thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị; kinh tế; xã hội; văn hóa; con người; môi trường sinh thái; quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Trong đó, nhóm nhiệm vụ, giải pháp về thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị, gồm các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, đề cập toàn diện từ công tác lãnh đạo của Đảng đến công tác tổ chức, cán bộ; quản trị thực thi theo mục tiêu, kết quả đầu ra; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới quan hệ Nhà nước - thị trường - xã hội; xây dựng pháp luật theo hướng mở, linh hoạt, thích ứng nhanh;…

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về kinh tế, gồm các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, đó là: Xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao. Tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo tư duy đa tầng, đa cực, liên kết đồng bộ. 

Xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển và có năng lực cạnh tranh hàng đầu trong các ngành công nghiệp biển; phát triển kinh tế không gian tầm thấp, không gian vũ trụ, không gian ngầm. Phát triển đồng bộ, hiện đại, minh bạch, an toàn và liên thông các thị trường nhân tố sản xuất;…

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về xã hội, có các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, gồm: Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, bao trùm, linh hoạt, thích ứng cao. Xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển, có niềm tin, có năng lực chống chịu. Đổi mới quản trị phát triển nguồn nhân lực và hiện đại hóa thị trường lao động;…

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về văn hóa, con người, gồm các nhiệm vụ, giải pháp, đó là: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng và phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo; xuất khẩu văn hóa; tài sản hóa các giá trị văn hóa; xây dựng văn hóa số, bảo vệ chủ quyền văn hóa số quốc gia.

Phát triển con người Việt Nam toàn diện; nuôi dưỡng khát vọng phát triển, khát vọng cống hiến; thấm nhuần văn hóa dân tộc; chủ động ứng phó với tác động tiêu cực của công nghệ, truyền thông và biến đổi xã hội. Xây dựng và triển khai Chiến lược quốc gia về phát triển, thu hút và trọng dụng nhân tài; thu hút mạnh mẽ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học Việt kiều và nhân tài quốc tế;…

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 3- Ảnh 6.

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị đề nghị các đồng chí tham dự Hội nghị quán triệt sâu sắc; nâng cao nhận thức trong tư duy và hành động; quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt để tổ chức thực hiện thành công mục tiêu đề ra - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Thể hiện tầm nhìn chiến lược trên nền tảng những tư duy mới và đột phá về biển

Về Chuyên đề "Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh", đồng chí Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh: Triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng trong bối cảnh đất nước và thế giới đang thay đổi nhanh chóng, cạnh tranh chiến lược trên biển ngày càng gay gắt, đặt ra yêu cầu cần xây dựng Nghị quyết mới của Trung ương nhằm tạo bước chuyển mạnh mẽ về tư duy, thể chế và mô hình phát triển biển với tầm nhìn chiến lược, toàn diện với những chủ trương, quyết sách mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.

Nghị quyết xác định 5 nhóm quan điểm chỉ đạo; các nhóm mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn.

Cụ thể, về 5 nhóm quan điểm chỉ đạo. Quan điểm thứ nhất là xác định rõ vai trò, vị trí của biển trong giai đoạn phát triển mới. Quan điểm thứ hai là đặt ra yêu cầu mới về việc đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế theo tinh thần Nghị quyết 66-NQ/TW. 

Quan điểm thứ ba là khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực chính trong xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. 

Quan điểm thứ tư là nhận diện đầy đủ các yếu tố bảo đảm tính "bền vững" trong xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Quan điểm thứ năm là đề ra trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của các nhóm chủ thể.

Về các nhóm mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết đề ra mục tiêu tổng quát đến năm 2030; tầm nhìn đến năm 2045, trong đó đề ra 6 nhóm mục tiêu cần đạt được trong giai đoạn 2026-2030 tạo tiền đề xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh, bao gồm các nhóm về kinh tế; phát triển không gian biển, hạ tầng biển; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; quản trị không gian biển, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; văn hoá, xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Về 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn, Nghị quyết nêu rõ yêu cầu:

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về phát triển quốc gia biển mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị biển quốc gia.

Hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh.

Huy động, phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển mạnh doanh nghiệp biển, nhất là các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn.

Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đột phá phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các ngành, lĩnh vực biển mới.

Phát triển đồng bộ hạ tầng biển, mở rộng không gian phát triển quốc gia, hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia và khu vực.

Bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; nâng cao khả năng chống chịu của các địa phương ven biển, hải đảo.

Xây dựng văn hóa biển, nâng cao đời sống người dân, phát huy sức mạnh cộng đồng cư dân biển trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn trên biển, đảo; tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế quốc gia.

Nhấn mạnh Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh thể hiện tầm nhìn chiến lược trên nền tảng những tư duy mới và đột phá về biển, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị đề nghị các đồng chí tham dự Hội nghị quán triệt sâu sắc; nâng cao nhận thức trong tư duy và hành động; quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt để tổ chức thực hiện thành công mục tiêu đề ra.

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 3- Ảnh 7.

Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đã trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. 

Phó Thủ tướng Thường trực cho biết, sau 4 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, Trung ương đánh giá tư duy quản lý đất đai đã cơ bản chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, đồng thời khơi thông nguồn lực cho phát triển.

Tuy nhiên, đất đai vẫn là một trong những lĩnh vực còn nhiều vướng mắc, dễ phát sinh khiếu nại, tố cáo, thất thoát, lãng phí, tham nhũng, tiêu cực và lợi ích nhóm. Một số cơ chế, chính sách còn bất cập khiến nguồn lực đất đai chưa được phát huy đầy đủ hiệu quả, nhất là trong các lĩnh vực quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, tái định cư, tài chính đất đai và giá đất.

Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế nêu trên, sau khi phân tích kỹ lưỡng, thảo luận thẳng thắn, dân chủ, Trung ương đã thống nhất ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW thay thế Nghị quyết số 18-NQ/TW. Nghị quyết tiếp tục kế thừa, khẳng định những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp còn nguyên giá trị của Nghị quyết số 18-NQ/TW, đồng thời điều chỉnh, bổ sung một số quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất đai theo hướng đồng bộ, minh bạch, khả thi; vừa khơi thông nguồn lực, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số và phát triển nhanh, bền vững, vừa bảo đảm quản lý chặt chẽ, thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, giữ vững quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.

Tiếp tục làm rõ những vấn đề có tính nền tảng

Nghị quyết số 21-NQ/TW tiếp tục làm rõ những vấn đề có tính nền tảng về vai trò của đất đai, chế độ sở hữu, quyền sử dụng đất và trách nhiệm của Nhà nước trong quản lý đất đai.

Theo đó, Nghị quyết khẳng định đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, không gian sinh tồn và phát triển, là yếu tố cấu thành chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền kinh tế, quốc phòng và an ninh quốc gia; đồng thời là tư liệu sản xuất đặc biệt và nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước.

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nghị quyết khẳng định tuyệt đối không tư nhân hóa đất đai và không cho phép người nước ngoài nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới mọi hình thức, trừ trường hợp người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật.

Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu thông qua việc quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất; giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; quy định thời hạn sử dụng đất; quyết định giá đất, chính sách tài chính đất đai và điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất không do người sử dụng đất tạo ra. Việc phân bổ, quản lý và sử dụng đất phải bảo đảm công bằng, hiệu quả, tránh lãng phí.

Nghị quyết cũng khẳng định quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu, đồng thời là yếu tố đầu vào quan trọng của nền kinh tế. Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được pháp luật bảo hộ. Nhà nước không xem xét lại quyền sử dụng đất hợp pháp đã được xác lập theo chính sách, pháp luật về đất đai qua các thời kỳ; không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai; không điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình và cá nhân.

Về trách nhiệm của Nhà nước, Nghị quyết số 21-NQ/TW khẳng định Nhà nước thực hiện điều tiết, kiểm soát và quyết định giá đất; đồng thời chuyển mạnh từ tư duy bồi thường tài sản bị thu hồi sang tư duy tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất, bảo đảm cải thiện nơi ở, điều kiện sống và sinh kế của người có đất ở bị thu hồi. Nhà nước cũng tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền có nơi ở, bố trí quỹ đất và có cơ chế ưu đãi, khuyến khích phát triển nhà ở cho thuê với giá phù hợp, đáp ứng nhu cầu về chỗ ở của nhân dân.

Trên cơ sở những quan điểm đó, Nghị quyết số 21-NQ/TW đặt mục tiêu tổng quát là quản lý đất đai chặt chẽ, minh bạch, công bằng, bền vững, đưa đất đai thực sự trở thành nguồn lực chiến lược, lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Nghị quyết đề ra các mục tiêu cụ thể theo từng giai đoạn. Theo đó, đến hết năm 2026 phải hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu số đối với toàn bộ các thửa đất đã được thu thập thông tin; đến hết năm 2027 cơ bản hoàn thành công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai đối với các diện tích chưa có trong cơ sở dữ liệu.

Đến năm 2030, hệ thống pháp luật về đất đai phải được hoàn thiện đồng bộ, thống nhất, phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm đất đai được quản lý chặt chẽ, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bền vững, phân bổ công bằng, hợp lý, gia tăng giá trị và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

Hoàn thiện thể chế, chính sách quản lý và sử dụng đất

Để hiện thực hóa các mục tiêu nêu trên, Nghị quyết số 21-NQ/TW xác định 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, trong đó có 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp được điều chỉnh, bổ sung với nhiều nội dung mới cần tập trung quán triệt và triển khai.

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách quản lý và sử dụng đất đồng bộ với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Nghị quyết yêu cầu đổi mới tư duy quy hoạch theo hướng thống nhất, đồng bộ với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, tỉnh, đô thị và nông thôn; nghiên cứu giảm số lượng quy hoạch, tiến tới chỉ xây dựng một quy hoạch thống nhất trong phạm vi một đơn vị hành chính. Kế hoạch sử dụng đất cấp xã được lập theo hướng đơn giản, số hóa và tích hợp.

Quy hoạch sử dụng đất quốc gia phải bảo đảm phân bổ, quản lý chặt chẽ diện tích đất phục vụ quốc phòng, an ninh, đất trồng lúa và đất rừng. Đồng thời, nghiên cứu quy hoạch đất canh tác, xác định diện tích đất canh tác quốc gia tối thiểu; cho phép chuyển đổi diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả nhưng vẫn phải bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, sinh kế của người dân và ổn định, phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.

Nghị quyết cũng yêu cầu quản lý, khai thác hiệu quả không gian ngầm và không gian lấn biển như một nguồn lực phát triển mới, gắn với yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn và phát triển bền vững.

Về giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất, Nghị quyết xác định việc giao đất, cho thuê đất đối với quỹ đất do Nhà nước quản lý được thực hiện chủ yếu thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất; bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận đất đai giữa khu vực công và khu vực tư.

Nghị quyết yêu cầu quy định rõ các trường hợp phải đấu giá, đấu thầu; các trường hợp không đấu giá, đấu thầu; cũng như các trường hợp nhà đầu tư được tự thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất. Mỗi phương thức phải có điều kiện, tiêu chí, trình tự, trách nhiệm và cơ chế giám sát rõ ràng, minh bạch, vừa cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh, vừa phòng, chống tiêu cực và lợi ích nhóm.

Người sử dụng đất được lựa chọn hình thức thuê đất trả tiền hằng năm hoặc trả tiền một lần cho cả thời gian thuê phù hợp với mục đích, phạm vi và thời hạn sử dụng. Đồng thời, nghiên cứu thận trọng cơ chế giao đất, cho thuê đất có thời hạn đối với một số loại hình sử dụng đất, bảo đảm đánh giá đầy đủ tác động đến phát triển kinh tế-xã hội, thị trường bất động sản, hệ thống tín dụng và quyền tài sản của người dân.

Đối với đất xây dựng nhà ở thương mại để bán, chủ yếu là nhà chung cư, Nghị quyết xác định giao đất có thời hạn lâu dài. Đối với chung cư xây dựng mới, quy định thời hạn sử dụng căn hộ theo niên hạn công trình gắn với việc bảo đảm quyền tài sản; chủ sở hữu căn hộ được thực hiện nghĩa vụ tài chính để xây dựng lại chung cư theo quy định khi hết thời hạn sử dụng. Nghị quyết cũng yêu cầu hạn chế tối đa việc phân lô, bán nền tại khu vực đô thị, nhất là các đô thị lớn.

Đối với nhà ở cho thuê, nhà ở chính sách và nhà ở công vụ thuộc sở hữu nhà nước, thời hạn sử dụng đất là lâu dài; đồng thời có chính sách ưu đãi trong giao đất, cho thuê đất để khuyến khích khu vực tư nhân phát triển thị trường nhà ở cho thuê với giá phù hợp.

Về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thu hồi đất, Nghị quyết yêu cầu quy định rõ tiêu chí dự án, phạm vi thu hồi đất trong trường hợp thật cần thiết vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, bảo đảm chặt chẽ, tránh lạm dụng nhưng cũng không gây khó khăn cho việc triển khai các dự án.

Đối với các dự án đã đạt được sự đồng thuận của đại đa số người sử dụng đất và nhà đầu tư đã thỏa thuận được phần lớn diện tích, Nhà nước thực hiện thu hồi đối với phần diện tích còn lại. Nghị quyết tiếp tục chủ trương tách dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành dự án độc lập để thực hiện trước; các khu tái định cư phải bảo đảm hạ tầng, dịch vụ thiết yếu và quan tâm đến sinh kế của người dân.

Về giá đất, tài chính đất đai và điều tiết địa tô chênh lệch, Phó Thủ tướng Thường trực cho biết đây là nội dung khó, được các địa phương đặc biệt quan tâm. Nghị quyết khẳng định giá đất do Nhà nước quyết định trên cơ sở mục tiêu phát triển của từng thời kỳ, bảo đảm chi phí đầu vào hợp lý cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội.

Nhà nước ban hành bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất, tỉ lệ thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và tỉ lệ bồi thường phù hợp với thực tiễn theo từng loại đất, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư.

Việc xác định, thẩm định và quyết định giá đất được thực hiện theo nguyên tắc Trung ương ban hành tiêu chí khung, nguyên tắc, phương pháp và cơ chế kiểm tra, giám sát; địa phương quyết định giá đất. Cơ quan tài chính quản lý giá đất, xây dựng bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất. Đồng thời, có cơ chế điều tiết hợp lý nguồn thu từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất giữa Trung ương và địa phương; điều tiết giá trị tăng thêm từ đất do quy hoạch, đầu tư hạ tầng, chuyển mục đích sử dụng đất và mở rộng không gian đô thị nhằm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm, tạo nguồn lực cho hiện đại hóa hạ tầng, chỉnh trang đô thị, phát triển nhà ở cho thuê và thực hiện các chính sách an sinh xã hội.

Về công cụ tài chính và chính sách thuế, Nghị quyết yêu cầu nghiên cứu xây dựng chính sách tài chính, thuế với lộ trình phù hợp nhằm khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, bảo đảm việc găm giữ đất không sử dụng trở nên tốn kém hơn lợi ích từ đầu cơ. Trong đó, nghiên cứu áp dụng cơ chế điều tiết địa tô chênh lệch đối với phần thặng dư trong kinh doanh bất động sản; áp dụng mức thuế cao hơn đối với đất bỏ hoang, chậm đưa vào sử dụng để hạn chế đầu cơ, chống lãng phí và lành mạnh hóa thị trường bất động sản. Đồng thời, có chính sách hợp lý về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với đất sản xuất, kinh doanh và đất phát triển nhà ở cho thuê; thực hiện cơ chế điều tiết, phân bổ nguồn ngân sách hài hòa lợi ích giữa các địa phương có diện tích đất trồng lúa, đất rừng lớn với các địa phương khác.

Để lành mạnh hóa thị trường quyền sử dụng đất và thị trường bất động sản, Nghị quyết yêu cầu công khai thông tin về quy hoạch, pháp lý dự án, giá đất, giao dịch, nghĩa vụ tài chính, tình trạng thế chấp, tranh chấp và hiện trạng sử dụng đất; đẩy mạnh thương mại hóa quyền sử dụng đất; từng bước bắt buộc đăng ký giao dịch quyền sử dụng đất, kết nối dữ liệu đất đai với quy hoạch, công chứng, thuế, ngân hàng, đăng ký giao dịch bảo đảm và kinh doanh bất động sản.

Nghị quyết cũng khuyến khích giao dịch bất động sản thông qua sàn giao dịch, thanh toán qua ngân hàng, không dùng tiền mặt phù hợp với từng loại chủ thể và phương thức giao dịch; phát triển thị trường cho thuê đất nông nghiệp, thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, công nghệ cao trên cơ sở tự nguyện, minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nông dân; đồng thời hoàn thiện cơ chế xử lý quyền sử dụng đất khi doanh nghiệp phá sản, tái cơ cấu hoặc chuyển giao dự án.

Về quản lý, sử dụng đất nông nghiệp, Nghị quyết yêu cầu xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp đối với đất nông, lâm trường; kiên quyết thu hồi diện tích đất được giao nhưng không đầu tư, giao khoán không đúng đối tượng để giao địa phương quản lý; giải quyết dứt điểm tình trạng chồng lấn, tranh chấp và có chính sách ưu tiên giao đất cho đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi thiếu đất sản xuất gắn với cơ chế bảo đảm sử dụng đất đúng mục đích, hiệu quả.

Đẩy mạnh chuyển đổi số, kiểm soát quyền lực, xử lý dứt điểm tồn tại trong quản lý đất đai

Thứ hai, đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về đất đai.

Nghị quyết yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý, sử dụng đất; hoàn thành đúng tiến độ hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, kết nối, chia sẻ đồng bộ từ Trung ương đến địa phương.

Đồng thời, xem xét công nhận, cấp giấy chứng nhận đối với các trường hợp vi phạm thủ tục trong quá khứ nhưng đủ điều kiện theo quy định; không hồi tố đối với các trường hợp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài.

Nghị quyết cũng yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai gắn với nguồn lực, dữ liệu, đội ngũ cán bộ và cơ chế kiểm soát quyền lực; giảm đầu mối, giảm trung gian, giảm thủ tục hành chính và gắn với mức độ hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai.

Thứ ba, đổi mới, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Nghị quyết yêu cầu xây dựng hệ thống kiểm soát quyền lực, kiểm tra, giám sát và thanh tra trên nền tảng cơ sở dữ liệu số thống nhất, liên thông theo thời gian thực để kịp thời cảnh báo, phát hiện và xử lý vi phạm.

Cùng với đó, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền các cấp, nhất là cấp xã, trong giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; đồng thời nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp trong giải quyết tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến đất đai.

Thứ tư, tập trung xử lý dứt điểm các tồn tại, vướng mắc kéo dài trong quản lý, sử dụng đất.

Nghị quyết yêu cầu xây dựng cơ chế đặc thù để xử lý dứt điểm đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường quốc doanh; đất cơ quan, trụ sở dôi dư; đất sau cổ phần hóa, thoái vốn; các dự án tồn đọng kéo dài; đất của các cơ sở sản xuất, đơn vị sự nghiệp đã di dời khỏi trung tâm các đô thị lớn; giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đồng thời xử lý các tồn tại lịch sử trong quản lý, sử dụng đất.

Nghị quyết cũng giao nghiên cứu thí điểm cơ chế Nhà nước mua lại các dự án nhà ở thương mại mà chủ đầu tư không còn khả năng thực hiện hoặc không thể chuyển nhượng để tạo quỹ nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, đáp ứng nhu cầu nhà ở của nhân dân.

Phó Thủ tướng Thường trực cho biết, Nghị quyết số 21-NQ/TW đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan Trung ương, các bộ, ngành và địa phương theo tinh thần rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm nhằm thể chế hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết.

Trên cơ sở Nghị quyết số 21-NQ/TW và Kế hoạch số 07 của Ban Chấp hành Trung ương về triển khai thực hiện Nghị quyết, thực hiện chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Bộ Chính trị, Chính phủ đang khẩn trương xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết. Trọng tâm là sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan theo hướng đồng bộ, thống nhất, bảo đảm tiến độ trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp không thường lệ lần thứ nhất vào tháng 8/2026 và thông qua tại Kỳ họp thứ hai vào tháng 10/2026.

Phó Thủ tướng Thường trực bày tỏ tin tưởng, với sự vào cuộc quyết liệt, khẩn trương của cả hệ thống chính trị và tinh thần đổi mới, sáng tạo, Nghị quyết sẽ khơi thông nguồn lực đất đai – nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng của quốc gia, tạo động lực và mở ra giai đoạn phát triển mới cho đất nước.

Theo Phó Thủ tướng Thường trực, việc phổ biến, quán triệt Nghị quyết số 21-NQ/TW ngay sau khi được ban hành là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình triển khai thực hiện. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là phải tổ chức thực hiện đầy đủ, đúng tinh thần và nội dung của Nghị quyết. Vì vậy, các cấp, các ngành cần khẩn trương xây dựng chương trình, kế hoạch hành động, tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả, góp phần đưa Nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới

Trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới, Phó Thủ tướng Thường trực nhấn mạnh, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, liên quan trực tiếp đến đời sống, sinh kế của nhân dân và phát triển bền vững; đồng thời khẳng định năng lực tự chủ, vị thế quốc tế của đất nước ta trong những thập niên tới.

Nền tảng cho quá trình chuyển đổi xanh, động lực phát triển mới của nền kinh tế

Đánh giá 13 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, Trung ương đã khẳng định tầm nhìn chiến lược của Nghị quyết và những kết quả quan trọng đạt được; đồng thời chỉ rõ những tồn tại, hạn chế, cũng như các bài học kinh nghiệm trong quá trình tổ chức thực hiện.

Trên cơ sở đó, Trung ương đã ban hành Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới. Kết luận đã kế thừa những chủ trương còn giá trị của Nghị quyết số 24-NQ/TW, đồng thời phát triển, bổ sung những chủ trương, quyết sách lớn với tư duy đột phá, tầm nhìn xa nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra trong giai đoạn phát triển mới.

Kết luận số 75-KL/TW xác định rõ, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt trong tổng thể tư duy, tầm nhìn mới; là nền tảng cho quá trình chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh và trở thành một động lực phát triển mới của nền kinh tế.

Bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu là trách nhiệm, nghĩa vụ của cả hệ thống chính trị, các tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và mỗi người dân. Trong mọi quyết định phát triển, cần đặt con người và chất lượng cuộc sống của nhân dân ở vị trí trung tâm; đồng thời phát huy trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp, cộng đồng và từng người dân.

Công tác quy hoạch, định hướng phát triển phải bảo đảm trong giới hạn sinh thái, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường; chuyển từ tư duy ứng phó sang kiến tạo phát triển, từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro; tiếp cận quản lý tổng hợp, liên ngành, liên vùng.

Chủ động phòng ngừa, kiểm soát chặt chẽ, cảnh báo từ sớm, từ xa các nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường; tập trung khắc phục, xử lý những vấn đề bức xúc, các điểm nóng về môi trường; bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên; đẩy nhanh chuyển đổi số xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và chủ động phòng, chống thiên tai.

Khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Việt Nam chủ động, tích cực tham gia có trách nhiệm, đồng thời định hình các sáng kiến, thỏa thuận và cơ chế hợp tác khu vực, toàn cầu nhằm nâng cao vai trò, vị thế quốc gia trong giải quyết các vấn đề toàn cầu.

Kết luận số 75 đặt mục tiêu đến năm 2030 là nâng cao năng lực chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu, thiên tai; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, sinh kế của nhân dân. Các khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhất là ô nhiễm tại đô thị, lưu vực sông, khu, cụm công nghiệp, làng nghề phải được tập trung xử lý, phục hồi.

Chất lượng môi trường sống của nhân dân được cải thiện thực chất; tình trạng suy giảm đa dạng sinh học được ngăn chặn, hướng tới cân bằng sinh thái. Các nguồn thải lớn được kiểm soát chặt chẽ; thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an ninh môi trường và phát triển nhanh, bền vững.

Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam hướng tới có môi trường sống trong lành, hài hòa với thiên nhiên, phát triển bền vững; xây dựng hệ thống quản trị môi trường hiện đại, thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu; trong đó kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp trở thành phương thức phát triển chủ đạo.

Việt Nam trở thành quốc gia có trách nhiệm, vị thế và uy tín cao trong bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.

Cùng với các mục tiêu định tính, Kết luận xác định các chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2026-2030, bao phủ toàn diện các lĩnh vực bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Các chỉ tiêu tập trung vào những cam kết then chốt, như: bảo đảm mức chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường; kiểm soát nghiêm ngặt các nguồn thải, trong đó quan trắc tự động 100% các nguồn nước, khí thải lớn và xử lý nước thải đạt quy chuẩn tại tất cả các cụm công nghiệp.

Các mục tiêu nâng cao chất lượng môi trường sống được lượng hóa cụ thể, như bảo đảm tối thiểu 80% số ngày có chất lượng không khí tốt và trung bình tại các đô thị đặc biệt; tỷ lệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt 95% tại khu vực đô thị và 85% tại khu vực nông thôn.

Đồng thời, Kết luận đặt ra yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học, bảo đảm an toàn dân cư trước thiên tai, đẩy mạnh chuyển đổi xanh với tỷ trọng kinh tế xanh đạt 10% GDP; tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt tối thiểu 26,1%; giảm phát thải khí nhà kính ít nhất 9%.

Những chỉ tiêu định lượng cụ thể này thể hiện tư duy quản trị hiện đại, là căn cứ quan trọng để các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch, phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện và đánh giá thực chất hiệu quả triển khai Kết luận số 75-KL/TW.

9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

Để cụ thể hóa các mục tiêu đã đề ra, Trung ương xác định 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm tạo chuyển biến căn bản trong công tác bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm xã hội; lan tỏa lối sống xanh, tiêu dùng bền vững; xây dựng ý thức tự giác, văn hóa môi trường trong toàn xã hội.

Hai là, hoàn thiện thể chế, siết chặt kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Trong đó, khẩn trương hoàn thiện Luật Bảo vệ môi trường và các quy định pháp luật có liên quan, bảo đảm đồng bộ, thống nhất; nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu, thiên tai.

Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát; kết hợp giữa tiền kiểm và tăng cường hậu kiểm; quy định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan; lấy kết quả thực hiện các mục tiêu về môi trường làm một trong những tiêu chí đánh giá.

Hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm theo hướng đủ sức răn đe; tăng cường hướng dẫn, đối thoại, hỗ trợ doanh nghiệp phòng ngừa sai sót, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật.

Ba là, huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Ngân sách nhà nước bố trí tối thiểu 2% tổng chi hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường, bảo đảm giữ vai trò dẫn dắt; đồng thời huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội, nguồn vốn quốc tế, các quỹ khí hậu toàn cầu, nguồn tài chính xanh.

Cùng với đó, hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng linh hoạt, hiệu quả trong huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực.

Bốn là, tập trung giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, kiểm soát chặt chẽ các nguồn gây ô nhiễm.

Trọng tâm là xử lý ô nhiễm không khí tại các đô thị đặc biệt; ô nhiễm tại các lưu vực sông, kênh, mương, hồ; các làng nghề, cụm công nghiệp, khu vực khai thác khoáng sản, khu vực tồn lưu hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật.

Đầu tư phát triển hạ tầng phục vụ phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải; giảm mạnh tỷ lệ chôn lấp trực tiếp chất thải rắn sinh hoạt.

Các nguồn phát sinh nước thải, khí thải lớn phải được giám sát tự động, liên tục, không để phát sinh các khu vực ô nhiễm nghiêm trọng.

Năm là, bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Hiện đại hóa công tác quản lý, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên gắn với chuyển đổi số; thực hiện các giải pháp dựa vào tự nhiên, bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái quan trọng.

Sáu là, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro thiên tai.

Theo đó, cần cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu, điều chỉnh chiến lược, quy hoạch và xây dựng phương án phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai phù hợp với điều kiện từng địa phương.

Chú trọng đầu tư phát triển hạ tầng có khả năng chống chịu với thiên tai và biến đổi khí hậu; tập trung giải quyết tình trạng ngập úng tại các đô thị, nhất là các đô thị lớn; phát triển đô thị theo hướng chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đồng thời, nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm; quy hoạch di dời người dân khỏi các khu vực có nguy cơ cao xảy ra lũ quét, sạt lở; bảo đảm sinh kế bền vững tại nơi ở mới.

Bảy là, đẩy mạnh chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn và quản lý phát thải khí nhà kính.

Trong đó, chuyển đổi các ngành kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, carbon thấp; phát triển các ngành kinh tế mới, công nghiệp tái chế, giao thông xanh, đô thị xanh; thúc đẩy tuần hoàn vật liệu và sản phẩm trong toàn bộ chuỗi giá trị.

Bảo đảm công bằng trong quá trình chuyển đổi; chú trọng đào tạo, chuyển đổi nghề, hỗ trợ sinh kế cho người lao động và các nhóm dễ bị tổn thương.

Hoàn thiện các quy định về đo lường, thẩm định phát thải khí nhà kính theo tiêu chuẩn quốc tế; quản lý chặt chẽ hoạt động trao đổi tín chỉ carbon, đồng thời xây dựng các tiêu chuẩn tín chỉ carbon trong nước.

Tám là, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và nguồn nhân lực. Ưu tiên nghiên cứu, phát triển, chuyển giao và ứng dụng các công nghệ quan trắc, dự báo, cảnh báo; công nghệ sạch, tái chế, xử lý chất thải, giảm phát thải, thu hồi, lưu giữ và tái sử dụng carbon.

Tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về môi trường và biến đổi khí hậu thống nhất, đồng bộ, tích hợp, liên thông, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát và công khai thông tin.

Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý môi trường, nhất là cán bộ cấp xã; xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành; thúc đẩy liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp; có chính sách đãi ngộ phù hợp.

Chín là, đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế. Việt Nam chủ động tham gia định hình các sáng kiến, thỏa thuận, cơ chế hợp tác khu vực và toàn cầu về môi trường, khí hậu; tăng cường ngoại giao môi trường, ngoại giao khí hậu.

Đồng thời, tăng cường hợp tác trong xử lý các vấn đề môi trường xuyên biên giới, quản lý tài nguyên nước, phòng, chống thiên tai, bảo đảm an ninh môi trường, an ninh khí hậu.

Kết luận số 75-KL/TW đã phân công rõ trách nhiệm cho các cơ quan Trung ương, các bộ, ngành, địa phương trong quá trình triển khai thực hiện.

Trên tinh thần Kết luận, Chính phủ đang khẩn trương xây dựng chương trình hành động; thể chế hóa các chủ trương, quan điểm của Trung ương, lồng ghép, tích hợp yêu cầu về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, huy động, bố trí nguồn lực; kiểm tra, giám sát tiến độ, chất lượng thực hiện.

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 3- Ảnh 8.

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương quán triệt 2 chuyên đề tại Hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV diễn ra vào sáng nay (29/7), đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đã quán triệt 2 chuyên đề: "Kết luận về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp" và chuyên đề "Về sửa đổi, bổ sung Quy định số 20-QĐ/TW, ngày 8/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng".

Chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy là hoàn toàn đúng đắn

Về Chuyên đề "Kết luận về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp", đồng chí Nguyễn Duy Ngọc cho biết, sau 1 năm triển khai mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Ban Chấp hành Trung ương khẳng định: Chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới; là quyết sách chiến lược, mang tính cách mạng sâu sắc trong đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tổ chức quyền lực nhà nước và quản trị quốc gia hiện đại.

Tuy nhiên, kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu, quá trình vận hành mô hình mới vẫn còn một số hạn chế, bất cập về thể chế, phân cấp, phân quyền, phân bổ nguồn lực, về sắp xếp, bố trí, chất lượng đội ngũ cán bộ, chuyển đổi số và năng lực tổ chức thực hiện, nhất là ở cấp xã. 

Đây là những vấn đề tất yếu phát sinh trong quá trình chuyển đổi mô hình, cần tiếp tục được rà soát, khắc phục, hoàn thiện; hoàn toàn không làm thay đổi tính đúng đắn và hiệu quả của chủ trương đổi mới tổ chức bộ máy.

Trong thời gian tới cần tiếp tục "tinh chỉnh" để hoàn thiện tổ chức bộ máy bên trong; đồng thời chuyển mạnh trọng tâm sang nâng cao chất lượng vận hành, năng lực quản trị quốc gia, năng lực kiến tạo phát triển và hiệu quả phục vụ nhân dân; bảo đảm hệ thống chính trị đủ năng lực tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và của cấp ủy các cấp.

Hội nghị Trung ương 3 đã thống nhất xác định 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Cụ thể là: Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị và xã hội. 

Hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với nguồn lực và kiểm soát quyền lực. Hoàn thiện mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và cơ chế vận hành của chính quyền địa phương 2 cấp. 

Xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của mô hình mới. Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá và phát huy trách nhiệm người đứng đầu. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội và nhân dân. 

Xử lý hiệu quả tài sản công, hồ sơ lưu trữ và bảo đảm nguồn lực cho cơ sở. Lấy chuyển đổi số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo làm phương thức đột phá trong vận hành mô hình mới.

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 3- Ảnh 9.

Các đại biểu tham dự Hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Cụ thể hóa chủ trương của Trung ương về mô hình tổ chức đảng trong giai đoạn mới

Về Chuyên đề "Về sửa đổi, bổ sung Quy định số 20-QĐ/TW, ngày 8/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng", đồng chí Nguyễn Duy Ngọc cho biết, việc sửa đổi, bổ sung Quy định 20-QĐ/TW lần này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, bảo đảm thống nhất với mô hình tổ chức của hệ thống chính trị sau sắp xếp. 

Thực tiễn lịch sử 96 năm xây dựng và phát triển đã khẳng định: Mô hình tổ chức của Đảng luôn được điều chỉnh, hoàn thiện phù hợp với yêu cầu lãnh đạo cách mạng trong từng giai đoạn.

Từ mô hình 6 cấp trong thời kỳ đầu thành lập Đảng, từng bước chuyển dần sang mô hình 5 cấp, 4 cấp trong nhiều thập niên và hiện nay - sau Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV là mô hình 3 cấp, đã phản ánh quá trình đổi mới tổ chức luôn gắn liền với sự tiếp nối quy luật phát triển khách quan của lịch sử.

"Việc sửa đổi, bổ sung Quy định 20-QĐ/TW là hết sức cần thiết để tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa chủ trương của Trung ương về mô hình tổ chức đảng trong giai đoạn mới; tạo cơ sở chính trị, pháp lý trong việc định danh tên gọi, điều chỉnh, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, mối quan hệ công tác và trách nhiệm chính trị của từng cấp ủy, tổ chức đảng", đồng chí Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh.

Về những nội dung sửa đổi, bổ sung mang tính nguyên tắc, Quy định 20-QĐ/TW được sửa đổi, bổ sung trên tinh thần quán triệt đầy đủ các nguyên tắc của Điều lệ Đảng; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tập trung, thống nhất của Đảng; kế thừa những quy định còn phù hợp, chỉ sửa đổi những nội dung thực sự cần thiết để đáp ứng mô hình cấu trúc mới của tổ chức và yêu cầu thực tiễn; đồng thời bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống các quy định.

Trên cơ sở đó, Quy định về thi hành Điều lệ Đảng của Ban Chấp hành Trung ương là những nội dung mang tính nguyên tắc, khung định hướng chung; tập trung sửa đổi, bổ sung các nhóm nội dung, trong đó có điều chỉnh kết cấu, bố cục Quy định theo hướng khoa học, thống nhất; đồng thời sửa đổi, bổ sung nội dung liên quan đến việc định danh tên gọi các loại hình tổ chức đảng gắn với việc phân định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, mối quan hệ công tác của các loại hình tổ chức đảng theo mô hình mới.

"Ban Chấp hành Trung ương xác định các nhiệm vụ phải triển khai trong thời gian tới là rất lớn, rất khó, chưa có tiền lệ nên trong quá trình tổ chức thực hiện có thể sẽ phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết. 

Do đó, đề nghị các cấp ủy trực thuộc Trung ương, cơ quan, đơn vị căn cứ chủ trương, định hướng, quy định, kết luận của Trung ương, tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, thống nhất, đổi mới, trách nhiệm và hành động, hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ chính trị được giao, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới", đồng chí Nguyễn Duy Ngọc phát biểu.

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 3- Ảnh 10.

Đồng chí Trần Sỹ Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương quán triệt chuyên đề "Quy định về những điều đảng viên không được làm" - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

"Quy định về những điều đảng viên không được làm"

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV diễn ra vào sáng nay (29/7), đồng chí Trần Sỹ Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã quán triệt Chuyên đề "Quy định về những điều đảng viên không được làm".

Đồng chí Trần Sỹ Thanh cho biết Quy định mới thay thế Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 là một trong những văn bản có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Quy định mới giữ nguyên 19 điều, thể hiện tính kế thừa, ổn định của khung quy định gần 30 năm qua. Tuy nhiên, nội dung các điều đã được rà soát, sắp xếp lại theo hướng khoa học, logic, tập hợp thành ba nhóm lớn: Nhóm nội dung về công tác tư tưởng chính trị (từ Điều 1 đến Điều 8). 

Nhóm nội dung về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao gắn với đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (từ Điều 9 đến Điều 17). Nhóm nội dung về giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống (Điều 18, 19).

Cách sắp xếp này giúp đảng viên khi học tập, nghiên cứu dễ hiểu, dễ nhớ, dễ vận dụng hơn trong thực tiễn; đồng thời giúp việc tra cứu, đối chiếu, áp dụng được thuận lợi, chính xác hơn.

Việc ban hành Quy định tiếp tục thể hiện thông điệp mạnh mẽ về quyết tâm chính trị của toàn Đảng trong việc chủ động phòng ngừa, cảnh báo từ sớm; ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đi cùng với bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên liêm chính, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Về những điểm mới so với Quy định số 37-QĐ/TW, đối với nhóm nội dung về công tác tư tưởng chính trị, tại Điều 2, Quy định mới bổ sung cụm từ "hoặc chấp hành không đúng, không đầy đủ" bên cạnh hành vi "không chấp hành" các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, để phù hợp với thực tiễn và khắc phục, xử lý việc chấp hành không đúng, "chấp hành nửa vời", làm không đến nơi đến chốn có thể gây hậu quả không kém gì việc không chấp hành. Bổ sung việc đảng viên không được tự ứng cử, nhận đề cử và cử vào các "tổ chức tôn giáo", "tổ chức nước ngoài" để phù hợp các quy định về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, về bảo vệ chính trị nội bộ.

Tại Điều 3, mở rộng thêm việc đảng viên không được phản bác, phủ định "lý luận về đường lối đổi mới"; không được có các hành vi "lợi ích nhóm", cục bộ, "lạm quyền", giúp nhận diện rõ hơn nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Tại Điều 4, bổ sung các nội dung liên quan đến dữ liệu để ngăn chặn các hành vi cung cấp, làm lộ, làm mất hoặc viết bài, đăng thông tin, tài liệu, dữ liệu bí mật của Đảng, Nhà nước, việc tàng trữ, tuyên truyền, phát tán dữ liệu dưới mọi hình thức để truyền bá quan điểm trái với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 

Việc bổ sung khái niệm "dữ liệu" đã phản ánh đúng bản chất của thời đại số, khi bí mật không chỉ tồn tại dưới dạng văn bản giấy mà còn là dữ liệu số, dữ liệu điện tử.

Đối với nhóm nội dung về thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao gắn với đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đây là nhóm có số lượng điều được sửa đổi, bổ sung nhiều nhất, thể hiện rõ tinh thần siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới.

Trong đó tại Điều 9, quy định mới bổ sung yêu cầu đảng viên phải "giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập có biến động" một cách trung thực, không chỉ dừng ở việc kê khai như trước, mà đòi hỏi phải giải trình được nguồn gốc khi tài sản có biến động. 

Tại Điều 10, quy định mới đưa vào nội dung cấm đảng viên "thực hiện phân bổ nguồn lực thiếu minh bạch, không đúng với chủ trương, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước" và đặc biệt là cấm hành vi "thiết kế tiêu chí, điều kiện mang tính riêng biệt nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tiếp cận nguồn lực, trái quy định".

Tại Điều 12, quy định mới mở rộng phạm vi các hành vi chạy chức, chạy quyền, bổ sung thêm nhiều khâu trong công tác cán bộ. Quy định bổ sung 5 hành vi có tính thời sự: "lợi dụng việc sắp xếp tổ chức bộ máy để bố trí người không đủ năng lực, uy tín vào vị trí có quyền phân bổ nguồn lực".

Trong bối cảnh cả nước đang thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy, sắp xếp đơn vị hành chính, đây là quy định hết sức cần thiết và kịp thời để phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ lợi dụng quá trình sắp xếp nhằm "cài cắm" người thân tín, không đủ năng lực, uy tín vào những vị trí then chốt. 

Tại Điều 13, bổ sung thêm hành vi "trốn thuế", "lừa đảo" bên cạnh tham ô, hối lộ, rửa tiền, nhằm ngăn chặn các hành vi sẽ có chiều hướng gia tăng cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, xã hội số.

Về nhóm nội dung về giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, tại Điều 18, mở rộng phạm vi từ mức "bê tha" trong sử dụng rượu, bia sang khái niệm rộng hơn là "có những hành vi sai lệch chuẩn mực đạo đức, vi phạm pháp luật"; bổ sung yêu cầu về trách nhiệm đảng viên không được "thờ ơ, vô cảm" với các hành vi sai trái trong xã hội; đồng thời lược bỏ nội dung liên quan đến chính sách dân số, sửa đổi quan hệ "sống chung với người khác như vợ chồng" trước đây thành cụm từ bao quát hơn là "vi phạm quy định về hôn nhân và gia đình". 

Tại Điều 19, bổ sung hành vi không được lợi dụng "cơ chế, chính sách dân tộc" để trục lợi, "thực hiện hành vi trái đạo đức xã hội, vi phạm pháp luật" phù hợp với Luật Tín ngưỡng, tôn giáo hiện hành.

Ngoài các nội dung trên, các nội dung cụ thể sẽ được hướng dẫn chi tiết trong Hướng dẫn thực hiện Quy định của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Nhìn tổng thể các nhóm nội dung nêu trên, có thể khái quát: Quy định mới đã có bước phát triển rất quan trọng, bao quát thêm các nội dung mà qua tổng kết 5 năm thực hiện Quy định số 37-QĐ/TW đã chỉ ra cần phải sửa đổi, bổ sung. Đồng thời cập nhật, bổ sung thêm nhiều nội dung phù hợp thực tiễn trong giai đoạn hiện nay và trong giai đoạn phát triển mới.

Quy định mới về những điều đảng viên không được làm là sự kế thừa, phát triển và hoàn thiện một bước quan trọng công cụ kiểm soát quyền lực trong Đảng, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn mới. 

Việc quán triệt sâu sắc, tổ chức thực hiện nghiêm túc Quy định này chính là hành động thiết thực nhất để mỗi đảng viên khẳng định bản lĩnh chính trị, giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng, xứng đáng là chiến sĩ tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc, góp phần xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh.

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 3- Ảnh 11.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, các địa phương, các tổ chức đảng trong toàn hệ thống chính trị.

Thưa toàn thể các đồng chí cán bộ, đảng viên và đồng bào cả nước,

Hôm nay, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các Nghị quyết, Kết luận, Quy định của Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Qua các chuyên đề, chúng ta đã làm rõ nội dung cốt lõi, điểm mới và những yêu cầu triển khai thực hiện. Tôi đánh giá cao tinh thần nghiêm túc, trách nhiệm của các đồng chí.

Hội nghị Trung ương 3 đã thống nhất cao nhiều nội dung, quyết định nhiều chủ trương lớn về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển và bảo vệ đất nước. Đây là bước cụ thể hóa quan trọng Nghị quyết Đại hội XIVcủa Đảng, gắn nhiệm vụ năm 2026 với mục tiêu cả nhiệm kỳ, đến năm 2030, năm 2045. Các quyết sách cùng hướng tới nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, khả năng quản trị, phát triển, bảo vệ đất nước; làm cho bộ máy của hệ thống chính trị vận hành hiệu quả hơn, nguồn lực được khơi thông, đời sống Nhân dân được nâng cao, đất nước phát triển.

Chúng ta đã thống nhất nhận thức: Triển khai phải rõ việc, rõ người, rõ thời hạn, rõ hiệu quả, rõ trách nhiệm. Chất lượng thực thi là thước đo năng lực lãnh đạo, cầm quyền và hiệu quả vận hành của hệ thống; phải chuyển nhận thức thành hành động, quyết tâm thành kết quả.

Trên tinh thần đó, tôi đề nghị toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị tập trung quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt 5 vấn đề.

Thứ nhất, thống nhất nhận thức, nắm vững tư tưởng chỉ đạo, những điểm mới và mối quan hệ hữu cơ giữa các quyết sách, bước chuyển chiến lược của Trung ương; hiểu đúng để hành động thống nhất.

Điều cần nhận thức sâu sắc là các quyết sách của Trung ương là một hệ thống liên thông, gắn kết cùng hướng tới đổi mới đồng bộ phương thức lãnh đạo, quản trị, phát triển và bảo vệ đất nước. Công tác xây dựng Đảng, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ phải giúp nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và chất lượng vận hành; không gian phát triển, nguồn lực quốc gia phải được quản trị thống nhất, sử dụng hiệu quả; mô hình phát triển phải dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và con người, phải bám sát thực tiễn Việt Nam; quốc phòng, an ninh, đối ngoại, môi trường phải chủ động phòng ngừa, nâng cao sức chống chịu, khả năng thích ứng và bảo vệ vững chắc đất nước. Các nhiệm vụ đó là một thực thể hữu cơ; khâu nào chậm, yếu đều ảnh hưởng đến kết quả chung.

Trong xây dựng Đảng, phải kết hợp giữa "xây" và "chống", giữa kỷ luật nghiêm minh và khuyến khích đổi mới. Thi hành Điều lệ Đảng phải tuyệt đối chấp hành Điều lệ, đúng thẩm quyền; vấn đề mới cần thí điểm phải rõ phạm vi, thời hạn, trách nhiệm và được tổng kết. Quy định về những điều đảng viên không được làm giúp nhận diện, ngăn chặn vi phạm, để cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa; đồng thời bảo vệ tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Trong quản trị không gian và nguồn lực phát triển, phải vượt qua sự chia cắt theo địa giới, ngành, lĩnh vực, nhiệm kỳ; đặt mỗi địa phương, mỗi nguồn lực trong tổng thể liên kết vùng và lợi ích quốc gia. Hoàn thiện pháp luật đất đai phải giữ vững nguyên tắc sở hữu toàn dân, đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, là không gian sinh tồn và phát triển. Quản lý và sử dụng đất phải đảm bảo lợi ích chung của toàn dân, góp phần nâng cao đời sống Nhân dân, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Nhà nước không xem xét lại quyền sử dụng đất hợp pháp theo chính sách, pháp luật đất đai qua các thời kỳ. Nhà nước bảo đảm cải thiện chỗ ở, sinh kế của người có đất thu hồi.

Phát triển kinh tế biển phải gắn bảo vệ hệ sinh thái, nâng cao đời sống Nhân dân, giữ vững chủ quyền và phát triển đất nước. Kinh tế biển chỉ là một thành tố trong mục tiêu xây dựng Quốc gia biển mạnh. Chúng ta phải tích cực chuẩn bị các điều kiện để đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị biển hiện đại, có công nghệ biển tiên tiến.

Đổi mới mô hình phát triển không chỉ là điều chỉnh tăng trưởng, mà là đổi mới cách tạo ra, phân bổ và thụ hưởng thành quả phát triển; lấy Nhân dân và con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực. Khoa học, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao phải trở thành động lực chủ yếu. Tăng trưởng phải được tạo ra từ từng ngành, địa bàn, doanh nghiệp, hộ kinh doanh, người lao động; để mọi chủ thể có thêm cơ hội đóng góp và thụ hưởng.

Trong bảo vệ đất nước và phát triển bền vững, phải quán triệt quan hệ thống nhất giữa an ninh và phát triển. Phát triển phải tạo thêm tiềm lực, sức chống chịu; bảo đảm an ninh phải giữ vững môi trường ổn định cho phát triển. Phải chuyển từ trạng thái tập trung ứng phó, khắc phục hậu quả sang chủ động nhận diện, dự báo, phòng ngừa, thích ứng; bảo vệ vững chắc Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời bảo đảm an ninh con người, dữ liệu, năng lượng, nguồn nước, hạ tầng trọng yếu. Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng trước mắt.

Thứ hai, khẩn trương cụ thể hóa đồng bộ các quyết sách thành chương trình, kế hoạch hành động sát thực tiễn, có trọng tâm, trọng điểm, rõ thứ tự ưu tiên và liên thông giữa các nhiệm vụ

Nghị quyết phải đi cùng chương trình hành động. Chương trình hành động phải mang hơi thở, nhịp sống, đặc thù của từng bộ, ngành, địa phương, cơ sở để có thể thực thi hiệu quả. Mỗi chương trình phải rõ mục tiêu, nhiệm vụ, cơ quan chủ trì, phối hợp, thẩm quyền, nguồn lực, tiến độ, sản phẩm, dữ liệu đánh giá và người chịu trách nhiệm. Không hành chính hóa việc thực hiện; không lấy số lượng kế hoạch, hội nghị thay cho kết quả.

Ngay sau Hội nghị hôm nay, các cấp ủy, cơ quan, địa phương phải rà soát chương trình thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các Nghị quyết của Đảng và Văn kiện Hội nghị Trung ương 3. Nhiệm vụ cùng mục tiêu, đối tượng, địa bàn phải được tích hợp; nội dung chồng chéo phải được xử lý; nguồn lực phải điều phối theo mục tiêu chung. Không để nhiều đầu mối cùng làm nhưng không có cơ quan chịu trách nhiệm đến cùng.

Cần phân loại rõ công việc. Việc đã rõ chủ trương, đủ căn cứ và điều kiện phải thực hiện ngay. Việc cần thể chế hóa phải xác định cơ quan, thời hạn, sản phẩm cụ thể. Việc mới, khó, chưa có tiền lệ phải làm rõ nguyên tắc, thẩm quyền, phạm vi thí điểm, nguồn lực, cơ chế kiểm soát. Không lấy lý do chưa có tiền lệ để trì hoãn; cũng không nóng vội, duy ý chí.

Thể chế hóa phải kịp thời, đồng bộ, chuyển chủ trương của Đảng thành quy định rõ ràng, khả thi. Cấp nào có thẩm quyền phải chủ động giải quyết; vấn đề vượt thẩm quyền phải báo cáo ngay, đồng thời đề xuất phương án xử lý. Không chỉ chuyển văn bản lên cấp trên rồi chờ đợi; không để khoảng trống pháp lý, hướng dẫn thiếu thống nhất làm chậm công việc, phát sinh thêm thủ tục, chi phí cho người dân, doanh nghiệp.

Về hệ thống chính quyền địa phương 2 cấp, Trung ương không đặt vấn đề sắp xếp, điều chỉnh lại địa giới hành chính cấp xã, vì cơ bản cả hệ thống đang hoạt động ổn định, hiệu quả. Tỉnh, thành phố nào thấy thật sự cần thiết phải điều chỉnh, căn cứ chủ trương của Đảng, Pháp luật của Nhà nước, quy hoạch, thực tiễn quản trị và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân thì đề xuất cấp có thẩm quyền quyết định. Phương án đề xuất điều chỉnh địa giới hành chính phải khoa học, thận trọng, khả thi, tạo đồng thuận, phải phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Kiên quyết loại bỏ tư tưởng "thuận cán bộ, khổ Nhân dân" . Ban thường vụ, Ban chấp hành tỉnh, thành ủy phải chịu trách nhiệm về đề xuất đó.

Tiến độ triển khai Nghị quyết phải được thiết kế trong từng nhiệm vụ. Trong 6 tháng cuối năm 2026, phải bảo đảm bộ máy vận hành thông suốt, xử lý điểm nghẽn cấp bách, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu kinh tế - xã hội. Trong nhiệm kỳ khóa XIV, phải cơ bản thể chế hóa các quyết sách, hoàn thiện phân cấp, phân quyền, tạo nền tảng cho mô hình phát triển mới. Hướng tới năm 2030, năm 2045, phải nâng cao năng lực tự chủ, sức cạnh tranh, khả năng thích ứng và sức chống chịu của đất nước.

Thứ ba, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, bảo đảm đầy đủ các điều kiện thi hành để hệ thống chính trị vận hành thông suốt, tương tác hiệu quả.

Sau một năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hoạt động ổn định, thông suốt, hiệu quả nhưng chất lượng chưa đồng đều, nhất là ở cơ sở. Mục tiêu hiện nay là tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị, phục vụ Nhân dân. Phải tiếp tục hoàn thiện chức năng, thẩm quyền, năng lực thực thi. Phải chuyển mạnh hơn nữa, nhanh hơn nữa từ quản lý sang phục vụ, kiến tạo; từ xử lý phân tán sang quản trị tổng hợp dữ liệu; từ chờ hướng dẫn sang chủ động giải quyết, chịu trách nhiệm.

Tổ chức thực hiện phải đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, phát huy đúng chức năng, thẩm quyền của từng cơ quan. Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra; Quốc hội và HĐND các cấp thể chế hóa, quyết định, giám sát; Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương bố trí nguồn lực, tổ chức thực hiện; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tuyên truyền, vận động, giám sát, phản biện xã hội. Phải bảo đảm sự liên thông giữa lãnh đạo, thể chế hóa, thực hiện và giám sát; không làm thay chức năng của nhau.

Trung ương tập trung chiến lược, thể chế, nền tảng dùng chung, nguồn lực lớn và kiểm tra. Cấp tỉnh cụ thể hóa chủ trương, tổ chức không gian phát triển, điều phối nguồn lực, bảo đảm điều kiện cho cấp xã hoạt động thông suốt. Cấp xã là tuyến đầu của quản trị công, trực tiếp giải quyết mọi nhu cầu, công việc của người dân, doanh nghiệp; phải đủ năng lực quản trị sự phát triển. Phải tự trưởng thành qua tổ chức triển khai công việc.

Trung ương phân quyền cho địa phương. Cấp tỉnh phân cấp những nhiệm vụ cấp xã có thể làm. Cấp xã phải nỗ lực đảm đương những nhiệm vụ được giao, không đẩy lên trên việc thuộc trách nhiệm của mình. Khi cấp xã thiếu điều kiện thực thi, cấp tỉnh phải chủ động tháo gỡ, nếu nội dung công việc vượt qua thẩm quyền thì báo cáo Trung ương xem xét. Mỗi nhiệm vụ phải có một đầu mối chịu trách nhiệm chính, có cơ chế phối hợp rõ rằng, có nguồn dữ liệu dùng chung và kết quả phải đo, đếm được.

Phân cấp, phân quyền phải đồng bộ với nhân lực, tài chính, dữ liệu, công nghệ và kiểm soát quyền lực. Dữ liệu phải đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, được chia sẻ theo thẩm quyền; chấm dứt việc người dân phải cung cấp lại thông tin Nhà nước đã có trong hệ thống. Hệ thống thông tin phải phục vụ điều hành, cảnh báo, giám sát, quy trách nhiệm; không tạo thêm thủ tục, phần mềm, báo cáo hình thức.

Thứ tư, tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đề cao trách nhiệm nêu gương và vai trò quyết định của người đứng đầu.

Cán bộ là nhân tố quyết định chất lượng tổ chức thực hiện. Nghị quyết đúng, nguồn lực đủ nhưng cán bộ thiếu năng lực, thiếu trách nhiệm, không dám làm thì công việc vẫn trì trệ. Đánh giá cán bộ phải dân chủ, công khai, công tâm, khách quan; gắn với vị trí việc làm, sản phẩm, tiến độ, hiệu quả, uy tín trong Đảng, tín nhiệm trong Nhân dân; lấy kết quả thực hiện nghị quyết làm căn cứ.

Các cấp ủy, địa phương phải bố trí cán bộ đúng năng lực, chuyên môn, nhất là ở cấp xã và vị trí trực tiếp thực thi quyết sách; đào tạo theo vị trí việc làm. Kịp thời thay thế, cho từ chức cán bộ yếu kém, né tránh, đùn đẩy; trọng dụng, bảo vệ cán bộ liêm chính, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Phải phân biệt rõ cán bộ dám đổi mới với hành vi lợi dụng thí điểm, chính sách đặc thù hoặc cơ chế bảo vệ cán bộ để vụ lợi, hợp thức hóa, bao che sai phạm.

Người đứng đầu phải trực tiếp chỉ đạo việc lớn, việc khó, điểm nghẽn kéo dài; kiểm tra tiến độ, lắng nghe cơ sở, doanh nghiệp, Nhân dân; quyết định theo thẩm quyền, chịu trách nhiệm đến cùng. Không chỉ giao việc rồi chờ báo cáo; không nhận thành tích nhưng đẩy trách nhiệm khi chậm trễ. Người lãnh đạo phải sâu sát thực tiễn, hiểu địa bàn, lĩnh vực phụ trách, kịp thời nhận diện và giải quyết vấn đề.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thường xuyên tự soi, tự sửa, nêu gương bằng kết quả cụ thể. Kỷ luật nghiêm minh không phải để cán bộ sợ trách nhiệm, mà để mỗi người biết rõ giới hạn, đúng vai, đúng thẩm quyền, yên tâm đổi mới, cống hiến.

Thứ năm, thiết lập kỷ luật thực thi nghiêm minh; tăng cường kiểm tra, giám sát, thông tin, tuyên truyền và đánh giá bằng dữ liệu, sản phẩm, kết quả thực tế; lấy lợi ích và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo cuối cùng.

Kiểm tra, giám sát phải tiến hành từ đầu, trong suốt quá trình thực hiện, tập trung vào nơi có nguy cơ chậm tiến độ, khâu dễ phát sinh lợi ích nhóm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và vấn đề Nhân dân quan tâm. Phải theo dõi, cảnh báo sớm, tháo gỡ kịp thời; không chờ đến khi nhiệm vụ chậm, nguồn lực bị lãng phí hoặc hậu quả phát sinh mới kiểm tra, xử lý.

Phải làm rõ chủ trương đã được thể chế hóa đến đâu, bộ máy vận hành tốt hơn thế nào? điểm nghẽn nào được tháo gỡ ? nguồn lực nào được khơi thông? người dân, doanh nghiệp được hưởng lợi gì ? Một nhiệm vụ chỉ hoàn thành khi có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng và hiệu quả thực tế. Kết quả phải là căn cứ đánh giá cán bộ; biểu dương nơi làm tốt, bảo vệ người dám đổi mới; xử lý nghiêm biểu hiện né tránh, đùn đẩy, hình thức, trục lợi.

Phải thường xuyên lắng nghe Nhân dân, doanh nghiệp, trí thức, chuyên gia, cán bộ cơ sở; coi phản hồi thực tiễn là kênh kiểm chứng chính sách. Khi vướng mắc phát sinh trên diện rộng, phải xem xét đồng thời trách nhiệm thực hiện và bất cập của cơ chế; không quy mọi hạn chế cho cơ sở, cũng không lấy chính sách để bao biện cho yếu kém. Qua kiểm tra phải tháo gỡ khó khăn, điều chỉnh cách làm, tổng kết thực tiễn, hoàn thiện thể chế.

Công tác thông tin, tuyên truyền phải được xác định trong từng chương trình hành động; bảo đảm kịp thời, chính xác, dễ hiểu, thuyết phục; làm rõ mục tiêu, lợi ích, lộ trình, trách nhiệm để Nhân dân hiểu đúng, tin tưởng, đồng hành. Phải chủ động đấu tranh với thông tin sai trái, xuyên tạc; đồng thời lắng nghe phản biện có cơ sở. Đồng thuận xã hội trước hết được tạo ra bằng chính sách đúng, thực hiện công bằng, công khai và kết quả người dân cảm nhận được.

Trong mọi chương trình hành động, phải đặt con người ở vị trí trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực. Hiệu quả kinh tế phải thống nhất với hiệu quả xã hội; tăng trưởng đi đôi với tiến bộ, công bằng, văn hóa, môi trường, quốc phòng, an ninh. Không đánh đổi lợi ích lâu dài lấy thành tích trước mắt; không để người yếu thế gánh chi phí bất hợp lý. Giá trị của nghị quyết phải thể hiện ở chất lượng sống, cơ hội phát triển, sự an toàn, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân.

Thưa các đồng chí,

Hội nghị hôm nay mở ra giai đoạn tổ chức thực hiện với yêu cầu cao hơn về trách nhiệm, kỷ luật và hiệu quả. Những vấn đề Trung ương đã quyết định phải được chuyển ngay thành chương trình, nhiệm vụ, sản phẩm, kết quả cụ thể. Vì vậy, tôi đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, địa phương và người đứng đầu bắt tay ngay vào công việc; xác định đúng trọng tâm, rõ đầu mối, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, bảo đảm đầy đủ điều kiện thực hiện. Kết quả công việc phải được kiểm chứng bằng chuyển biến thực tế, hiệu quả phục vụ, sự hài lòng của Nhân dân.

Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi cán bộ, đảng viên phải biến nhận thức thành hành động, quyết tâm thành sản phẩm. Với sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, hành động đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự đồng lòng của Nhân dân, chúng ta nhất định đưa các văn kiện Hội nghị Trung ương 3 vào cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí.

Hội nghị Trung ương 3

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV họp từ ngày 20 - 24/7 tại Thủ đô Hà Nội. 

Sau khi xem xét, thảo luận các tờ trình, báo cáo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao nhiều chủ trương, chính sách lớn về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển và bảo vệ đất nước.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước; đoàn kết, thống nhất, chung sức đồng lòng; nêu cao ý chí tự lực, tự cường, đổi mới, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Trong phát biểu bế mạc Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ: Thành công của Hội nghị, mới là bước đầu. Tình hình thế giới sẽ còn diễn biến nhanh, phức tạp, thời cơ và thách thức đan xen. 

Càng trong hoàn cảnh đó, càng phải kiên định mục tiêu, giữ vững nguyên tắc, đoàn kết, kỷ cương; chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

"Với sự lãnh đạo tập trung, thống nhất, quyết liệt của Đảng; sự đồng hành, ủng hộ của nhân dân; tinh thần trách nhiệm, cống hiến của đội ngũ cán bộ, đảng viên và khát vọng vươn lên của toàn dân tộc, chúng ta nhất định thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đưa các quyết sách của Trung ương thành kết quả cụ thể trong cuộc sống", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu.

Theo chương trình, tại Hội nghị, các đại biểu sẽ nghe các đồng chí lãnh đạo truyền đạt, quán triệt các chuyên đề về: Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam; Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; Nghị quyết về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển; Nghị quyết về Chiến lược An ninh quốc gia; Kết luận về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới; Kết luận về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; Quy định về những điều đảng viên không được làm;…

THÔNG BÁO HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 3

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV họp từ ngày 20/7 đến ngày 24/7 tại Thủ đô Hà Nội. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì và có bài phát biểu quan trọng khai mạc, bế mạc Hội nghị.

Tại Hội nghị, sau khi xem xét, thảo luận các tờ trình, báo cáo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao nhiều chủ trương, chính sách lớn về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển và bảo vệ đất nước.

1. Thông qua nội dung các văn kiện sau:

- Quy định về thi hành Điều lệ Đảng (Quy định sửa đổi, bổ sung Quy định số 20-QĐ/TW, ngày 08/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng) tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp lý về mô hình tổ chức đảng; phù hợp với yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong giai đoạn mới.

Quy định về thi hành Điều lệ Đảng kế thừa những nội dung còn giá trị pháp lý và thực tiễn của Quy định 20-QĐ/TW; sửa đổi, bổ sung những nội dung thực sự cần thiết thuộc thẩm quyền để vận hành mô hình tổ chức đảng đồng bộ, thống nhất với mô hình tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và yêu cầu chuyển đổi số từ Trung ương đến cơ sở; tập trung điều chỉnh về tên gọi, vị trí, thẩm quyền, mối quan hệ công tác của các cấp ủy, tổ chức đảng theo mô hình mới trong toàn Đảng.

- Quy định của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV về những điều đảng viên không được làm (thay thế Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII) góp phần hoàn thiện cơ sở để nhận diện sớm, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng, nhất là đối với các hành vi vi phạm mới phát sinh trên không gian mạng, trong quá trình chuyển đổi số và sắp xếp tổ chức, bộ máy; đồng thời là công cụ quan trọng để tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.

Kế thừa những nội dung còn phù hợp của Quy định số 37-QĐ/TW; sửa đổi nội dung không còn phù hợp, bổ sung quy định điều chỉnh hành vi vi phạm mới phát sinh; bảo đảm đồng bộ, thống nhất với Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định hiện hành về nêu gương, kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng, kỷ luật, kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Kết hợp giữa "xây" và "chống"; lấy phòng ngừa, cảnh tỉnh, tự soi, tự sửa là chính.

- Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam

Ban Chấp hành Trung ương thống nhất đánh giá, qua 40 năm đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; quy mô, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao; trở thành nước có thu nhập trung bình cao; đời sống Nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước còn chậm. Trong khi đó, thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thuận lợi, thời cơ, thách thức lớn đan xen. Ở trong nước, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, quyết sách chiến lược, mang tính cách mạng; đặt ra nhiều vấn đề và yêu cầu mới rất cao, nhất là mục tiêu phấn đấu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 – 2030; từ đó, đòi hỏi phải có bước đột phá về đổi mới mô hình phát triển đất nước.

Để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, xác lập nền tảng cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng (2030 – 2130), Ban Chấp hành Trung ương thống nhất cần phải đổi mới mô hình phát triển đất nước với các mục tiêu cụ thể theo các mốc đến năm 2030/2035/2045 và định hướng tầm nhìn đến năm 2130, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn; là một trong những nền kinh tế xanh, sáng tạo, trung tâm sản xuất thông minh hàng đầu của Châu Á; có vị thế quan trọng trong trật tự toàn cầu về tri thức, công nghệ, kinh tế, quốc phòng, an ninh; xã hội văn minh, thịnh vượng, công bằng, bao trùm, hạnh phúc; văn hóa bản sắc, con người phát triển toàn diện; đủ năng lực thích ứng với mọi thay đổi của thời đại và có đóng góp xứng đáng cho nhân loại.

- Nghị quyết về Chiến lược an ninh quốc gia

Ban Chấp hành Trung ương thống nhất đánh giá, qua 5 năm thực hiện tư duy, nhận thức mới về an ninh quốc gia, bảo vệ an ninh quốc gia theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và 07 năm thực hiện Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 05/9/2019 của Bộ Chính trị về Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, công tác bảo vệ an ninh quốc gia đạt nhiều kết quả quan trọng có tính đột phá, bước ngoặt. Cùng với sự phát triển của đất nước, các thách thức đối với an ninh từ bên ngoài, bên trong, từ các không gian mới sẽ ngày càng gia tăng; những rủi ro trong các lĩnh vực trọng điểm ngày càng phức tạp, đa dạng, bao gồm các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống.

Trước bối cảnh, tình hình trên, an ninh quốc gia và bảo vệ an ninh quốc gia đứng trước yêu cầu mới, tư duy mới, cách làm mới, đòi hỏi thực hiện ở cấp độ cao hơn, không chỉ là bảo vệ và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc, nhận diện, đẩy lùi, xử lý hiệu quả mọi nguy cơ, thách thức, mà phải tạo nền tảng cho thành công của phát triển nhanh, bền vững, chất lượng cao, nâng cao mọi mặt đời sống của Nhân dân, thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV và các chủ trương chiến lược của Đảng, hiện thực hóa hai mục tiêu 100 năm.

- Nghị quyết về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển.

Ban Chấp hành Trung ương thống nhất nhận định, thời gian 20 năm tới là giai đoạn quan trọng định hình cấu trúc chính trị, an ninh và mô hình phát triển thế giới. Tình hình trên đòi hỏi phải xây dựng mô hình xã hội phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới; tạo nền tảng chính trị - xã hội vững chắc để thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược mà Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.

Ban Chấp hành Trung ương thống nhất khẳng định, xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, là một trụ cột quan trọng của mô hình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tăng cường sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân, gia đình, cộng đồng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng xã hội văn minh, hiện đại xã hội chủ nghĩa. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nâng cao hình ảnh, uy tín quốc gia; chủ động tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn minh nhân loại, thành tựu khoa học, công nghệ và quản trị tiên tiến, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền, tự chủ, bản sắc văn hóa dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển đất nước.

- Nghị quyết về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật đất đai và các Luật có liên quan tiếp tục kế thừa, khẳng định những quan điểm, mục tiêu cơ bản của Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII "về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" còn nguyên giá trị, đồng thời điều chỉnh, bổ sung một số quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới pháp luật về đất đai đồng bộ, minh bạch, khả thi, vừa khơi thông nguồn lực, đóng góp vào tăng trưởng "2 con số" và phát triển nhanh, bền vững đất nước, vừa bảo đảm quản lý chặt chẽ, công bằng xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của Nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường.

Ban Chấp hành Trung ương thống nhất khẳng định quan điểm: Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, không gian phát triển, không gian sinh tồn; là yếu tố cấu thành chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền kinh tế và an ninh quốc gia; là tư liệu sản xuất đặc biệt, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước; quyền sử dụng đất là yếu tố đầu vào quan trọng cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.

Nhà nước điều tiết, kiểm soát và quyết định giá đất khi đưa vào sử dụng, không để hình thành cơ chế nhiều giá. Chuyển mạnh từ tư duy "bồi thường tài sản bị thu hồi" sang tư duy "tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất", người có đất ở bị thu hồi phải có chỗ ở, điều kiện sống ngang bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Nhà nước tạo điều kiện để công dân có quyền có nơi ở. Ưu tiên dành quỹ đất để phát triển nhà ở cho thuê đáp ứng yêu cầu chỗ ở của Nhân dân.

- Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh khẳng định, xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị; là quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức, doanh nghiệp và người dân; bảo đảm đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước và sự tham gia tích cực, có trách nhiệm của các chủ thể trong xã hội.

Phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn ra biển lớn; đề cao vai trò trung tâm của Nhân dân và doanh nghiệp trong phát triển đất nước theo hướng biển, gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo.

Nghị quyết cũng xác định rõ, mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể đến năm 2030; tầm nhìn đến năm 2045; cùng hệ thống 09 nhiệm vụ giải pháp cụ thể để góp phần xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

- Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp khẳng định, chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới; là quyết sách chiến lược, mang tính cách mạng sâu sắc trong đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tổ chức quyền lực nhà nước và quản trị quốc gia hiện đại.

Ban Chấp hành Trung ương thống nhất khẳng định, trong thời gian tới, cần tiếp tục "tinh chỉnh" để hoàn thiện tổ chức bộ máy bên trong; đồng thời, chuyển mạnh trọng tâm sang nâng cao chất lượng vận hành năng lực quản trị quốc gia, năng lực kiến tạo phát triển và hiệu quả phục vụ Nhân dân; bảo đảm hệ thống chính trị đủ năng lực tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

- Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới kế thừa những chủ trương lớn còn giá trị của Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, đồng thời phát triển những chủ trương, quyết sách lớn để giải quyết các vấn đề đặt ra trong giai đoạn phát triển mới.

Ban Chấp hành Trung ương thống nhất xác định 05 quan điểm chỉ đạo; các mục tiêu đến năm 2030; tầm nhìn đến năm 2045 và 09 nhiệm vụ, giải pháp quan trọng góp phần bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.

Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị căn cứ ý kiến thảo luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Báo cáo tiếp thu, giải trình của Bộ Chính trị để chỉ đạo, tiếp thu, hoàn thiện, ban hành các văn kiện và quán triệt, tổ chức thực hiện; chỉ đạo Đảng ủy Chính phủ căn cứ Nghị quyết của Trung ương chỉ đạo Chính phủ hoàn thiện hồ sơ Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) và các luật liên quan theo quy định, trình Quốc hội xem xét, quyết định.

2. Thảo luận, cho ý kiến và thống nhất thông qua các báo cáo:

- Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị 6 tháng đầu năm và phương hướng nhiệm vụ 6 tháng cuối năm;

- Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm;

- Tình hình quốc tế và một số vấn đề nổi bật cần quan tâm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại;

- Những công việc quan trọng Bộ Chính trị đã giải quyết từ sau Hội nghị Trung ương 2 đến Hội nghị Trung ương 3 và một số nhiệm vụ trọng tâm đến Hội nghị Trung ương 4 khoá XIV.

3. Đồng ý chủ trương thành lập thành phố Quảng Ninh, thành phố Bắc Ninh trực thuộc Trung ương.

Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị chỉ đạo Đảng uỷ Chính phủ căn cứ chủ trương của Trung ương chỉ đạo Chính phủ hoàn thiện Đề án, hồ sơ theo quy định, trình Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp không thường lệ thứ nhất.

4. Đồng ý chủ trương chuyển chức năng, nhiệm vụ tham mưu về công tác dân vận từ Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương sang Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương và đổi tên Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương thành Ban Tuyên giáo Trung ương. Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị xem xét, quyết định theo thẩm quyền.

5. Đồng ý phương án giới thiệu của Bộ Chính trị về nhân sự Bộ trưởng Bộ Nội vụ nhiệm kỳ 2026-2031.

Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị căn cứ kết quả giới thiệu của Trung ương, chính thức giới thiệu nhân sự Bộ trưởng Bộ Nội vụ để Quốc hội khoá XVI, kỳ họp không thường lệ thứ nhất phê chuẩn theo quy định.

6. Thi hành kỷ luật bằng hình thức Cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng đối với đồng chí Bùi Văn Hải, nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh uỷ, nguyên Bí thư Đảng đoàn, nguyên Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh).

Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước; đoàn kết, thống nhất, chung sức đồng lòng; nêu cao ý chí tự lực, tự cường, đổi mới, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Nội dung này, đã nhận được 0 góp ý, hiến kế
Góp ý, hiến kế cho Chính phủ ngay tại đây
Đọc nhiều
Tra cứu ĐIỂM THI TỐT NGHIỆP THPT; PHỔ ĐIỂM; các mốc THỜI GIAN TUYỂN SINH ĐẠI HỌC 2026

Tra cứu ĐIỂM THI TỐT NGHIỆP THPT; PHỔ ĐIỂM; các mốc THỜI GIAN TUYỂN SINH ĐẠI HỌC 2026

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - TRA CỨU ĐIỂM THI TỐT NGHIỆP THPT năm 2026 trên Báo điện tử Chính phủ, Cổng TTĐT Chính phủ từ 8h00 ngày 1/7. Tra cứu PHỔ ĐIỂM KỲ THI TỐT NGHỆP THPT năm 2026.

Chi tiết PHỔ ĐIỂM KỲ THI TỐT NGHIỆP THPT 2026

Chi tiết PHỔ ĐIỂM KỲ THI TỐT NGHIỆP THPT 2026

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức công bố phổ điểm Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.

QUY ĐỊNH MỚI về TIỀN LƯƠNG, LƯƠNG HƯU, TRỢ CẤP, PHỤ CẤP có hiệu lực từ tháng 7/2026

QUY ĐỊNH MỚI về TIỀN LƯƠNG, LƯƠNG HƯU, TRỢ CẤP, PHỤ CẤP có hiệu lực từ tháng 7/2026

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Từ tháng 7/2026, nhiều quy định mới về tiền lương, lương hưu, trợ cấp, phụ cấp, chính sách xã hội chính thức có hiệu lực, được người dân mong chờ.

BÁCH PHÂN VỊ các TỔ HỢP A00, A01, B00, C00, D01, Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026

BÁCH PHÂN VỊ các TỔ HỢP A00, A01, B00, C00, D01, Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Bách phân vị một số tổ hợp môn A00, A01, B00, C00, D01, Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.

TOÀN VĂN: Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

TOÀN VĂN: Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết.

Chúng tôi luôn Lắng nghe và phản hồi Chúng tôi
luôn
Lắng nghe
và phản hồi