Theo đó, lực lượng phòng ngừa, ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp được quy định tại Chương III của Nghị định. Các lực lượng bao gồm: lực lượng nòng cốt, đội ứng phó khẩn cấp, đội công tác tuyên truyền đặc biệt, đội tuần tra đặc biệt, lực lượng rộng rãi, được quy định cụ thể từ Điều 7 đến Điều 11 như sau:
1. Bộ đội chủ lực, Bộ đội địa phương, Dân quân tự vệ; lực lượng ứng phó khẩn cấp khu vực miền Bắc, lực lượng ứng phó khẩn cấp khu vực miền Trung, lực lượng ứng phó khẩn cấp khu vực miền Nam thuộc Bộ Quốc phòng.
2. Công an nhân dân, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở.
3. Lực lượng chuyên ngành tìm kiếm, cứu nạn hàng không, hàng hải và các lực lượng chuyên ngành thuộc Bộ Xây dựng.
4. Lực lượng chuyên ngành về khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu, tai biến địa chất, thủy lợi; lực lượng kiểm lâm; lực lượng làm nhiệm vụ kiểm dịch động, thực vật; lực lượng thủy sản và kiểm ngư thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
5. Lực lượng y tế; lực lượng xung kích phòng, chống thiên tai; các trung tâm, trạm tìm kiếm cứu nạn và các lực lượng chuyên trách có chức năng, nhiệm vụ phòng ngừa, ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa do bộ, ngành trung ương và địa phương quản lý.
1. Đội ứng phó khẩn cấp do Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp thành lập từ lực lượng phòng thủ dân sự chuyên trách, kiêm nhiệm thuộc quyền trước khi ban bố tình trạng khẩn cấp, hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm để ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp.
2. Nhiệm vụ của Đội ứng phó khẩn cấp
a) Thu thập thông tin sự cổ, thảm họa trên địa bàn được phân công; kịp thời phát hiện, thông báo đến cấp có thẩm quyền; sẵn sàng cơ động lực lượng, phương tiện để ứng phó, khắc phục hậu quả và ngăn chặn thảm họa lan rộng; sơ cứu, cấp cứu ban đầu, hỗ trợ y tế khẩn cấp cho người bị thương;
b) Tổ chức huấn luyện, diễn tập để ứng phó, khắc phục tình trạng khẩn cấp;
c) Phối hợp với các lực lượng khác triển khai thi hành Lệnh ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp và thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự chỉ đạo, chỉ huy, điều hành của cấp có thẩm quyền.
1. Căn cứ tình hình thực tế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Đội công tác tuyên truyền đặc biệt từ lực lượng thuộc quyền; Đội công tác tuyên truyền đặc biệt tự giải thể khi tình trạng khẩn cấp được bãi bỏ.
2. Nhiệm vụ của Đội công tác tuyên truyền đặc biệt
a) Tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân tuân thủ Lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp; các biện pháp áp dụng của cấp có thẩm quyền tại địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp;
b) Nắm tình hình trên địa bàn được đặt trong tình trạng khẩn cấp, thông tin chính xác, chống tin giả, góp phần ổn định xã hội; thông tin chỉ đạo, chỉ huy, điều hành của cấp có thẩm quyền đến người dân;
c) Phối hợp với các lực lượng khác triển khai thi hành Lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự chỉ đạo, chi huy, điều hành của cấp có thẩm quyền;
d) Phối hợp với các cơ quan thông tin, truyền thông và chính quyền địa phương để cung cấp các thông tin chính thống, kịp thời, chính xác cho Nhân dân; định hướng dư luận, đấu tranh phản bác các thông tin sai sự thật, xuyên tạc gây hoang mang trong dư luận xã hội;
đ) Vận động Nhân dân chấp hành việc sơ tán, giãn cách, phong tỏa, cứu trợ, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp; tuyên truyền, hướng dẫn kỹ năng phòng chống, ứng phó, tự bảo vệ cho Nhân dân trước thảm họa.
1. Căn cứ tình hình thực tế Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Đội tuần tra đặc biệt từ lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh trật tự ở cơ sở nơi ban bố tình trạng khẩn cấp; Đội tuần tra đặc biệt tự giải thể khi tình trạng khẩn cấp được bãi bỏ.
Trường hợp tình trạng khẩn cấp về quốc phòng Đội tuần tra đặc biệt thực hiện theo quy định pháp luật về tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.
2. Nhiệm vụ của Đội tuần tra đặc biệt: Tuần tra, kiểm tra, kiểm soát liên quan đến việc chấp hành các biện pháp được áp dụng tại địa bàn ban bố tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật.
1. Lực lượng rộng rãi do toàn dân tham gia để thực hiện các nhiệm vụ ứng phó, khắc phục hậu quả trong tình trạng khẩn cấp.
2. Nhiệm vụ của lực lượng rộng rãi
a) Tham gia cứu nạn, sơ tán Nhân dân, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của nhà nước và Nhân dân tại địa bàn đặt trong tình trạng khẩn cấp;
b) Tham gia ứng phó, khắc phục hậu quả thảm họa tại địa bàn đặt trong tình trạng khẩn cấp;
c) Hỗ trợ cung ứng hậu cần, y tế, lương thực, nhu yếu phẩm và các hoạt động thiết yếu khác;
d) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
3. Tổ chức lực lượng rộng rãi:
a) Việc huy động lực lượng rộng rãi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật phải phù hợp với tình hình thực tế và từng đối tượng được huy động;
b) Quyết định huy động phải xác định rõ phạm vi, đối tượng, nhiệm vụ, thời gian và chế độ, chính sách áp dụng;
c) Công dân, tổ chức, doanh nghiệp có trách nhiệm chấp hành quyết định huy động, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
d) Lực lượng rộng rãi có thể được tổ chức theo tổ, đội, nhóm.
4. Quản lý, chỉ huy, sử dụng lực lượng rộng rãi:
a) Lực lượng rộng rãi do chính quyền địa phương trực tiếp quản lý, chỉ huy, sử dụng; việc quản lý, chỉ huy, sử dụng lực lượng rộng rãi phải bảo đảm đúng mục đích, đúng nhiệm vụ, an toàn, hiệu quả;
b) Không được sử dụng lực lượng rộng rãi vào các hoạt động trái pháp luật hoặc ngoài địa bàn đặt trong tình trạng khẩn cấp;
c) Khi tình trạng khẩn cấp được bãi bỏ, lực lượng rộng rãi được giải thể.
5. Quyển và nghĩa vụ của người tham gia lực lượng rộng rãi:
a) Được bảo đảm an toàn, được cung cấp đầy đủ thông tin, hướng dẫn cần thiết để thực hiện nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp;
b) Được hưởng chế độ, chính sách quy định tại Chương II Nghị định này;
c) Có nghĩa vụ chấp hành mệnh lệnh, chỉ đạo, chỉ huy, điều hành của người có thẩm quyền; tuân thủ quy định về an toàn, kỷ luật trong quá trình thực hiện nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp./.