
Sửa đổi, bổ sung quy định về chế độ công tác phí, chi hội nghị là cần thiết
Theo Bộ Tài chính, trên cơ sở tổng hợp đánh giá tình hình thực hiện của các bộ, cơ quan trung ương và địa phương, việc thực hiện chế độ hội nghị, chế độ công tác phí theo Thông tư số 40/2017/TT-BTC và Thông tư số 12/2025/TT-BTC có một số vướng mắc, bất cập so với thực tiễn hiện nay.
Cụ thể, việc sắp xếp lại đơn vị hành chính và triển khai mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, bỏ cấp huyện dẫn đến địa bàn hành chính của tỉnh, xã mở rộng, khoảng cách di chuyển xa.
Theo đó, một số quy định về chế độ công tác phí và chế độ hội nghị hiện hành chưa bao quát đầy đủ tình hình thực tiễn phát sinh (ví dụ: chế độ khoán công tác phí cho đối tượng là cán bộ xã, tỉnh đi công tác trong địa bàn tỉnh, xã; bất cập về chứng từ, hóa đơn thanh toán công tác phí đối với địa bàn đặc thù, khó khăn…).
Thiếu, chưa cập nhật một số quy định về các nội dung chi phát sinh mới trong thực tiễn như: quy định về chi tổ chức hội nghị trực tuyến, hội nghị trực tuyến kết hợp trực tiếp; quy định về chi phí đi lại chưa bao quát các phương tiện mới như xe điện…
Quy định về khoán tiền tự túc phương tiện công tác chưa phù hợp với quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô.
Một số quy định cần được sửa đổi, thay thế để phù hợp với các quy định mới hiện hành như: Quy định số 368-QĐ/TW ngày 08/9/2025 của Ban Chấp hành Trung ương quy định về danh mục vị trí chức danh, nhóm chức danh, chức vụ lãnh đạo của hệ thống chính trị (sau đây gọi là Quy định số 368-QĐ/TW); Nghị định số 185/2026/NĐ-CP ngày 26/5/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố; Nghị định số 272/2025/NĐ-CP ngày 16/10/2025 của Chính phủ về phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030; Nghị định số 35/2026/NĐ-CP ngày 22/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết về phân loại đô thị;...
Do vậy, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, việc nghiên cứu xây dựng dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 40/2017/TT-BTC và Thông tư số 12/2025/TT-BTC là cần thiết.
Mục đích ban hành văn bản: Xây dựng và ban hành Thông tư của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị thay thế Thông tư số 40/2017/TT-BTC và Thông tư số 12/2025/TT-BTC để đảm bảo phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của Thông tư quy định chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị
Phạm vi điều chỉnh: Thông tư này quy định chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do NSNN hỗ trợ;
Đối tượng áp dụng
Đối với chế độ công tác phí: Cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng theo quy định của pháp luật làm việc tại các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do NSNN hỗ trợ. Trong đó, quy định rõ các chức danh lãnh đạo theo Quy định số 368-QĐ/TW.
Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp khi tham gia hoạt động của Hội đồng nhân dân.
Đối với chế độ chi hội nghị: Các hội nghị chuyên môn, hội nghị sơ kết và tổng kết chuyên đề; hội nghị tổng kết năm; hội nghị tập huấn triển khai nhiệm vụ công tác do các cơ quan hành chính nhà nước tổ chức được quy định tại Quyết định số 45/2018/QĐ-TTg ngày 09/11/2018 của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ họp trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; kỳ họp của Hội đồng nhân dân, phiên họp của Thường trực Hội đồng nhân dân và cuộc họp các Ban của Hội đồng nhân dân.
Các hội nghị chuyên môn, hội nghị sơ kết và tổng kết chuyên đề, hội nghị tổng kết năm, hội nghị tập huấn triển khai nhiệm vụ của các đơn vị sự nghiệp công lập.
Các hội nghị chuyên môn, hội nghị tập huấn triển khai nhiệm vụ hoặc các hội nghị được tổ chức theo quy định trong điều lệ của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do ngân sách nhà nước hỗ trợ.
Đại hội thi đua yêu nước các cấp và toàn quốc.
Riêng Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc, hội nghị của các cơ quan thuộc Đảng Cộng sản Việt Nam, kỳ họp Quốc hội, họp Hội đồng dân tộc, các uỷ ban của Quốc hội, phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội thực hiện theo quy định riêng của cấp có thẩm quyền.
Bố cục của dự thảo Thông tư quy định về chế độ chi công tác phí, chế độ chi hội nghị
Dự thảo Thông tư quy định về chế độ chi công tác phí, chế độ chi hội nghị gồm có 04 Chương, 16 Điều:
Chương I: Quy định chung về chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng;
Điều 2. Nguồn kinh phí để chi công tác phí, chi hội nghị;
Điều 3. Quy định chung về chế độ chi công tác phí;
Điều 4. Quy định chung về chế độ chi hội nghị;
Chương II: Chế độ công tác phí
Điều 5. Thanh toán tiền chi phí đi lại;
Điều 6. Phụ cấp lưu trú;
Điều 7. Thanh toán tiền thuê phòng nghỉ tại nơi đến công tác;
Điều 8. Thanh toán khoán tiền công tác phí theo tháng;
Điều 9. Đi công tác theo đoàn công tác phối hợp liên ngành, liên cơ quan;
Điều 10. Chứng từ thanh toán công tác phí;
Chương III: Chế độ chi hội nghị
Điều 11: Nội dung chi tổ chức hội nghị;
Điều 12: Mức chi tổ chức hội nghị;
Điều 13: Hóa đơn, chứng từ thanh toán chi hội nghị;
Điều 14: Đối với Đại hội thi đua yêu nước các cấp và toàn quốc;
Chương IV: Tổ chức thực hiện
Điều 15: Quy định trách nhiệm tổ chức thực hiện;
Điều 16: Hiệu lực thi hành.
Nội dung cơ bản của dự thảo Thông tư quy định chế độ chi công tác phí, chế độ chi hội nghị
Dự thảo Thông tư quy định về chế độ chi công tác phí, chế độ chi hội nghị được xây dựng theo nguyên tắc sau:
Kế thừa các nội dung quy định hiện hành còn phù hợp tại Thông tư số 40/2017/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 12/2025/TT-BTC về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; nguồn kinh phí; một số quy định chung về công tác phí, chế độ chi hội nghị; nguyên tắc, hình thức thanh toán (theo hóa đơn thực tế, khoán); các mức chi nhằm thực hiện chủ trương tiết kiệm chi thường xuyên ngân sách nhà nước do mức chi mới được sửa đổi từ năm 2025 bởi Thông tư số 12/2025/TT-BTC (trừ mức khoán thanh toán tiền công tác phí theo tháng).
Sửa đổi, bổ sung các nội dung để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (bỏ cấp huyện, tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương, đơn vị).
Bổ sung, sửa đổi các quy định nhằm giải quyết các vướng mắc của các đơn vị, địa phương trong thực tiễn triển khai thực hiện.
Cụ thể, bổ sung chứng từ thanh toán trong trường hợp đi công tác đến nơi không có con dấu xác nhận, đi công tác trong trường hợp khẩn cấp, không có quyết định cử đi công tác.
Bổ sung trường hợp tổ chức hội nghị tại địa bàn thôn, tổ dân phố có yếu tố đặc thù và cá nhân, đơn vị cung cấp hàng hóa nhỏ lẻ không cung cấp được hóa đơn, chứng từ.
Bổ sung trường hợp người đi công tác thuộc đối tượng mua vé máy bay ghế hạng thường nhưng do yêu cầu công tác đột xuất không mua được ghế hạng thường.
Bổ sung quy định thanh toán phòng nghỉ cho người đi công tác thuộc đối tượng thuê phòng nghỉ theo tiêu chuẩn 2 người/phòng nhưng đi công tác một mình hoặc đoàn có lẻ người hoặc lẻ người khác giới hoặc đi công tác cùng đoàn với các chức danh lãnh đạo có tiêu chuẩn 01 người/phòng
Bổ sung nội dung chi tổ chức hội nghị trực tuyến.
Sửa đổi mức khoán thanh toán tiền công tác phí theo tháng.
Bổ sung quy định về nội dung, mức chi Đại hội Thi đua yêu nước các cấp và toàn quốc...
Sửa đổi một số nội dung để phù hợp với các quy định liên quan hiện hành (sửa đổi các nhóm địa bàn nơi đến công tác, nơi tổ chức hội nghị phù hợp với các quy định hiện hành về phân loại đô thị và địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi và đảm bảo tính tương đồng tương đối về mức tiêu dùng; sửa đổi tiêu chuẩn mua vé máy bay đi công tác theo nhóm chức danh, chức vụ lãnh đạo phù hợp với danh mục vị trí chức danh, nhóm chức danh, chức vụ lãnh đạo của hệ thống chính trị...).
Sửa đổi, bổ sung, cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật dẫn chiếu tại Thông tư do đã được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế.
Nội dung cụ thể của dự thảo Thông tư quy định chế độ công tác phí, chế độ chi hội nghị
Theo nguyên tắc trên, dự thảo Thông tư gồm các nội dung cụ thể như sau:
Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng:
Kế thừa quy định tại Thông tư số 40/2017/TT-BTC. Ngoài ra, sửa đổi, bổ sung một số nội dung:
- Sửa "tổ chức hội sử dụng kinh phí do ngân sách nhà nước hỗ trợ" thành "tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do ngân sách nhà nước hỗ trợ" để phù hợp với khoản 7 Điều 8 Luật Ngân sách nhà nước.
- Đối với chế độ công tác phí, bổ sung hướng dẫn cụ thể về các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước; chức danh lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; chức danh lãnh đạo cấp Bộ trưởng và các chức danh tương đương; chức danh lãnh đạo cấp Thứ trưởng và các chức danh tương đương theo Quy định số 368-QĐ/TW.
- Đối với chế độ hội nghị, bổ sung đối tượng "Đại hội Thi đua yêu nước các cấp và toàn quốc". Lý do: Trong quá trình tổ chức Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI, Bộ Nội vụ đã có các công văn gửi Bộ Tài chính xin ý kiến về các nội dung chi có tính chất đặc thù chưa được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, đồng thời đề nghị Bộ Tài chính sớm ban hành Thông tư hướng dẫn.
Bộ Tài chính đã có công văn số 13762/BTC-KTN ngày 05/9/2025 trả lời Bộ Nội vụ, theo đó Bộ Tài chính ghi nhận đề nghị của Bộ Nội vụ. Bộ Tài chính sẽ nghiên cứu, rà soát, bổ sung trong quá trình sửa đổi, bổ sung các Thông tư quy định chế độ chi tiêu phù hợp (như Thông tư số 40/2017/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 12/2025/TT-BTC).
Nguồn kinh phí (Điều 2 dự thảo Thông tư):
Nội dung kế thừa quy định hiện hành: Nguồn ngân sách nhà nước; nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp công lập; nguồn kinh phí khác theo quy định của pháp luật.
Nội dung sửa đổi so với quy định hiện hành: Sửa "nguồn thu phí được để lại theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí" thành "Nguồn thu phí từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện được để lại theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí".
Lý do: Theo quy định tại Điều 5 Luật ngân sách nhà nước số 89/2025/QH15, toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nước thực hiện là thu ngân sách nhà nước.
Quy định chung về công tác phí và chế độ chi hội nghị (Điều 3, Điều 4 dự thảo Thông tư):
Các nội dung kế thừa quy định hiện hành: Quy định về công tác phí, điều kiện để được thanh toán công tác phí, những trường hợp không được thanh toán công tác phí; trách nhiệm của cơ quan, đơn vị cử người đi công tác trong việc xem xét cử người đi công tác, thanh toán công tác phí bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm (các khoản 1, 3, 4, 5, 6, 7 Điều 3 dự thảo Thông tư).
Quy định chung về tổ chức hội nghị đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, đúng chế độ chi tiêu; kinh phí tổ chức hội nghị trong phạm vi nguồn kinh phí được giao hàng năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt (các khoản 1,3 Điều 4 dự thảo Thông tư).
Các nội dung sửa đổi, bổ sung so với quy định hiện hành: Khoản 2 Điều 3 dự thảo Thông tư về xác định thời gian hưởng công tác phí: Bổ sung căn cứ "xác nhận" của người có thẩm quyền cử đi công tác.
Lý do: Một số trường hợp thực hiện nhiệm vụ công tác trong điều kiện đột xuất, bất khả kháng, không có văn bản phê duyệt nhiệm vụ/cử đi công tác.
Khoản 8 Điều 3 dự thảo Thông tư: sửa đoạn "cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được các cơ quan tiến hành tố tụng mời ra làm nhân chứng ..." thành "cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được các cơ quan tiến hành tố tụng mời tham gia tiến hành tố tụng..." và đoạn "cơ quan tiến thành tố tụng thanh toán chi phí đi lại và các chi phí khác" thành "cơ quan tiến thành tố tụng thanh toán chi phí đi lại, chi phí thuê phòng nghỉ, phụ cấp lưu trú" để đảm bảo phù hợp với khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh Chi phí tố tụng số 08/2025/UBTVQH15.
Các nội dung lược bỏ:
Khoản 2 Điều 4 dự thảo Thông tư về thời gian tổ chức hội nghị: Cập nhật Quyết định số 45/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ họp trong hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan thuộc hệ thống hành chính nhà nước thay thế Quyết định 114/2006/QĐ-TTg.
Sửa quy định "Các lớp tập huấn từ nguồn kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước" thành " Các lớp tập huấn từ nguồn kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức" để phù hợp với các quy định hiện hành về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức (Nghị định số 101/2017/NĐ-CP, Nghị định số 171/2025/NĐ-CP, Thông tư số 100/2025/TT-BTC).
Bỏ khoản 1 Điều 4 Thông tư số 40/2017/TT-BTC để đảm bảo phù hợp với quy định hiện hành.
Cụ thể, bỏ quy định việc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác ở trung ương tổ chức hội nghị để quán triệt, tổ chức triển khai trên phạm vi toàn quốc, tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết chuyên đề; tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết đánh giá chương trình công tác hàng năm phải được Thủ tướng Chính phủ đồng ý bằng văn bản theo quy định tại Quyết định số 114/2006/QĐ-TTg; Các ban của Đảng ở Trung ương khi tổ chức hội nghị toàn quốc, phải được sự đồng ý bằng văn bản của Thường trực Ban Bí thư.
Lý do: phù hợp với quy định tại Quyết định số 45/2018/QĐ-TTg quy định chế độ họp trong hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan thuộc hệ thống hành chính nhà nước (thay thế Quyết định 114/2006/QĐ-TTg). Đối với các ban của Đảng ở Trung ương, việc tổ chức hội nghị theo quy định, quy chế làm việc của Đảng, không cần thiết quy định tại Thông tư này.
Bỏ quy định Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp triệu tập cuộc họp toàn ngành, tập huấn ở địa phương mời Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp dưới, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn khác cùng cấp tham dự thì phải được sự đồng ý của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp theo quy định.
Lý do: Để phù hợp với mô hình địa phương 2 cấp, đồng thời tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương, đơn vị; thủ trưởng đơn vị quyết định thành phần tham gia hội nghị trên cơ sở sự cần thiết và trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao.
Chế độ chi công tác phí:
Về chi phí đi lại (Điều 5 dự thảo Thông tư):
Thanh toán theo hóa đơn thực tế:
Các nội dung kế thừa quy định hiện hành: Các khoản chi phí đi lại được thanh toán; thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan, đơn vị xét duyệt loại phương tiện đi công tác, thanh toán tiền thuê phương tiện đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả (điểm a, điểm b, điểm d khoản 1 Điều 5 dự thảo Thông tư).
Các nội dung sửa đổi, bổ sung so với quy định hiện hành:
Về quy định tiêu chuẩn mua vé máy bay đi công tác trong nước (điểm c khoản 1 Điều 5 dự thảo Thông tư):
Dự thảo Thông tư sửa đổi các nhóm chức danh lãnh đạo, công chức, người đi công tác được mua vé máy bay để phù hợp với Quy định số 368-QĐ/TW về danh mục vị trí chức danh, nhóm chức danh, chức vụ lãnh đạo của hệ thống chính trị; đảm bảo tương đồng với quy định về tiêu chuẩn các chức danh mua vé máy bay đi công tác nước ngoài tại Thông tư số 140/2025/TT-BTC ngày 30/12/2025 của Bộ Tài chính quy định chế độ công tác phí đi công tác ngắn hạn ở nước ngoài do ngân sách nhà nước đảm bảo kinh phí.
Bổ sung quy định đối với người đi công tác thuộc các đối tượng được mua vé máy bay hạng ghế thường nhưng do yêu cầu công tác đột xuất không mua được hạng ghế thường: Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ở trung ương, Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố quyết định việc cho phép các trường hợp này được mua vé máy bay hạng phổ thông đặc biệt, linh hoạt, bảo đảm tiết kiệm, phù hợp với đặc thù và khả năng cân đối kinh phí của cơ quan, đơn vị, địa phương mình.
Về căn cứ xác định mức thanh toán (điểm đ khoản 1 Điều 5 dự thảo Thông tư): Bổ sung căn cứ hợp đồng thuê phương tiện; trường hợp đi công tác tại địa bàn khó khăn, phải di chuyển bằng phương tiện vận tải không có vé, hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định, thanh toán theo chi phí thực tế căn cứ giấy biên nhận của chủ phương tiện hoặc bảng kê có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố.
Thanh toán khoán chi phí đi lại (khoản 2 Điều 5 dự thảo Thông tư): Sửa đổi so với quy định hiện hành: Dự thảo Thông tư lược bỏ quy định "đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động còn lại không có tiêu chuẩn được bố trí xe ô tô khi đi công tác mà tự túc bằng phương tiện cá nhân..." tại điểm b khoản 2 Điều 5 Thông tư số 40/2017/TT-BTC được sửa đổi bởi Thông tư số 12/2025/TT-BTC; đồng thời sửa khoản 2 Điều 5 dự thảo Thông tư thành "Thanh toán khoán chi phí đi lại (bao gồm cả trường hợp tự túc phương tiện đi công tác): Áp dụng quy định về khoán kinh phí sử dụng ô tô khi đi công tác theo Nghị định số 72/2023/NĐ-CP quy định tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô", lý do:
Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 Thông tư số 40/2017/TT-BTC được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Thông tư số 12/2025/TT-BTC: Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động không có tiêu chuẩn được bố trí xe ô tô khi đi công tác mà tự túc bằng phương tiện cá nhân thì được "thanh toán khoản tiền tự túc phương tiện bảo đảm không vượt chế độ" khoán đối với các đối tượng được sử dụng xe ô tô để đi công tác.
Tuy nhiên, theo phản ánh của một số địa phương, theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 72/2023/NĐ-CP, trường hợp các chức danh có tiêu chuẩn sử dụng xe ô tô phục vụ công tác các chức danh không tự nguyện nhận khoán kinh phí sử dụng xe ô tô thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, Chủ tịch UBND cấp tỉnh không có cơ sở để quyết định việc khoán kinh phí.
Theo đó, việc quy định thanh toán tiền tự túc bằng phương tiện cá nhân không vượt chế độ đối với các đối tượng có tiêu chuẩn sử dụng xe ô tô nêu trên gặp vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện.
Theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 8 Nghị định số 72/2023/NĐ-CP về sử dụng xe ô tô phục vụ công tác chung: Trường hợp cần thiết, Thủ trưởng cơ quan quyết định cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động (ngoài các đối tượng được sử dụng xe ô tô phục vụ công tác chung để thực hiện chức trách, nhiệm vụ được cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước giao quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 72/2023/NĐ-CP) được sử dụng xe ô tô phục vụ công tác chung để đi công tác.
Các đối tượng này được bố trí xe ô tô phục vụ công tác chung hoặc khoán kinh phí sử dụng xe ô tô hoặc thuê dịch vụ xe ô tô khi đi công tác. Như vậy, trường hợp khoán tiền tự túc phương tiện đi công tác thì áp dụng như khoán kinh phí sử dụng xe ô tô theo quy định này.
Phụ cấp lưu trú, thanh toán tiền thuê phòng nghỉ tại nơi đến công tác (Điều 6, Điều 7 dự thảo Thông tư):
Nội dung kế thừa quy định hiện hành: quy định về phụ cấp lưu trú (Điều 6), nguyên tắc thanh toán tiền thuê phòng nghỉ (khoản 1, khoản 4 Điều 7); hình thức thanh toán (khoán, theo hóa đơn thực tế) và các mức chi.
Nội dung sửa đổi, bổ sung so với quy định hiện hành:
Về quy định thanh toán tiền thuê phòng nghỉ tại nơi công tác (khoản 2, khoản 3 Điều 7): Sửa đổi phân loại các nhóm nhóm đối tượng được thanh toán tiền thuê phòng nghỉ theo nhóm chức danh lãnh đạo, công chức, người lao động đảm bảo phù hợp với Quy định số 368-QĐ/TW.
Sửa đổi phân loại nhóm địa bàn công tác theo nhóm các địa bàn có mức tiêu dùng tương đối tương đồng (nhóm địa bàn đô thị loại I, loại II và nhóm các địa bàn còn lại theo quy định của Chính phủ về phân loại đô thị thực hiện theo quy định tại Nghị định số 35/2026/NĐ-CP ngày 22/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết về phân loại đô thị).
Sửa đoạn "cán bộ, công chức, viên chức và người lao động còn lại" tại điểm d khoản 3 Điều 7 dự thảo Thông tư thành "người đi công tác thuộc các đối tượng còn lại" để thống nhất với điểm c khoản 1 Điều 5 dự thảo Thông tư.
Bổ sung quy định: Đối với trường hợp người đi công tác thuộc đối tượng thuê phòng nghỉ theo tiêu chuẩn 2 người/phòng đi công tác một mình hoặc đoàn công tác có lẻ người hoặc lẻ người khác giới, hoặc đi công tác cùng đoàn với các chức danh lãnh đạo có tiêu chuẩn thuê phòng khách sạn 1 người/phòng thì được thuê phòng riêng.
Về khoán tiền công tác phí theo tháng (Điều 8 dự thảo Thông tư): Trong điều kiện sáp nhập các đơn vị hành chính và thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh, cấp xã phải thường xuyên đi công tác tại các địa bàn xã, phường, thôn, bản với khoảng cách xa; đặc biệt, địa bàn công tác lưu động là các thôn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi gặp nhiều khó khăn.
Do đó, việc quy định khoán tiền công tác phí theo tháng đối với các trường hợp này là cần thiết để đảm bảo điều kiện công tác cho người lao động. Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số nội dung sau so với quy định hiện hành:
Về đối tượng hưởng khoán tiền công tác phí theo tháng: Sửa đối tượng "cán bộ cấp xã thường xuyên phải đi công tác lưu động trên 10 ngày/tháng; cán bộ, công chức, viên chức thuộc các cơ quan, đơn vị còn lại phải thường xuyên đi công tác lưu động trên 10 ngày/tháng" thành "cán bộ, công chức, viên chức cấp tỉnh, cấp xã thường xuyên phải đi công tác lưu động trên 10 ngày/tháng, công chức, viên chức thuộc các cơ quan, đơn vị còn lại phải thường xuyên đi công tác lưu động trên 10 ngày/tháng" để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Sửa cụm từ "xăng xe" thành "chi phí đi lại" do hiện nay có các loại phương tiện không sử dụng xăng xe (xe điện).
Về mức khoán công tác phí theo tháng: Tăng mức chi so với Thông tư số 12/2025/TT-BTC đối với trường hợp địa bàn công tác lưu động là các thôn, xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đặc biệt khó khăn: từ 700.000 đồng thành 1.000.000 đồng/người/tháng, để đảm bảo điều kiện công tác cho người công tác tại địa bàn khó khăn, điều kiện địa lý phức tạp.
Đi công tác theo đoàn công tác phối hợp liên ngành, liên cơ quan (Điều 9 dự thảo Thông tư): Kế thừa quy định tại Thông tư số 40/2017/TT-BTC.
Chứng từ thanh toán công tác phí (Điều 10 dự thảo Thông tư): Ngoài các chứng từ theo quy định hiện hành, để đảm bảo phù hợp với một số trường hợp thực tế phát sinh, dự thảo Thông tư quy định bổ sung:
Thứ nhất, trường hợp người đi công tác được cử đến công tác tại địa bàn khó khăn, không có dấu xác nhận của nơi đến công tác thì cần có chữ ký xác nhận của Trưởng thôn/tổ trưởng tổ dân phố nơi đến công tác.
Thứ hai, trường hợp không có văn bản phê duyệt kế hoạch công tác do phát sinh nhiệm vụ đột xuất, cấp bách như khắc phục thiên tai, sự cố, hỏa hoạn,... văn bản đề nghị thanh toán phải có xác nhận giao nhiệm vụ của đơn vị cử đi công tác.
Thứ ba, hợp đồng thuê phương tiện.
Thứ tư, bảng kê chi phí đi lại có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố (trường hợp địa bàn phải sử dụng phương tiện giao thông không có hóa đơn, chứng từ).
Bỏ khoản 6 quy định về hồ sơ thanh toán khoán kinh phí sử dụng xe ô tô khi đi công tác do chứng từ thanh toán khoán chi phí đi lại đã được quy định đầy đủ ở các khoản khác (khoản 2, khoản 4 Điều 10).
Chế độ chi hội nghị:
Nội dung chi, mức chi (Điều 11, Điều 12 dự thảo Thông tư):
Các nội dung kế thừa quy định hiện hành: Giữ nguyên các nội dung chi, mức chi.
Các nội dung sửa đổi, bổ sung so với quy định hiện hành: Bổ sung quy định nội dung chi, mức chi phục vụ hội nghị trực tuyến, hội nghị trực tuyến kết hợp trực tiếp để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Cụ thể, chi thuê/mua thiết bị phục vụ hội nghị trực tuyến (bao gồm thiết bị công nghệ thông tin, đường truyền, tài khoản trực tuyến, hỗ trợ kỹ thuật (nếu có)): Cơ quan, đơn vị được chủ trì tổ chức hội nghị căn cứ sự cần thiết quyết định việc sử dụng thiết bị/phương tiện sẵn có hoặc thuê/mua sắm theo phân cấp quản lý; tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về mua sắm, đấu thầu, chứng từ, hóa đơn, các quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, quản lý tài sản công. Mức chi theo hợp đồng thực tế phát sinh (khoản 9 Điều 11 và khoản 8 Điều 12 dự thảo Thông tư).
Về khoán chi hỗ trợ tiền ăn cho đại biểu khách mời không trong danh sách trả lương của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp (khoản 4 Điều 12 dự thảo Thông tư): Sửa đổi phân loại nhóm địa bàn tổ chức hội nghị theo nhóm các địa bàn có mức tiêu dùng tương đối tương đồng (nhóm địa bàn đô thị loại I, loại II; nhóm địa bàn đô thị loại III, loại IV và nhóm các địa bàn còn lại); lý do để đảm bảo phù hợp với thực tiễn mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và quy định về phân loại đô thị hiện hành (Nghị định số 35/2026/NĐ-CP ngày 22/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết về phân loại đô thị).
Cập nhật dẫn chiếu Thông tư số 100/2025/TT-BTC thay thế Thông tư số 36/2018/TT-BTC; sửa từ "thù lao" cho giảng viên, báo cáo viên thành "tiền công" để thống nhất với quy định tại Thông tư số 100/2025/TT-BTC.
Hóa đơn, chứng từ thanh toán chi hội nghị (Điều 13 dự thảo Thông tư):
Nội dung bổ sung so với quy định hiện hành: Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, ngoài hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định, trường hợp hội nghị tổ chức ở địa bàn thôn, tổ dân phố có yếu tố đặc thù (theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 185/2026/NĐ-CP ngày 26/5/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố) và cá nhân, đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ nhỏ lẻ không cung cấp được hóa đơn, chứng từ vì lý do bất khả kháng thì được phép sử dụng bảng kê có xác nhận của cá nhân/đơn vị cung cấp hàng hóa/dịch vụ và thủ trưởng đơn vị chủ trì tổ chức hội nghị.
Bổ sung quy định đối với Đại hội thi đua yêu nước các cấp và toàn quốc (Điều 14 dự thảo Thông tư): Căn cứ tình hình thực tiễn và dự toán được cấp có thẩm quyền giao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp được giao chủ trì tổ chức Đại hội thi đua yêu nước các cấp và toàn quốc xem xét quyết định mức chi cụ thể phù hợp với tình hình thực tế nhưng không vượt quá 2 lần mức chi quy định tại Điều 12 Thông tư này, bảo đảm chu đáo, trang trọng, tiết kiệm.
Việc bổ sung quy định này nhằm ăng cường phân cấp, phân quyền cho cơ quan được giao tổ chức Đại hội thi đua yêu nước trong việc quyết định mức chi. Việc quy định mức chi không quá 02 lần mức chi đối với các hội nghị khác để đảm bảo phù hợp với thực tế tổ chức Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI vừa qua.
Chúng tôi luôn Lắng nghe và phản hồi

