Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 37/2026/QH16 cùa Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đối mới sáng tạo, chuyển đổi số. Trong đó quy định về: Không truy cứu trách nhiệm hình sự; loại trừ trách nhiệm hình sự; tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự; miễn trách nhiệm hình sự; không khởi tố vụ án hình sự; tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra vụ án; tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra đối với bị can; tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án; tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và hoãn phiên tòa; hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; miễn, giảm hình phạt tù; xóa án tích đối với trường hợp đã có bản án; quy định về xử lý kỷ luật người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức…
Không truy cứu trách nhiệm hình sự
Điều 5, quy định Cơ quan tiến hành tố tụng không truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Không tham nhũng;
2. Vì lợi ích chung;
3. Các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh; ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước;
4. Không có khiếu nại, tố cáo hoặc có khiếu nại, tố cáo nhưng đã được giải quyết dứt điểm theo quy định;
5. Không gây thất thoát, lãng phí tài sản. Trường hợp gây thất thoát, lãng phí tài sản thì đã khắc phục toàn bộ hậu quả thiệt hại.
Loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người gây thiệt hại trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số
Điều 6 quy định về loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người gây thiệt hại trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số như sau:
1. Người nào gây thiệt hại do gặp rủi ro trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy định, áp dụng đầy đủ các biện pháp phòng ngừa thì được loại trừ trách nhiệm hình sự.
2. Người nào trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao mà gây thiệt hại do ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyền đổi số thuộc trường hợp chưa có pháp luật điều chỉnh về quy trình, quy định thực hiện hoặc giữa các quy định của pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn nhưng xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, có cách làm đột phá, tháo gỡ, giải quyết những điểm nghẽn, nút thắt thì được loại trừ trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Không tham nhũng;
b) Vì lợi ích chung;
c) Các hoạt động ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đã hoàn thành và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự
Điều 7 quy định, Cơ quan tiến hành tố tụng xem xét tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để khắc phục hậu quả thiệt hại khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Vì lợi ích chung;
2. Có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước nhưng không tham nhũng;
3. Các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh; ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đang thực hiện, chưa hoàn thành, chưa khắc phục được hậu quả thiệt hại do nguyên nhân khách quan nhưng vẫn có điều kiện, khả năng và bảo đảm tính khả thi để khắc phục, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước; có cam kết của tổ chức, cá nhân có liên quan khắc phục hậu quả thiệt hại.
Miễn trách nhiệm hình sự
Điều 8 quy định: Trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng quyết định miễn trách nhiệm hình sự đối với trường hợp quy định tại Điều 5 của Nghị quyết này.
Không khởi tố vụ án hình sự; tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra vụ án; tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra đối với bị can; tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án; tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và hoãn phiên tòa
Điều 9 quy định về Không khởi tố vụ án hình sự; tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra vụ án; tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra đối với bị can; tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án; tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và hoãn phiên tòa như sau:
1. Trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 5 hoặc Điều 6 của Nghị quyết này thì Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
2. Trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét x , nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 5, Điều 6 hoặc Điều 8 của Nghị quyết này thì Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra; Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo.
3. Trường hợp có đủ căn cứ quy định tại Điều 7 của Nghị quyết này, trong giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, điều tra vụ án hình sự thì Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, quyết định tạm đình chỉ điều tra; trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can; trong giai đoạn xét xử, Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa.
Thời hạn tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chi vụ án đối với bị can, bị cáo tối đa là 02 năm kể từ thời điểm ban hành quyết định và không tính vào thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Thời hạn hoãn phiên tòa được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
4. Hết thời hạn tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, tạm đình chi điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo quy định tại khoản 3 Điều này thì cơ quan tiến hành tố tụng xử lý như sau:
a) Trường hợp đã khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại thì Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự, đình chỉ điều tra; Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo;
b) Trường hợp không khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại thì cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu quả thiệt hại, hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước để quyết định giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
5. Trong thời gian tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện cam kết, tiến độ khắc phục hậu quả thiệt hại của tổ chức, cá nhân được tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trường hợp không khắc phục hoặc khắc phục hậu quả thiệt hại không theo tiến độ và phương án đã cam kết mà không có lý do chính đáng thì cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành các quyết định tạm đình chỉ quy định tại khoản 3 Điều này hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ để tiếp tục tiến hành thủ tục truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
6. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.
Hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; miễn, giảm hình phạt tù; xóa án tích đối với trường hợp đã có bản án
Điều 10 quy định về hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; miễn, giảm hình phạt tù; xóa án tích đối với trường hợp đã có bản án như sau:
1. Trường hợp đã có bản án của Tòa án nhưng chưa có quyết định thi hành án mà có đủ căn cứ quy định tại Điều 7 của Nghị quyết này thì Tòa án ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù.
Thời hạn hoãn chấp hành hình phạt tù tối đa là 02 năm kể từ thời điểm ban hành quyết định, không tính vào thời hiệu thi hành bản án và thời gian chấp hành hình phạt.
2. Hết thời hạn hoãn chấp hành hình phạt quy định tại khoản 1 Điều này thì xử lý như sau:
a) Trường hợp đã khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại thì Tòa án quyết định miễn chấp hành hình phạt;
b) Trường hợp không khắc phục được hoặc khắc phục được một phần hậu quả thiệt hại thì Tòa án ra quyết định thi hành án, đồng thời căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu quả thiệt hại để quyết định giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt.
3. Đối với người có hành vi vi phạm đáp ứng điều kiện thuộc trường hợp quy định tại Điều 5 hoặc Điều 6 của Nghị quyết này mà đang chấp hành án phạt tù hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án phạt tù thì được miễn chấp hành hình phạt còn lại; trường hợp chưa chấp hành án phạt tù hoặc đang được hoãn thi hành án phạt tù thì được miễn chấp hành hình phạt.
4. Đối với người đang chấp hành hình phạt tù mà có đủ căn cứ quy định tại Điều 7 của Nghị quyết này thì Tòa án quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Thời hạn tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù tối đa là 02 năm kể từ thời điểm ban hành quyết định, không tính vào thời gian chấp hành hình phạt.
Hết thời hạn tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù quy định tại khoản này thì xử lý như sau:
a) Trường hợp đã khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại thì Tòa án quyết định miễn chấp hành thời hạn chấp hành án phạt còn lại và đương nhiên được xóa án tích;
b) Trường hợp không khắc phục được hoặc khắc phục được một phần hậu quả thiệt hại thì Tòa án ra quyết định tiếp tục thi hành án, đồng thời căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu quả thiệt hại để quyết định giảm mức hình phạt đã tuyên, giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt.
Sau khi đã chấp hành xong bản án theo quy định, Tòa án xem xét quyết định giảm thời hạn xóa án tích.
5. Đối với người vi phạm đã chấp hành xong bản án và chưa được xóa án tích mà có đủ căn cứ quy định tại Điều 5 hoặc Điều 6 của Nghị quyết này thì được miễn thời gian thử thách và đương nhiên được xóa án tích.
6. Đối với người đang chấp hành án phạt tù có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 7 của Nghị quyết này nhưng không có điều kiện để khắc phục hậu quả thiệt hại thì Tòa án xem xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù. Sau khi đã chấp hành xong bản án theo quy định, Tòa án xem xét quyết định giảm thời hạn xóa án tích.
7. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về hình sự và pháp luật về thi hành án hình sự.
Xử lý kỷ luật người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức
Điều 11 quy định về xử lý kỷ luật người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức như sau:
1. Người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức vi phạm kỷ luật theo quy định của pháp luật nhưng đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 5 hoặc Điều 6 của Nghị quyết này thì được xem xét miễn kỷ luật.
2. Người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức vi phạm kỷ luật theo quy định của pháp luật nhưng đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 7 của Nghị quyết này thì được xem xét chưa xử lý kỷ luật để khắc phục hậu quả thiệt hại. Thời hạn chưa xem xét xử lý kỷ luật tối đa là 02 năm, không tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật.
3. Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này thì xử lý như sau:
a) Trường hợp đã khắc phục được toàn bộ hậu quả thiệt hại thì áp dụng quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Trường hợp không khắc phục được hoặc khắc phục được một phần hậu quả thiệt hại thì cơ quan có thẩm quyền xem xét xủ lý kỷ luật, đồng thời căn cứ tỷ lệ khắc phục hậu quả thiệt hại để quyết định giảm nhẹ mức kỷ luật.
Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2026.
Nghị quyết này được thực hiện trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành.
Sau thời điểm Nghị quyết này hết hiệu lực thi hành mà quyết định tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra đối với bị can, tạm đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, hoãn phiên tòa, hoãn chấp hành hình phạt, chưa xem xét kỷ luật theo quy định tại Nghị quyết này chưa hết thời hạn thì được tiếp tục thực hiện quy định của Nghị quyết này đến khi kết thúc.
Đối với các vi phạm của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân có liên quan đến đất đai thì áp dụng quy định tại Nghị quyết số 29/2026/QH16 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài.
Chúng tôi luôn Lắng nghe và phản hồi