Áp dụng mức phí nước thải mới gắn với trách nhiệm bảo vệ môi trường

16/01/2026 10:10

(Chinhphu.vn) - Nghị định 346/2025/NĐ-CP siết chặt quy định phí nước thải dựa trên mức độ ô nhiễm, minh bạch trách nhiệm thu - chi nhằm tạo nguồn lực bền vững cho hạ tầng môi trường.

Áp dụng mức phí nước thải mới gắn với trách nhiệm bảo vệ môi trường
Áp dụng mức phí nước thải mới gắn với trách nhiệm bảo vệ môi trường- Ảnh 1.

Nghị định số 346/2025/NĐ-CP quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải (Nghị định 346), chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.

Chính phủ ban hành Nghị định số 346/2025/NĐ-CP quy định phí bảo vệ môi trường đối với nước thải (Nghị định 346), chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, thay thế Nghị định số 53/2020/NĐ-CP.

Việc ban hành Nghị định mới không chỉ điều chỉnh mức thu, đối tượng và phương thức quản lý phí, mà còn thể hiện rõ định hướng đổi mới chính sách môi trường theo hướng tăng cường sử dụng các công cụ kinh tế để kiểm soát ô nhiễm, phù hợp hơn với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu bảo vệ môi trường trong giai đoạn mới.

Điều chỉnh phí nước thải theo hướng gắn với mức độ ô nhiễm

Theo Nghị định 346/NĐ-CP, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải tiếp tục được áp dụng đối với hai nhóm chính là nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp, trừ các trường hợp đã nộp giá dịch vụ thoát nước theo quy định của pháp luật hoặc thuộc diện miễn phí.

Đối với nước thải sinh hoạt, mức phí được xác định tương đương 10% giá bán 1 m³ nước sạch, chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trên cơ sở khung chung này, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định mức phí cao hơn đối với từng đối tượng chịu phí, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, yêu cầu bảo vệ môi trường và năng lực hạ tầng thoát nước, xử lý nước thải của từng địa phương.

Đối với nước thải công nghiệp, Nghị định quy định nguyên tắc xác định phí gắn với lưu lượng và tính chất nước thải, qua đó tạo áp lực kinh tế trực tiếp buộc các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải tăng cường kiểm soát ô nhiễm, đầu tư hệ thống xử lý đạt quy chuẩn. Cách tiếp cận này phản ánh rõ quan điểm “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tái sử dụng nước, giảm phát sinh nước thải, hướng tới mô hình sản xuất xanh và phát thải thấp.

Xác định rõ đối tượng chịu phí và các trường hợp miễn phí

Bên cạnh việc điều chỉnh cách tính phí, Nghị định 346/NĐ-CP cũng làm rõ phạm vi các đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, nhằm khắc phục những bất cập, chồng chéo trong quá trình áp dụng trước đây. Theo đó, đối tượng chịu phí là nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp, trừ các trường hợp đã nộp giá dịch vụ thoát nước theo quy định của pháp luật hoặc thuộc diện miễn phí.

Đối với nước thải công nghiệp, đối tượng chịu phí bao gồm toàn bộ nước thải phát sinh từ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung; cụm công nghiệp xả vào nguồn tiếp nhận theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Quy định này bảo đảm bao quát đầy đủ các nguồn thải công nghiệp, hạn chế tình trạng “lọt lưới” trong quản lý, đồng thời tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho công tác thu phí và kiểm soát ô nhiễm.

Áp dụng mức phí nước thải mới gắn với trách nhiệm bảo vệ môi trường- Ảnh 2.

Đối với nước thải sinh hoạt, Nghị định xác định đối tượng chịu phí bao gồm nước thải sinh hoạt thông thường và nước thải phát sinh từ các cơ sở kinh doanh, dịch vụ được quản lý như nước thải sinh hoạt theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Đáng chú ý, các cơ sở phát sinh tổng lượng nước thải trung bình năm dưới 20 m³/ngày, tương ứng 7.300 m³/năm, trong trường hợp sử dụng nước từ hệ thống cung cấp nước sạch cũng thuộc diện chịu phí nước thải sinh hoạt. Quy định này góp phần mở rộng phạm vi điều tiết, nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường nước ngay cả đối với các cơ sở có quy mô nhỏ.

Song song với việc xác định đối tượng chịu phí, Nghị định 346/NĐ-CP quy định cụ thể 10 trường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Các trường hợp này bao gồm nước xả ra từ nhà máy thủy điện không qua công đoạn có khả năng gây ô nhiễm; nước biển dùng vào sản xuất muối; nước thải sinh hoạt của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc khu vực chưa có hệ thống cung cấp nước sạch; nước trao đổi nhiệt; nước mưa tự nhiên chảy tràn; nước thải từ phương tiện đánh bắt thủy sản; nước thải của hệ thống xử lý nước thải tập trung đô thị; nước thải từ hoạt động khai thác khoáng sản; nước thải được tái sử dụng theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường; nước thải từ hoạt động nuôi trồng thủy sản, hải sản.

Việc quy định rõ ràng, cụ thể các trường hợp miễn phí không chỉ tránh thu phí tràn lan mà còn bảo đảm tính nhân văn, công bằng của chính sách. Đây là yếu tố quan trọng để chính sách phí bảo vệ môi trường đối với nước thải nhận được sự đồng thuận cao từ người dân và doanh nghiệp trong quá trình triển khai.

Minh bạch thu - quản lý phí, tạo nguồn lực cho hạ tầng môi trường

Một điểm mới đáng chú ý của Nghị định 346/NĐ-CP là việc làm rõ trách nhiệm của các tổ chức thu, quản lý và sử dụng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, qua đó nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong thực thi chính sách. Đối với nước thải sinh hoạt, phí được thu thông qua tổ chức cung cấp nước sạch. Cách thức này giúp giảm chi phí hành chính, thuận tiện cho người dân, đồng thời hạn chế thất thoát trong quá trình thu nộp.

Theo Nghị định, tổ chức cung cấp nước sạch được để lại 10% trên tổng số tiền phí thu được để trang trải chi phí cho hoạt động thu phí. Trường hợp cần thiết, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định tỷ lệ để lại phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương nhưng tối đa không quá 10%. Số tiền phí được để lại được xác định là doanh thu của tổ chức cung cấp nước sạch và phải thực hiện kê khai, nộp thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Quy định này vừa bảo đảm nguồn kinh phí cho công tác thu phí, vừa tăng cường trách nhiệm và tính minh bạch của các đơn vị liên quan.

Đối với nước thải công nghiệp, trách nhiệm thu phí được giao cho cơ quan quản lý nhà nước hoặc đơn vị được ủy quyền, gắn với hệ thống quản lý môi trường hiện hành. Việc phân định rõ trách nhiệm thu và quản lý phí góp phần bảo đảm sự thống nhất trong kiểm soát nguồn thải, đồng thời tạo thuận lợi cho công tác giám sát, thanh tra và xử lý vi phạm.

(Cổng TTĐT Bộ Nông nghiệp và Môi trường)

Nội dung này, đã nhận được 0 góp ý, hiến kế
Góp ý, hiến kế cho Chính phủ ngay tại đây
Đọc nhiều
Hướng dẫn chi trả gộp 2 tháng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội trước Tết Nguyên Đán

Hướng dẫn chi trả gộp 2 tháng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội trước Tết Nguyên Đán

(Chinhphu.vn) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam vừa thông tin việc chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội tháng 02, tháng 3/2026 vào cùng kỳ chi trả tháng 02/2026

Xem xét, điều chỉnh chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang

Xem xét, điều chỉnh chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Bộ Nội vụ đang trình Chính phủ xem xét, điều chỉnh chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.

Quyết nghị của Quốc hội về phụ cấp, tiền lương, trợ cấp; cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức...

Quyết nghị của Quốc hội về phụ cấp, tiền lương, trợ cấp; cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức...

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Quốc hội quyết nghị về điều chỉnh một số loại phụ cấp, mức lương cơ sở, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội. Cơ cấu lại, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Tra cứu TUỔI NGHỈ HƯU và THỜI ĐIỂM NGHỈ HƯU

Tra cứu TUỔI NGHỈ HƯU và THỜI ĐIỂM NGHỈ HƯU

Hướng dẫn thực hiện chính sách

(Chinhphu.vn) - Năm 2026, độ tuổi nghỉ hưu của người lao động nam sẽ là 61 tuổi 6 tháng, lao động nữ sẽ là 57 tuổi 8; năm 2027, độ tuổi nghỉ hưu của người lao động nam sẽ là 61 tuổi 9 tháng, lao động nữ sẽ là 57 tuổi 4 tháng;...

Chi tiết 34 ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH

Chi tiết 34 ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Kể từ ngày 12/6/2025, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố. Trong đó có 19 tỉnh và 4 thành phố hình thành sau sắp xếp và 11 tỉnh, thành phố không thực hiện sắp xếp.

Chúng tôi luôn Lắng nghe và phản hồi Chúng tôi
luôn
Lắng nghe
và phản hồi