Từ 7/4/2026, nâng mức trần thu nhập được mua nhà ở xã hội

10/04/2026 08:29

(Chinhphu.vn) - Theo Nghị định số 136/2026/NĐ-CP của Chính phủ, từ 7/4/2026, nâng mức trần thu nhập được mua nhà ở xã hội.

Từ 7/4/2026, nâng mức trần thu nhập được mua nhà ở xã hội

Chính phủ ban hành Nghị định số 136/2026/NĐ-CP ngày 07/4/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2024/NĐ-CP ngày 26/7/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 261/2025/NĐ-CP và Nghị định số 54/2026/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định số 100/2024/NĐ-CP sửa đổi).

Thu nhập 2 vợ chồng không quá 50 triệu đồng/ tháng được mua nhà ở xã hội

Nghị định 136/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 30 Nghị định số 100/2024/NĐ-CP sửa đổi về điều kiện thu nhập được mua nhà ở xã hội theo hướng tăng mức trần thu nhập từ 5-10 triệu đồng tùy đối tượng so với quy định trước đây.

Cụ thể, trường hợp người đứng đơn là người độc thân, thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận (theo bảng lương, tiền công được xác nhận) không quá 25 triệu đồng (tăng 5 triệu đồng so với quy định cũ). Với người độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên, mức thu nhập tối đa được nâng lên 35 triệu đồng/tháng (tăng 5 triệu đồng so với quy định cũ). Đối với người đã kết hôn, tổng thu nhập bình quân hàng tháng của hai vợ chồng thực nhận không quá 50 triệu đồng (tăng 10 triệu đồng so với quy định cũ).

"Điều 30. Điều kiện về thu nhập

Các đối tượng theo khoản 5, 6 và 8 Điều 76 của Luật Nhà ở được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội bao gồm: Người thu nhập thấp tại khu vực đô thị (5); công nhân, người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã trong và ngoài khu công nghiệp (6); cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức (8).

1. Đối với các đối tượng quy định tại các khoản 5, 6 và 8 Điều 76 của Luật Nhà ở thì phải đảm bảo điều kiện về thu nhập như sau:

a) Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân thì có thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 25 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.

Trường hợp người đứng đơn là người chưa kết hôn hoặc được xác nhận là độc thân đang nuôi con dưới tuổi thành niên thì thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 35 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.

b) Trường hợp người đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật thì người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó có tổng thu nhập bình quân hàng tháng thực nhận không quá 50 triệu đồng tính theo Bảng tiền công, tiền lương do cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.

c) Thời gian xác định điều kiện về thu nhập theo quy định tại điểm a, điểm b khoản này là trong 12 tháng liền kề, tính từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền thực hiện xác nhận.

d) Căn cứ điều kiện, mức thu nhập của từng khu vực trên địa bàn, chính sách ưu đãi về nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức, số lượng người phụ thuộc theo quy định của pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quyết định hệ số điều chỉnh mức thu nhập quy định tại điểm a, điểm b khoản này nhưng không vượt quá tỷ lệ giữa thu nhập bình quân đầu người tại địa phương so với thu nhập bình quân đầu người của cả nước; quyết định chính sách khuyến khích tiếp cận nhà ở xã hội đối với đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội có từ ba (03) người phụ thuộc trở lên trong cùng một hộ gia đình."

Mở rộng thành phần thu nhập cho lực lượng vũ trang

Nghị định 136/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 67 về điều kiện thu nhập để được mua, thuê mua nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân theo hướng mở rộng thành phần thu nhập (bao gồm cả phụ cấp khu vực tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có điều kiện khó khăn).

Đồng thời, thay cách xác định trần thu nhập đối với trường hợp vợ/chồng không thuộc đối tượng: từ hệ số cố định (1,5 lần thu nhập bậc Đại tá) sang công thức linh hoạt hơn (thu nhập bậc Đại tá + mức lương quy định tại điểm a khoản 1 Điều 30). Cụ thể:

"Điều 67. Điều kiện về thu nhập để được mua, thuê mua nhà ở cho lực lượng vũ trang nhân dân

1. Trường hợp người đứng đơn là người độc thân thì có thu nhập hàng tháng thực nhận không quá tổng thu nhập của sỹ quan có cấp bậc hàm Đại tá (gồm lương cơ bản và phụ cấp theo quy định, bao gồm cả phụ cấp khu vực tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có điều kiện khó khăn) được cơ quan, đơn vị nơi công tác, quản lý xác nhận.

2. Trường hợp người đứng đơn đã kết hôn theo quy định của pháp luật:

a) Người đứng đơn và vợ (chồng) của người đó đều thuộc đối tượng quy định tại khoản 7 Điều 76 của Luật Nhà ở thì có tổng thu nhập hàng tháng thực nhận không quá 2,0 lần tổng thu nhập của sỹ quan có cấp bậc hàm Đại tá (gồm lương cơ bản và phụ cấp theo quy định, bao gồm cả phụ cấp khu vực tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có điều kiện khó khăn) được cơ quan, đơn vị nơi công tác, quản lý xác nhận;

b) Vợ (chồng) của người đứng đơn không thuộc đối tượng quy định tại khoản 7 Điều 76 của Luật Nhà ở thì có tổng thu nhập hàng tháng thực nhận không quá tổng thu nhập của sỹ quan có cấp bậc hàm Đại tá (gồm lương cơ bản và phụ cấp theo quy định, bao gồm cả phụ cấp khu vực tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo có điều kiện khó khăn) cộng với mức lương quy định tại điểm a khoản 1 Điều 30 Nghị định này được cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nơi đối tượng làm việc xác nhận.

Trường hợp vợ (chồng) của người đứng đơn thuộc đối tượng quy định tại khoản 5 Điều 76 của Luật Nhà ở trong trường hợp không có Hợp đồng lao động thì thực hiện việc xác nhận điều kiện về thu nhập theo quy định tại khoản 2 Điều 30 của Nghị định này."

Nghị định quy định các giấy tờ chứng minh điều kiện về thu nhập để được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội đã được cơ quan có thẩm quyền xác nhận theo quy định trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được sử dụng và có giá trị trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày được xác nhận.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 07/04/2026./.

Nội dung này, đã nhận được 0 góp ý, hiến kế
Góp ý, hiến kế cho Chính phủ ngay tại đây
Đọc nhiều
Tra cứu ĐIỂM THI TỐT NGHIỆP THPT; PHỔ ĐIỂM; các mốc THỜI GIAN TUYỂN SINH ĐẠI HỌC 2026

Tra cứu ĐIỂM THI TỐT NGHIỆP THPT; PHỔ ĐIỂM; các mốc THỜI GIAN TUYỂN SINH ĐẠI HỌC 2026

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - TRA CỨU ĐIỂM THI TỐT NGHIỆP THPT năm 2026 trên Báo điện tử Chính phủ, Cổng TTĐT Chính phủ từ 8h00 ngày 1/7. Tra cứu PHỔ ĐIỂM KỲ THI TỐT NGHỆP THPT năm 2026.

Chi tiết PHỔ ĐIỂM KỲ THI TỐT NGHIỆP THPT 2026

Chi tiết PHỔ ĐIỂM KỲ THI TỐT NGHIỆP THPT 2026

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức công bố phổ điểm Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.

QUY ĐỊNH MỚI về TIỀN LƯƠNG, LƯƠNG HƯU, TRỢ CẤP, PHỤ CẤP có hiệu lực từ tháng 7/2026

QUY ĐỊNH MỚI về TIỀN LƯƠNG, LƯƠNG HƯU, TRỢ CẤP, PHỤ CẤP có hiệu lực từ tháng 7/2026

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Từ tháng 7/2026, nhiều quy định mới về tiền lương, lương hưu, trợ cấp, phụ cấp, chính sách xã hội chính thức có hiệu lực, được người dân mong chờ.

BÁCH PHÂN VỊ các TỔ HỢP A00, A01, B00, C00, D01, Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026

BÁCH PHÂN VỊ các TỔ HỢP A00, A01, B00, C00, D01, Kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Bách phân vị một số tổ hợp môn A00, A01, B00, C00, D01, Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.

TOÀN VĂN: Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

TOÀN VĂN: Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết.

Chúng tôi luôn Lắng nghe và phản hồi Chúng tôi
luôn
Lắng nghe
và phản hồi