Trường hợp nào tập thể, cá nhân được xếp loại "Không hoàn thành nhiệm vụ"?

22/10/2026 18:08

(Chinhphu.vn) - Quy định số 227-QĐ/TW ngày 19/10/2026 của Bộ Chính trị về kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị và trong toàn Đảng, trong đó nêu rõ trường hợp tập thể, cá nhân được xếp loại "Không hoàn thành nhiệm vụ".

Tập thể, cá nhân được xếp loại "Không hoàn thành nhiệm vụ" nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Nhóm tiêu chí chung: Kết quả thực hiện ở mức "Không bảo đảm".

Trường hợp có hạn chế, thiếu sót hoặc có hành vi vi phạm nhưng chưa đến mức bị cấp có thẩm quyền kết luận là vi phạm thì người đứng đầu và cấp có thẩm quyền trực tiếp sử dụng (hoặc quản lý) cán bộ xem xét tình hình, tính chất, mức độ vi phạm, hậu quả, nguyên nhân và các yếu tố có liên quan để quyết định một trong hai mức Bảo đảm hoặc Không bảo đảm của từng tiêu chí.

b) Nhóm kết quả thực hiện nhiệm vụ: Có tổng điểm dưới 60 điểm.

*Đối với cấp uỷ, tập thể lãnh đạo, quản lý

- Bị cấp có thẩm quyền kết luận có sai phạm trong công tác cán bộ, mất đoàn kết nội bộ, bè phái, chạy chức, chạy quyền trong phạm vi phụ trách.

- Có thành viên trong tập thể lãnh đạo, quản lý vi phạm liên quan đến chức trách, nhiệm vụ trong thực thi công vụ bị xử lý kỷ luật từ khiển trách trở lên (trừ trường hợp thành viên đó bị kỷ luật mà vi phạm đó xảy ra từ thời điểm tại tổ chức, cơ quan, đơn vị khác chuyển đến hoặc hành vi vi phạm đó không liên quan đến chức trách, thẩm quyền của tập thể lãnh đạo, quản lý đang công tác tại thời điểm hiện tại).

- Có thành viên trong tập thể lãnh đạo, quản lý bị cấp có thẩm quyền kết luận có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá".

- Địa phương, tổ chức, cơ quan, đơn vị do mình trực tiếp lãnh đạo, quản lý không hoàn thành các chỉ tiêu cơ bản ở mức ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả chung hoặc không hoàn thành các mục tiêu trọng tâm, then chốt được cấp có thẩm quyền giao, phê duyệt do nguyên nhân chủ quan.

Trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ hoặc các chỉ tiêu nêu trên mà có lý do bất khả kháng; hoặc trường hợp tập thể (hoặc thành viên) lãnh đạo, quản lý bị xử lý kỷ luật nhưng đã chủ động phát hiện vi phạm và khắc phục kịp thời thì cấp có thẩm quyền căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh, tính chất nhiệm vụ, kết quả thực hiện; hành vi, mức độ vi phạm, hậu quả, nguyên nhân và các yếu tố liên quan khác để xem xét, đánh giá, xếp loại bảo đảm khách quan, toàn diện, thận trọng và chịu trách nhiệm về quyết định của mình theo phân cấp.

*Đối với cá nhân giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý

- Địa phương, lĩnh vực, tổ chức, cơ quan, đơn vị, bộ phận do cá nhân trực tiếp lãnh đạo, quản lý không hoàn thành các chỉ tiêu cơ bản ở mức ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả chung hoặc không hoàn thành các mục tiêu trọng tâm, then chốt được cấp có thẩm quyền giao, phê duyệt do nguyên nhân chủ quan; hoặc có trên 50% tổng số địa phương, lĩnh vực, tổ chức, cơ quan, đơn vị, bộ phận thuộc phạm vi cá nhân chịu trách nhiệm trực tiếp bị xếp loại "Không hoàn thành nhiệm vụ".

- Bị cấp có thẩm quyền kết luận có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

- Vi phạm liên quan đến hoạt động công vụ bị xử lý kỷ luật từ khiển trách trở lên.

- Vi phạm những điều đảng viên không được làm, vi phạm quy định về trách nhiệm nêu gương, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân và tổ chức, cơ quan, đơn vị.

Lưu ý:

Trường hợp cá nhân lãnh đạo, quản lý đã chủ động phát hiện, báo cáo và chỉ đạo xử lý kịp thời, khắc phục xong hậu quả thì cấp có thẩm quyền căn cứ vào hoàn cảnh, tính chất, hành vi, mức độ vi phạm, hậu quả, nguyên nhân và các yếu tố liên quan khác để xem xét, đánh giá, xếp loại bảo đảm khách quan, thận trọng, toàn diện và chịu trách nhiệm về quyết định của mình theo phân cấp.

Trường hợp có tổ chức hoặc cá nhân trong phạm vi quản lý trực tiếp có hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực và bị xử lý kỷ luật mà người đứng đầu, tập thể lãnh đạo, thành viên cấp uỷ, tổ chức đảng, tổ chức, cơ quan, đơn vị không thể biết hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo thẩm quyền để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi vi phạm, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động thực thi công vụ và các hoạt động khác có liên quan thì không bị ảnh hưởng đến kết quả kiểm điểm, đánh giá, xếp loại của người đứng đầu, tập thể lãnh đạo, thành viên cấp uỷ, tổ chức đảng, tổ chức, cơ quan, đơn vị đó.

*Đối với cá nhân không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và đảng viên không làm việc trong hệ thống chính trị

- Bị cấp có thẩm quyền kết luận có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá".

- Vi phạm liên quan đến hoạt động công vụ bị xử lý kỷ luật từ khiển trách trở lên.

- Vi phạm những điều đảng viên không được làm, vi phạm quy định về trách nhiệm nêu gương, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân và tổ chức, cơ quan, đơn vị.

- Trường hợp tự giác nhận lỗi, tự phát hiện vi phạm và khắc phục xong hậu quả thì cấp có thẩm quyền căn cứ vào hoàn cảnh, tính chất, hành vi, mức độ vi phạm, hậu quả, nguyên nhân và các yếu tố liên quan khác để xem xét, đánh giá, xếp loại bảo đảm khách quan, toàn diện, thận trọng và chịu trách nhiệm về quyết định của mình theo phân cấp.

Việc đánh giá tập thể định kỳ hằng năm; đánh giá cá nhân định kỳ hằng quý, hằng năm được thực hiện trên 2 nhóm tiêu chí như sau:

Nhóm tiêu chí chung: Đánh giá theo mức độ đáp ứng các tiêu chí chung do cấp có thẩm quyền cụ thể hoá phù hợp với từng nhóm đối tượng; không thực hiện chấm điểm đối với nhóm tiêu chí này. Kết quả đánh giá chia theo 4 mức làm cơ sở xếp loại chất lượng tập thể, cá nhân cùng với nhóm tiêu chí kết quả thực hiện nhiệm vụ, cụ thể như sau:

(1)Thực hiện tốt: Bảo đảm đáp ứng 100% tiêu chí.

(2) Bảo đảm: Đáp ứng từ 90% đến dưới 100% tiêu chí.

(3) Cơ bản bảo đảm: Đáp ứng từ 60% đến dưới 90% tiêu chí.

(4) Không bảo đảm: Đáp ứng dưới 60% tiêu chí.

Nhóm tiêu chí kết quả thực hiện nhiệm vụ: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ với thang điểm tối đa 100 điểm theo 2 nhóm nhiệm vụ, gồm: (1) Nhiệm vụ thường xuyên và (2) Nhiệm vụ trọng tâm, then chốt.

Cấp có thẩm quyền xác định hệ số hoặc tỉ trọng điểm phù hợp cho từng nhóm nhiệm vụ, bảo đảm tổng điểm tối đa không thay đổi.

Nội dung đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ

Nội dung đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ được xác định theo 6 trục kết quả trọng tâm, gồm:

(1) Thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội và nhiệm vụ chính trị được giao.

(2) Xây dựng thể chế, tổ chức thực thi và phân cấp, phân quyền.

(3) Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu.

(4) Xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ và liêm chính.

(5) Phục vụ Nhân dân, phát triển con người, văn hoá và xã hội.

(6) Quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Các trục kết quả được xác định phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và phạm vi phụ trách của từng tập thể, cá nhân, tập trung vào các trục kết quả có liên quan trực tiếp đến chức trách, nhiệm vụ được giao.

Cấp có thẩm quyền xác định trục kết quả chính và các trục kết quả phụ, trên cơ sở đó xác định hệ số hoặc tỉ trọng điểm phù hợp. Mỗi nhiệm vụ, công việc được xác định trong một trục kết quả để đánh giá, chấm điểm. Nhiệm vụ, công việc, sản phẩm không thuộc chức năng, nhiệm vụ hoặc phạm vi phụ trách trực tiếp thì được sử dụng để xem xét, phân tích, không tính điểm.

*Đối với địa phương, việc đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của tập thể, cá nhân được thực hiện trên cơ sở 6 trục kết quả trọng tâm nêu trên và các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu do cấp có thẩm quyền giao, phê duyệt; trong đó xem xét 5 chỉ tiêu cơ bản gồm: Tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách nhà nước, tỉ lệ giải ngân vốn đầu tư công, thu nhập bình quân đầu người và tỉ lệ giảm hộ nghèo. Căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ và đặc thù, địa phương chủ động bổ sung các chỉ tiêu phù hợp và xác định thứ tự ưu tiên để làm cơ sở đánh giá.

Việc đánh giá phải căn cứ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi phụ trách và kỳ đánh giá của từng tập thể, cá nhân; chỉ xem xét các chỉ tiêu, tiêu chí đã đến thời điểm có kết quả được công bố theo quy định và thuộc thẩm quyền, phạm vi phụ trách trực tiếp trong lãnh đạo, chỉ đạo hoặc tổ chức thực hiện; không xem xét, đánh giá đối với các chỉ tiêu, tiêu chí chưa đến thời điểm xác định, công bố kết quả hoặc không thuộc phạm vi phụ trách.

*Khung tiêu chí đánh giá theo từng nhóm đối tượng

Việc đánh giá, xếp loại được thực hiện trên cơ sở khung tiêu chí phù hợp với từng nhóm đối tượng, kết hợp hài hoà giữa kết quả thực hiện mục tiêu trọng tâm, then chốt và các chỉ số trọng yếu đo lường kết quả thực hiện nhiệm vụ; thực hiện theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.

Nội dung này, đã nhận được 0 góp ý, hiến kế
Góp ý, hiến kế cho Chính phủ ngay tại đây
Đọc nhiều
NGÀY VĂN HÓA VIỆT NAM - 24/11, người lao động được nghỉ, hưởng nguyên lương

NGÀY VĂN HÓA VIỆT NAM - 24/11, người lao động được nghỉ, hưởng nguyên lương

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Quốc hội đã thông qua Nghị quyết quy định ngày 24/11 hằng năm là “Ngày Văn hóa Việt Nam”, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương. Bộ Nội vụ đề xuất 2 phương án nghỉ Ngày Văn hóa Việt Nam năm 2026.

Danh mục 111 NGÀNH được nhận HỌC BỔNG hằng tháng

Danh mục 111 NGÀNH được nhận HỌC BỔNG hằng tháng

Hướng dẫn thực hiện chính sách

(Chinhphu.vn) - Toàn văn Quyết định số 1826/QĐ-BGDĐT của Bộ GDĐT ban hành danh mục 111 đào tạo (thuộc 15 nhóm ngành) người học được nhận học bổng theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP của Chính phủ.

Chi tiết 34 ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH

Chi tiết 34 ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Kể từ ngày 12/6/2025, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố. Trong đó có 19 tỉnh và 4 thành phố hình thành sau sắp xếp và 11 tỉnh, thành phố không thực hiện sắp xếp.

Tra cứu TUỔI NGHỈ HƯU và THỜI ĐIỂM NGHỈ HƯU

Tra cứu TUỔI NGHỈ HƯU và THỜI ĐIỂM NGHỈ HƯU

Hướng dẫn thực hiện chính sách

(Chinhphu.vn) - Năm 2026, độ tuổi nghỉ hưu của người lao động nam là 61 tuổi 6 tháng, lao động nữ là 57 tuổi. Năm 2027, độ tuổi nghỉ hưu của người lao động nam sẽ là 61 tuổi 9 tháng, lao động nữ sẽ là 57 tuổi 4 tháng;...

TOÀN VĂN: Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

TOÀN VĂN: Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết.

Chúng tôi luôn Lắng nghe và phản hồi Chúng tôi
luôn
Lắng nghe
và phản hồi