Tăng cường công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

30/10/2026 14:44

(Chinhphu.vn) - Ngày 29/10/2026, Cục Thuế ban hành Công văn số 8171/CT-NVT gửi các Thuế các tỉnh, thành phố chỉ đạo cơ quan thuế các cấp tăng cường công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.

Tăng cường công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp - Ảnh 1.

Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 Bãi bỏ yêu cầu xác nhận của cơ quan chức năng trên Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; không yêu cầu người dân cung cấp lại thông tin, hồ sơ mà cơ quan nhà nước đã có và đủ điều kiện kết nối dữ liệu

Nội dung Công văn số 8171/CT-NVT chỉ rõ, thời gian qua, Cục Thuế đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thuế các tỉnh, thành phố về công tác quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (SDĐPNN) đặc biệt về rà soát, chuẩn hoá dữ liệu trên các hệ thống ứng dụng ngành (Thông báo số 788/TB-CT ngày 6/10/2025 về việc thực hiện nhiệm vụ rà soát, chuẩn hóa dữ liệu của NNT theo địa bàn hành chính 2 cấp; công văn số 3885/CT-NVT ngày 18/9/2025 về việc rà soát, chuẩn hóa dữ liệu PNN; công văn số 6001/CT-NVT ngày 15/12/2025 về việc rà soát dữ liệu trên Ứng dụng Quản lý trước bạ, nhà đất; công văn số 3966/CT-NVT ngày 15/6/2026 về việc chuẩn hóa và xử lý dứt điểm dữ liệu thuế SDĐPNN, dữ liệu trên Ứng dụng Quản lý trước bạ, nhà đất). Đến nay cơ quan thuế đã hoàn thành rà soát 95,57% trên tổng số (3.372.799) tờ khai cần rà soát.

Đồng thời, Cục Thuế đã tham mưu Bộ Tài chính báo cáo Chính phủ cắt giảm thủ tục hành chính, thành phần hồ sơ tại Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15, Nghị định 252/2026/NĐ-CP và Thông tư số 89/2026/TT-BTC hướng dẫn Luật Quản lý thuế. 

Theo đó, bãi bỏ yêu cầu xác nhận của cơ quan chức năng trên Tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; không yêu cầu người dân cung cấp lại thông tin, hồ sơ mà cơ quan nhà nước đã có và đủ điều kiện kết nối dữ liệu; không phải nộp hồ sơ khai thuế đối với trường hợp cơ quan thuế đã kết nối và có đầy đủ thông tin về đất do cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia, CSDL của cơ quan nông nghiệp môi trường cung cấp.

Tuy nhiên, qua nắm bắt tình hình triển khai thực tế, tại một số địa bàn vẫn còn tình trạng thông tin người nộp thuế (NNT), thông tin thửa đất chưa được cập nhật đầy đủ dẫn đến việc thông báo nghĩa vụ thuế PNN cho NNT không chính xác. 

Việc tiếp nhận, xử lý phản hồi nghĩa vụ thuế của NNT bằng phương thức điện tử theo chỉ đạo tại công văn số 3383/CT-NVT ngày 25/5/2026 của Cục Thuế còn chưa được giải quyết kịp thời; một số nội dung trả lời chưa rõ, chưa giải quyết dứt điểm vướng mắc của NNT. Công tác phối hợp, đối soát dữ liệu và phân công trách nhiệm xử lý cần tiếp tục được chấn chỉnh.

Để tập trung hỗ trợ tối đa, tháo gỡ kịp thời khó khăn vướng mắc cho NNT trong quá trình thực hiện, nâng cao hiệu quả quản lý thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Cục Thuế đề nghị Trưởng Thuế các tỉnh, thành phố thực hiện nghiêm các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, chuẩn hóa, hoàn thiện cơ sở dữ liệu quản lý thuế SDĐPNN:

Cơ quan thuế tiếp tục rà soát, cập nhật đầy đủ, chính xác thông tin NNT, thửa đất và kết quả thực hiện nghĩa vụ thuế theo chỉ đạo tại Công văn số 3966/CT-NVT ngày 15/6/2026 của Cục Thuế. Tập trung xử lý dữ liệu lịch sử, thông tin sai lệch, trùng lặp và các trường hợp bỏ sót đối tượng quản lý kịp thời điều chỉnh khi có đủ căn cứ theo quy định và hướng dẫn tại Phụ lục kèm theo công văn số 3966/CT-NVT ngày 15/6/2026, theo đó:

- Rà soát tờ khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp được cập nhật theo địa bàn hành chính 2 cấp: Rà soát danh mục loại đất, loại đường, tổ/thôn, đường/vùng, đoạn đường/khu vực và giá đất; cập nhật địa chỉ thửa đất, mã cơ quan thuế quản lý, địa bàn phát sinh khoản thu. Trường hợp thay đổi cơ quan thuế quản lý, thực hiện chuyển tờ khai, dữ liệu nợ, nộp thừa và cập nhật trạng thái chuyển địa bàn.

- Chủ động khai thác cơ sở dữ liệu ngành thuế (Ứng dụng quản lý thuế tập trung, Ứng dụng Quản lý trước bạ, nhà đất) rà soát, chuẩn hóa dữ liệu nghĩa vụ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp về NNT.

- Phối hợp với chính quyền địa phương, cơ quan quản lý đất đai và các cơ quan liên quan trên địa bàn để lên danh sách, đối chiếu dữ liệu đất đai, thông tin biến động về người sử dụng đất và kết quả nộp ngân sách nhà nước. Trên cơ sở đó đôn đốc và hướng dẫn NNT nộp tờ khai thuế và điều chỉnh thông tin kịp thời.

- Rà soát, chuẩn hóa thông tin về nghĩa vụ thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: 100% NNT nộp thừa phải được xác nhận số thừa đúng trên chức năng 8.15.1.2. Tra cứu/ Cập nhật kết quả rà soát dữ liệu nộp thừa TMS.

Thứ hai, thực hiện việc giải quyết phản hồi, kiến nghị của NNT về nghĩa vụ thuế SDĐPNN theo phương thức điện tử:

Cơ quan thuế thực hiện nghiêm túc việc giải quyết phản hồi, kiến nghị của NNT về nghĩa vụ thuế sử dụng đất PNN theo chỉ đạo tại công văn số 3383/CT-NVT ngày 25/5/2026 của Cục Thuế, cụ thể:

- Tổ chức rà soát toàn bộ phản hồi, kiến nghị chưa được giải quyết; phân loại theo nội dung, nguyên nhân, thẩm quyền và thời gian xử lý. Phân công rõ công chức tiếp nhận, xử lý, lãnh đạo kiểm soát và thời hạn giải quyết đối với từng trường hợp; không để bỏ sót, tồn đọng hoặc đùn đẩy trách nhiệm.

- Chủ động xác minh, điều chỉnh dữ liệu khi đủ căn cứ; trả lời đúng trọng tâm, nêu rõ căn cứ, kết quả và hướng xử lý. Trường hợp cần xác minh hoặc vượt thẩm quyền, phải thông tin rõ cho NNT, hướng dẫn cụ thể và phối hợp theo dõi đến khi có kết quả giải quyết.

- Kiểm tra, giám sát việc cập nhật dữ liệu, phát hành thông báo và xử lý phản hồi. Đối với tồn tại, sai sót, phải xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm của công chức, bộ phận và lãnh đạo phụ trách; chấn chỉnh, xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền. Việc xem xét trách nhiệm phải căn cứ chức trách, điều kiện thực tế và hồ sơ, dữ liệu, phân biệt rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả công tác ủy nhiệm thu thuế SDĐPNN trên địa bàn:

- Tổ chức đánh giá, rà soát công tác tổ chức thực hiện ủy nhiệm thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp trên địa bàn: Hợp đồng, phạm vi ủy nhiệm, kết quả thực hiện và trách nhiệm của các bên trong hoạt động ủy nhiệm thu. Trong đó lưu ý làm rõ cơ chế phối hợp giữa cơ quan thuế với đơn vị nhận ủy nhiệm thu và chính quyền địa phương trong việc cập nhật dữ liệu, biến động đối tượng, NNT sử dụng đất phi nông nghiệp.

- Thực hiện đối soát, thanh toán, quyết toán kinh phí ủy nhiệm thu kịp thời theo quy định và hợp đồng; làm rõ trách nhiệm, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các sai phạm theo thẩm quyền. Kiểm tra, đối soát số thu, số đã nộp ngân sách nhà nước và số đã hạch toán trên ứng dụng; kịp thời xử lý các trường hợp thu sai đối tượng, chậm nộp NSNN, đã nộp nhưng chưa cập nhật hoặc còn ghi nhận nợ không đúng thực tế.

Thứ tư, đẩy mạnh tuyên truyền, hỗ trợ NNT về thuế SDĐPNN:

- Xây dựng tài liệu và tổ chức tuyên truyền thống nhất về chính sách thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, các trường hợp phải kê khai, nộp thuế.

- Phối hợp với cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình; chính quyền địa phương; cơ quan quản lý đất đai và các sở, ban, ngành tổ chức tuyên truyền bằng nhiều hình thức phù hợp, hiệu quả với từng nhóm NNT

- Thành lập các tổ công tác hỗ trợ trực tiếp NNT kê khai, nộp thuế và giải quyết dứt điểm các vướng mắc về thuế sử dụng đất phi nông nghiệp cho người dân. Trong đó, đồng chí Trưởng Thuế tỉnh, thành phố làm Tổ trưởng, chịu trách nhiệm chỉ đạo chung và chịu trách nhiệm toàn diện về kết quả triển khai trên địa bàn; các đồng chí Phó trưởng Thuế tỉnh, thành phố làm Tổ phó, phụ trách, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện tại các địa bàn được phân công.

Trưởng Thuế cơ sở chịu trách nhiệm trực tiếp tổ chức triển khai, bố trí nhân lực hỗ trợ và giải quyết các vướng mắc phát sinh trên địa bàn quản lý. Phân công rõ người, rõ việc, rõ địa bàn, rõ trách nhiệm và thời hạn hoàn thành; bảo đảm NNT được hướng dẫn đầy đủ, kịp thời, thuận tiện trong thực hiện nghĩa vụ thuế, các phản ánh, kiến nghị được tiếp nhận, xử lý dứt điểm, không để tồn đọng, kéo dài hoặc yêu cầu người dân đi lại nhiều lần.

Trưởng Thuế tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm toàn diện trước Cục trưởng Cục Thuế về tiến độ, chất lượng và kết quả triển khai quản lý thuế PNN, các đồng chí lãnh đạo Thuế tỉnh, thành phố và Trưởng Thuế cơ sở chịu trách nhiệm trực tiếp về tiến độ, chất lượng và kết quả thực hiện các nhiệm vụ được giao theo địa bàn phụ trách, đặc biệt là kết quả giải quyết phản hồi của NNT trên địa bàn. Lãnh đạo cơ quan thuế trực tiếp chỉ đạo kiểm tra, chấn chỉnh và xử lý kịp thời các tồn tại, vi phạm (nếu có). Thuế các tỉnh, thành phố tiếp tục thực hiện nghiêm chế độ báo cáo kết quả triển khai theo yêu cầu tại Công văn số 3966/CT-NVT ngày 15/6/2026 của Cục Thuế.

Nội dung này, đã nhận được 0 góp ý, hiến kế
Góp ý, hiến kế cho Chính phủ ngay tại đây
Đọc nhiều
NGÀY VĂN HÓA VIỆT NAM - 24/11, người lao động được nghỉ, hưởng nguyên lương

NGÀY VĂN HÓA VIỆT NAM - 24/11, người lao động được nghỉ, hưởng nguyên lương

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Quốc hội thông qua Nghị quyết quy định ngày 24/11 hằng năm là “Ngày Văn hóa Việt Nam”, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030

Danh mục 111 NGÀNH được nhận HỌC BỔNG hằng tháng

Danh mục 111 NGÀNH được nhận HỌC BỔNG hằng tháng

Hướng dẫn thực hiện chính sách

(Chinhphu.vn) - Toàn văn Quyết định số 1826/QĐ-BGDĐT của Bộ GDĐT ban hành danh mục 111 đào tạo (thuộc 15 nhóm ngành) người học được nhận học bổng theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP của Chính phủ.

Chi tiết 34 ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH

Chi tiết 34 ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP TỈNH

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Kể từ ngày 12/6/2025, cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố. Trong đó có 19 tỉnh và 4 thành phố hình thành sau sắp xếp và 11 tỉnh, thành phố không thực hiện sắp xếp.

Tra cứu TUỔI NGHỈ HƯU và THỜI ĐIỂM NGHỈ HƯU

Tra cứu TUỔI NGHỈ HƯU và THỜI ĐIỂM NGHỈ HƯU

Hướng dẫn thực hiện chính sách

(Chinhphu.vn) - Năm 2026, độ tuổi nghỉ hưu của người lao động nam là 61 tuổi 6 tháng, lao động nữ là 57 tuổi. Năm 2027, độ tuổi nghỉ hưu của người lao động nam sẽ là 61 tuổi 9 tháng, lao động nữ sẽ là 57 tuổi 4 tháng;...

TOÀN VĂN: Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

TOÀN VĂN: Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

Chính sách và cuộc sống

(Chinhphu.vn) - Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết.

Chúng tôi luôn Lắng nghe và phản hồi Chúng tôi
luôn
Lắng nghe
và phản hồi