In bài viết

Thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù về giáo dục, y tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: Nhiều tồn tại vượt thẩm quyền cấp cơ sở

05:05 - 30/07/2026

(Chinhphu.vn) - Thường trực Hội đồng Dân tộc làm việc với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế về chuyên đề khảo sát “Việc triển khai thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù về giáo dục và y tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”. Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn chủ trì buổi làm việc.

Thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù về giáo dục, y tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: Nhiều tồn tại vượt thẩm quyền cấp cơ sở- Ảnh 1.

Phát biểu khai mạc buổi làm việc, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn nhấn mạnh, y tế và giáo dục - đào tạo là hai lĩnh vực đặc biệt quan trọng, luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước. 

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; y tế là lĩnh vực then chốt, chăm lo cho sức khỏe của nhân dân - yếu tố được đặt lên trên hết và trước hết.

Gần đây, Bộ Chính trị đã ban hành các nghị quyết quan trọng về lĩnh vực y tế và giáo dục đào tạo. 

Thể chế hóa chủ trương của Bộ Chính trị, Quốc hội đã kịp thời ban hành các nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù nhằm thúc đẩy phát triển giáo dục - đào tạo và nâng cao chất lượng chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân, như: Nghị quyết số 217/2025/QH15, Nghị quyết số 248/2025/QH15 trong lĩnh vực giáo dục; Nghị quyết số 261/2025/QH15 trong lĩnh vực y tế. Cùng với đó là các chính sách lớn như đẩy mạnh khám sức khỏe toàn dân, miễn giảm học phí...

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn cho biết, Hội đồng Dân tộc đã thành lập 2 đoàn khảo sát, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Bộ Dân tộc và Tôn giáo cùng các cơ quan của Quốc hội tiến hành khảo sát trực tiếp tại 6 địa phương đại diện cho 3 miền đất nước. 

Mục tiêu trọng tâm là kiểm tra việc thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù về giáo dục và y tế tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và biên giới.

Thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù về giáo dục, y tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: Nhiều tồn tại vượt thẩm quyền cấp cơ sở- Ảnh 2.

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn phát biểu tại buổi làm việc

Trạm y tế, cơ sở giáo dục: Còn nhiều tồn tại vượt thẩm quyền cấp cơ sở

Qua khảo sát bước đầu, Thường trực Hội đồng Dân tộc nhận thấy các địa phương đã rất quan tâm, quyết liệt chỉ đạo triển khai các nghị quyết nhằm phục vụ tốt nhất cho Nhân dân, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Hệ thống ngành dọc giáo dục và y tế tại địa phương đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan để tổ chức thực hiện.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình khảo sát từ cấp xã, trạm y tế, các cơ sở giáo dục đến các Sở, ngành cấp tỉnh cho thấy vẫn còn không ít khó khăn, vướng mắc. 

Mặc dù đại diện các Vụ, Cục chuyên môn của hai Bộ đã tích cực trao đổi, hướng dẫn địa phương tháo gỡ một số vướng mắc ban đầu, nhưng thực tế vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại vượt thẩm quyền cấp cơ sở, đòi hỏi phải tổng hợp báo cáo lãnh đạo các Bộ và cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

Thường trực Hội đồng Dân tộc mong muốn tại buổi làm việc này, lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế cùng các cơ quan liên quan thẳng thắn trao đổi, cùng tháo gỡ những vướng mắc, hạn chế theo đúng tinh thần chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tuyệt đối tránh tình trạng đùn đẩy, né tránh. 

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc đề nghị các đại biểu có đánh giá khách quan, toàn diện kết quả bước đầu triển khai các nghị quyết của Bộ Chính trị, các cơ chế, chính sách đặc thù của Quốc hội và Chính phủ về y tế, giáo dục; chỉ rõ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân; nêu rõ những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn khảo sát tại các địa phương; xác định các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới nhằm thực hiện hiệu quả hơn nữa chính sách y tế và giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới.

Thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù về giáo dục, y tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: Nhiều tồn tại vượt thẩm quyền cấp cơ sở- Ảnh 3.

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Lâm Văn Mẫn phát biểu tại buổi làm việc

Mạng lưới y tế cơ sở từng bước củng cố, năng lực ứng phó dịch bệnh nâng cao

Báo cáo tại buổi làm việc, đại diện Bộ Y tế cho biết, trong giai đoạn 2021-2025, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) luôn nhận được sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Đảng, Quốc hội và Chính phủ. 

Mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được duy trì và củng cố từ tuyến tỉnh đến tuyến xã, kết hợp chặt chẽ với y tế thôn, bản, đóng vai trò then chốt trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống dịch bệnh và quản lý sức khỏe cộng đồng.

Tính đến năm 2025, cả nước đã đạt chỉ tiêu 15 bác sĩ/1 vạn dân và 20 điều dưỡng/1 vạn dân. Đến tháng 6/2026, toàn quốc ghi nhận 98.631.338 người tham gia bảo hiểm y tế (BHYT), đạt tỷ lệ bao phủ 95,42%. Trong đó có 8.978.335 người dân tộc thiểu số tham gia BHYT. 

Công tác tiêm chủng mở rộng đạt kết quả tích cực với tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt 96,3% (năm 2024) và 98,7% (năm 2025). Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em thể nhẹ cân giảm từ 11,5% (năm 2020) xuống còn 10,4% (năm 2024), thể thấp còi giảm từ 19,6% xuống 18,1%.

Thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù về giáo dục, y tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: Nhiều tồn tại vượt thẩm quyền cấp cơ sở- Ảnh 4.

Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà phát biểu tại buổi làm việc

Đặc biệt, triển khai Dự án đào tạo nhân lực y tế thuộc Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS&MN, Bộ Y tế đã tiếp nhận 532 bác sĩ đang công tác tại 148 huyện khó khăn thuộc 38 tỉnh tham gia đào tạo bác sĩ chuyên khoa cấp I. 

Đến nay, 150 bác sĩ đã tốt nghiệp, trở về phục vụ tại 85 huyện thuộc 31 tỉnh, trong khi 382 bác sĩ đang tiếp tục khóa học. 

Ngoài ra, mạng lưới 1.515 cô đỡ thôn bản (tính đến hết năm 2025) và 25.365 cộng tác viên dân số tại vùng DTTS&MN tiếp tục giữ vai trò "cánh tay nối dài" đưa dịch vụ y tế đến tận thôn, bản.

Thực hiện Nghị quyết số 261/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá cho công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân, Bộ Y tế đã ban hành một số văn bản, tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định một số chế độ phụ cấp đặc thù trong lĩnh vực y tế, hỗ trợ hằng tháng đối với nhân viên y tế thôn, tổ dân phố và cô đỡ thôn bản.

Khẩn trương xây dựng quy định lộ trình tăng mức hưởng bảo hiểm y tế, miễn viện phí

Hiện nay, Bộ Y tế đang khẩn trương xây dựng các dự thảo Nghị định quan trọng khác, gồm: Nghị định quy định về đối tượng, lộ trình tăng mức hưởng BHYT; danh mục bệnh và lộ trình để Quỹ BHYT chi trả khám sàng lọc, chẩn đoán, điều trị sớm từ năm 2027; cùng Đề án và Nghị định về phạm vi, lộ trình miễn viện phí ở mức cơ bản trong phạm vi quyền lợi BHYT. 

Đồng thời, chuyển đổi số y tế được đẩy mạnh với lộ trình hoàn thành bệnh án điện tử tại các bệnh viện trước ngày 01/01/2027 và tích hợp Sổ sức khỏe điện tử trên VNeID.

Tình trạng thiếu nhân lực y tế tại vùng sâu, vùng xa vẫn diễn ra dai dẳng

Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn đối mặt với nhiều khó khăn. Tình trạng thiếu nhân lực y tế, đặc biệt là bác sĩ chuyên khoa, hộ sinh tại vùng sâu, vùng xa vẫn diễn ra dai dẳng do điều kiện làm việc và đãi ngộ chưa thực sự đủ sức thu hút. 

Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế tuyến cơ sở tại một số địa bàn chưa đáp ứng yêu cầu kỹ thuật. Nhu cầu nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển, chuyển đổi số và triển khai các lộ trình miễn viện phí vô cùng lớn, tạo áp lực nghiêm trọng lên ngân sách nhà nước và Quỹ BHYT. 

Bên cạnh đó, địa hình chia cắt, giao thông khó khăn cùng tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em vùng dân tộc thiểu số còn cao hơn mặt bằng chung cả nước tiếp tục là thách thức lớn.

Dự báo giai đoạn 2026-2030, việc thực hiện đầy đủ các cơ chế đặc thù sẽ đòi hỏi nguồn lực rất lớn, trong khi nguy cơ ảnh hưởng tiến độ từ biến động kinh tế, dịch bệnh và thiên tai vẫn luôn thường trực.

Để tháo gỡ khó khăn, Bộ Y tế kiến nghị Quốc hội tiếp tục tăng cường giám sát việc thực hiện Nghị quyết 261/2025/QH15, hoàn thiện hệ thống pháp luật y tế đồng bộ và ưu tiên phân bổ ngân sách cho vùng DTTS&MN. 

Đối với Chính phủ và các Bộ, ngành, Bộ Y tế đề nghị chỉ đạo khẩn trương hoàn thiện các văn bản quy định chi tiết; phối hợp chặt chẽ trong việc cân đối, huy động nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, đào tạo nhân lực và hoàn thiện các nền tảng chuyển đổi số.

Chính sách miễn học phí nhận được sự đồng thuận rất cao của xã hội

Báo cáo tại buổi làm việc, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết việc triển khai Nghị quyết số 217/2025/QH15 và Nghị quyết số 248/2025/QH15 của Quốc hội đã tạo hành lang pháp lý quan trọng, mang lại những chuyển biến tích cực cho giáo dục vùng đồng bào DTTS&MN.

Tính đến nay, riêng vùng DTTS&MN có 19.768 cơ sở giáo dục với khoảng 7,35 triệu học sinh, sinh viên. Trong đó có 156 trường phổ thông dân tộc nội trú, 907 trường phổ thông dân tộc bán trú và 30 trường phổ thông nội trú ở xã biên giới. 

Tỷ lệ học sinh đi học đúng độ tuổi cấp tiểu học đạt 99,7%; 100% các tỉnh, thành phố duy trì và đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở (THCS).

Theo số liệu báo cáo của 22 địa phương, chính sách miễn, hỗ trợ học phí đã được triển khai ở các cấp học từ mầm non đến trung học phổ thông, với phạm vi bao phủ rộng và số lượng đối tượng thụ hưởng lớn. 

Tổng số người học được miễn học phí khoảng 16,9 triệu lượt học sinh công lập (tổng kinh phí 12.831,6 tỷ đồng) và khoảng 1,19 triệu lượt học sinh ngoài công lập (tổng kinh phí 849,9 tỷ đồng). 

Chính sách này nhận được sự đồng thuận rất cao của xã hội, giảm đáng kể gánh nặng chi phí học tập cho hộ nghèo, cận nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần duy trì sĩ số và hạn chế tình trạng học sinh bỏ học.

Liên quan đến chủ trương đầu tư xây dựng trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và THCS tại các xã biên giới đất liền theo Thông báo kết luận số 81-TB/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 298/NQ-CP của Chính phủ, tính đến nay đã khởi công 229 trường tại 21/22 tỉnh, thành phố biên giới với tổng nhu cầu kinh phí 54.764,36 tỷ đồng. 

Ngân sách trung ương đã phân bổ đủ vốn để hoàn thành 100 trường thí điểm khởi công năm 2025 trước ngày 30/8/2026 nhằm kịp thời phục vụ năm học mới 2026 - 2027.

Thiếu giáo viên vẫn là điểm nghẽn lớn nhất; vướng mắc thực hiện chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề

Bên cạnh những kết quả tích cực, báo cáo của Bộ GD&ĐT cũng thẳng thắn chỉ ra nhiều khó khăn, vướng mắc kéo dài tại vùng DTTS&MN. 

Mặc dù tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 89,6%, nhưng cả nước vẫn thiếu 45.691 phòng học và 27.084 phòng học bộ môn. Riêng khu vực khó khăn còn duy trì 6.477 phòng học nhờ, mượn. Tỷ lệ thiết bị dạy học tối thiểu đáp ứng nhu cầu trung bình cả nước mới đạt 50,63%, trong đó cấp THPT chỉ đạt 38,73%.

Nghiêm trọng hơn, tình trạng thiếu giáo viên vẫn là điểm nghẽn lớn nhất. Vùng DTTS&MN hiện thiếu tới 37.832 giáo viên các cấp học mầm non và phổ thông trong biên chế so với định mức (mầm non thiếu 10.472, tiểu học thiếu 9.159, THCS thiếu 13.149, THPT thiếu 5.052). 

Thiếu giáo viên diễn ra chủ yếu ở các môn học đặc thù như Tin học, Tiếng Anh, Công nghệ, Nghệ thuật. 

Mặt khác, việc thực hiện chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề cho nhà giáo theo Nghị định số 182/2026/NĐ-CP (ban hành ngày 22/5/2026, có hiệu lực từ 07/7/2026) cũng phát sinh vướng mắc.

Để tháo gỡ triệt để các tồn tại trên, Bộ GD&ĐT kiến nghị Quốc hội tiếp tục tăng cường chương trình giám sát tối cao; ưu tiên phê duyệt vốn đầu tư công trung hạn cho hạ tầng giáo dục, kiên cố hóa trường lớp vùng đặc biệt khó khăn. 

Đồng thời, đề nghị Quốc hội xem xét ưu tiên bố trí ngân sách trung ương hỗ trợ các địa phương khó khăn chi trả đầy đủ, kịp thời phần phụ cấp ưu đãi theo nghề tăng thêm và phần truy lĩnh từ ngày 01/01/2026 theo Nghị định 182/2026/NĐ-CP.

Đối với Bộ Nội vụ, Bộ GD&ĐT đề xuất đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý biên chế giáo viên, chuyển từ hình thức Trung ương giao chỉ tiêu hằng năm sang phân quyền toàn diện cho địa phương tự chủ quyết định số lượng tuyển dụng theo định mức học sinh và số lớp, quán triệt triệt để nguyên tắc cốt lõi: "Ở đâu có học sinh, ở đó có giáo viên".

Đối với UBND các tỉnh, thành phố, Bộ GD&ĐT đề nghị chịu trách nhiệm rà soát, quản lý quỹ đất giáo dục; kiên quyết thể chế hóa quy định bắt buộc khi phê duyệt quy hoạch khu dân cư, khu đô thị phải tính toán đủ quỹ đất và xây dựng trường học đồng bộ, chấm dứt tình trạng "xây nhà ở trước, bố trí trường học sau" gây quá tải cho hạ tầng giáo dục.

Xóa điểm nghẽn thể chế, bảo đảm nguồn lực thực chất cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Tại buổi làm việc, các đại biểu cho biết, qua kết quả khảo sát thực tế tại một số tỉnh cùng việc thẩm tra báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) và Bộ Y tế, Thường trực Hội đồng Dân tộc ghi nhận tinh thần trách nhiệm của hai Bộ trong việc triển khai các Nghị quyết của Quốc hội. 

Hàng triệu lượt học sinh đã được miễn, hỗ trợ học phí; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS&MN) đạt trên 95%; mạng lưới trường lớp và cơ sở y tế cơ sở tiếp tục được duy trì.

Tuy nhiên, Thường trực Hội đồng Dân tộc thẳng thắn chỉ ra rằng việc tổ chức thực hiện chính sách còn chưa đồng đều, một số kết quả chưa tương xứng với yêu cầu của các cơ chế đặc thù. 

Đáng chú ý là tiến độ ban hành các văn bản quy định chi tiết còn chậm. 

Ở lĩnh vực giáo dục, trong 03 nghị định được giao thực hiện Nghị quyết 248/2025/QH15, Nghị định 271/2026/NĐ-CP về miễn phí sách giáo khoa ban hành chậm 6 tháng; riêng Nghị định quy định cơ chế tài chính, chương trình trọng điểm đào tạo tiến sĩ và tự chủ giáo dục đến tháng 7/2026 vẫn chưa ban hành. 

Ở lĩnh vực y tế, trong 04 nghị định giao chủ trì theo Nghị quyết 261/2025/QH15, Bộ Y tế mới hoàn thành 01 nghị định (Nghị định 192/2026/NĐ-CP về phụ cấp đặc thù), còn 03 nghị định về BHYT và miễn viện phí chưa ban hành, khiến nhận định "đúng lộ trình" chưa thật sự thuyết phục.

Thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù về giáo dục, y tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: Nhiều tồn tại vượt thẩm quyền cấp cơ sở- Ảnh 5.

Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Trần Thị Hoa Ry phát biểu tại buổi làm việc

Bên cạnh đó, Thường trực Hội đồng Dân tộc phản ánh hệ thống số liệu báo cáo của hai Bộ còn thiếu tính đồng bộ. Trong Báo cáo của Bộ GD&ĐT, phần thuyết minh nêu vùng có 19.768 cơ sở giáo dục nhưng phụ lục lại ghi 21.139 cơ sở (chênh 1.371 cơ sở); số liệu vốn trung ương giao xây dựng trường nội trú biên giới giữa thuyết minh và biểu thống kê không khớp nhau. 

Báo cáo của cả hai Bộ đều chưa bóc tách đầy đủ số đối tượng thụ hưởng riêng là người dân tộc thiểu số, kinh phí thực chi riêng cho vùng, cũng như chưa có các chỉ tiêu về tỷ lệ chuyên cần, bỏ học, hoặc phân tích sâu chi phí y tế hộ gia đình.

Thực trạng thiếu hụt đội ngũ cán bộ, giáo viên và y bác sĩ tại địa bàn đặc biệt khó khăn là điểm nghẽn lớn nhất được Thường trực Hội đồng Dân tộc nhấn mạnh. 

Thường trực Hội đồng Dân tộc cho rằng Bộ GD&ĐT cần chủ trì phối hợp với địa phương dự báo nhu cầu đến năm 2030, trình chỉ tiêu biên chế và cơ chế tuyển dụng phù hợp. 

Đồng thời, đối với lộ trình nâng phụ cấp ưu đãi nghề lên 100% cho giáo viên vùng biên giới, khó khăn theo Nghị quyết 248, Bộ cần báo cáo rõ mốc thời gian hoàn thiện và phương án truy lĩnh phụ cấp cho đối tượng thụ hưởng từ ngày 01/01/2026.

Đối với ngành y tế, mặc dù đã đào tạo chuyên khoa I cho 532 bác sĩ tại các huyện khó khăn và ban hành chính sách hỗ trợ hằng tháng cho nhân viên y tế thôn bản, cô đỡ thôn bản theo Nghị định 192/2026/NĐ-CP, nhưng Bộ Y tế vẫn chưa thống kê rõ số lượng nhân lực còn thiếu theo từng tuyến, từng chuyên khoa tại vùng DTTS&MN. 

Thường trực Hội đồng Dân tộc đề nghị Bộ Y tế khẩn trương làm rõ tiến độ chi trả thực tế cho cô đỡ thôn bản, sớm ban hành hướng dẫn quản lý, điều động bác sĩ cơ sở trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tránh phát sinh khoảng trống quản lý chuyên môn.

Về cơ sở vật chất, việc triển khai xây dựng 229 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền đang gặp thách thức về vốn; trong 100 trường thí điểm có 06 trường chậm tiến độ (03 trường ở Cao Bằng và Nghệ An có nguy cơ cao trễ mốc trung gian). 

Ngành y tế cũng chưa cung cấp đủ số liệu trạm y tế đạt chuẩn, danh mục trang thiết bị và còn tồn tại những "điểm lõm" về tiêm chủng, suy dinh dưỡng ở vùng sâu, vùng xa.

Khẩn trương hoàn thiện chính sách

Nhấn mạnh tại buổi làm việc, Thường trực Hội đồng Dân tộc đề nghị hai Bộ chuyển mạnh từ phương thức báo cáo liệt kê đầu vào sang quản trị thực thi theo đầu ra. Mỗi nhiệm vụ phải xác định rõ căn cứ pháp lý, sản phẩm, nguồn lực, tiến độ, cơ quan chịu trách nhiệm và tác động thực tế đến đời sống đồng bào.

Thường trực Hội đồng Dân tộc đề nghị Bộ GD&ĐT khẩn trương hoàn thiện chính sách; bảo đảm cung ứng đầy đủ 3,2 triệu bộ sách giáo khoa cho học sinh DTTS trước ngày 15/8/2026; thống nhất số liệu nguồn vốn trường biên giới. 

Bộ Y tế cần đẩy nhanh tiến độ trình 03 Nghị định còn thiếu; sớm ban hành hướng dẫn chuyên môn về khám sàng lọc sức khỏe miễn phí toàn dân; hoàn thiện quy định giá dịch vụ y tế tính đúng, tính đủ và sửa đổi định mức trang thiết bị trạm y tế xã.

Đặc biệt, trong bối cảnh chuẩn bị tích hợp các Chương trình mục tiêu quốc gia, Thường trực Hội đồng Dân tộc đề nghị Bộ GD&ĐT và Bộ Y tế phải chủ động đề xuất chỉ tiêu, nhiệm vụ, mã ngân sách và cơ chế giám sát riêng cho vùng DTTS&MN, bảo đảm các nguồn lực ưu đãi không bị hòa chung, giảm mức ưu tiên hoặc khó truy xuất hiệu quả trong giai đoạn mới.

Thường trực Hội đồng Dân tộc đề nghị các Bộ tiếp tục rà soát, đánh giá toàn diện các vướng mắc từ thực tiễn; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan của Quốc hội để tham mưu hoàn thiện chính sách, bảo đảm nguồn lực triển khai khả thi, bền vững, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trong giai đoạn tới.