In bài viết

KIẾN TẠO CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ VIỆT NAM: CẦN MỘT HỆ SINH THÁI PHÁT TRIỂN MỚI

09:05 - 13/07/2026

(Chinhphu.vn) - Trong hành trình bốn thập kỷ đổi mới, khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam đã trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế. Bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra là phải hình thành những doanh nghiệp có quy mô lớn, đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn đa quốc gia.

Trong hành trình bốn thập kỷ đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế, mở rộng hội nhập và xây dựng cộng đồng doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh. Khu vực kinh tế tư nhân đã trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế, đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng, việc làm, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Tuy nhiên, bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ tiếp tục gia tăng số lượng doanh nghiệp, mà phải hình thành những doanh nghiệp có quy mô lớn, có năng lực quản trị hiện đại, làm chủ công nghệ, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu và đủ sức cạnh tranh với các tập đoàn đa quốc gia.

Lịch sử phát triển của các nền kinh tế thành công cho thấy không có quốc gia phát triển nào lại không có những doanh nghiệp mạnh. Các tập đoàn hàng đầu thế giới không hình thành chỉ từ sự năng động của doanh nghiệp, mà là kết quả của hệ sinh thái phát triển được kiến tạo trong nhiều thập kỷ, nơi nhà nước, thị trường, khoa học công nghệ, nguồn nhân lực và doanh nghiệp cùng tạo thành nền tảng phát triển.

Vì vậy, câu chuyện của Việt Nam hiện nay không chỉ làm thế nào để có thêm doanh nghiệp, quan trọng hơn là làm sao tạo dựng môi trường để doanh nghiệp trong nước lớn lên, hình thành các tập đoàn kinh tế có năng lực dẫn dắt, đại diện cho sức mạnh kinh tế quốc gia.

Doanh nghiệp lớn không thể hình thành chỉ bằng nỗ lực riêng lẻ của doanh nghiệp, mà cần một hệ sinh thái phát triển được kiến tạo có chủ đích. Vai trò của Nhà nước trong giai đoạn mới không phải là làm thay doanh nghiệp, mà phải tạo dựng môi trường, nguồn lực và niềm tin để doanh nghiệp trong nước có thể lớn lên, đổi mới sáng tạo và cạnh tranh toàn cầu.

Chuyển từ tư duy hỗ trợ doanh nghiệp sang kiến tạo năng lực cạnh tranh quốc gia

Doanh nghiệp không lớn lên chỉ nhờ các chính sách hỗ trợ riêng lẻ; doanh nghiệp lớn lên khi nền kinh tế tạo ra được môi trường để hình thành năng lực cạnh tranh, tích lũy được vốn và phát triển.

Trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách quan trọng nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, tháo gỡ khó khăn, giảm chi phí, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động. Những nỗ lực này có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, trong giai đoạn mới, yêu cầu đặt ra không chỉ giúp doanh nghiệp tồn tại, mà phải tạo điều kiện để doanh nghiệp mở rộng quy mô, nâng cao năng suất và vươn ra thị trường toàn cầu.

Doanh nghiệp muốn trở thành tập đoàn kinh tế phải có thị trường, có khả năng tích lũy vốn, năng lực quản trị, công nghệ, nhân lực chất lượng cao và khả năng xây dựng, thực thi chiến lược sản xuất kinh doanh dài hạn. Đây là điểm khác biệt giữa doanh nghiệp phát triển về quy mô và doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt ngành.

Thực tế cho thấy, một trong các thách thức lớn của doanh nghiệp trong nước hiện nay là chi phí để lớn lên còn quá cao. Đó là các loại chi phí về tiếp cận vốn, đầu tư công nghệ, xây dựng năng lực quản trị, nghiên cứu phát triển, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và cả chi phí do những bất cập trong môi trường kinh doanh.

Khi chi phí để mở rộng quy mô còn lớn, nhiều doanh nghiệp lựa chọn phát triển an toàn trong phạm vi nhỏ thay vì đầu tư dài hạn để trở thành doanh nghiệp lớn. Do đó, cách tiếp cận trong giai đoạn mới của Chính phủ cần thay đổi từ hỗ trợ doanh nghiệp theo nghĩa giải quyết khó khăn trước mắt sang kiến tạo môi trường giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh.

Nhà nước không làm thay doanh nghiệp, nhưng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo dựng các điều kiện nền tảng để doanh nghiệp có thể đầu tư, đổi mới sáng tạo, phát triển dài hạn.

Các nền kinh tế thành công như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc đều cho thấy sự lớn mạnh của doanh nghiệp luôn gắn với một chiến lược phát triển quốc gia, trong đó Nhà nước giữ vai trò định hướng, kiến tạo thể chế, phát triển hạ tầng, nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Phát triển doanh nghiệp tư nhân không chỉ là câu chuyện của khu vực tư nhân, phải là một phần quan trọng trong chiến lược nâng cao năng lực tự chủ, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

KIẾN TẠO CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ VIỆT NAM: CẦN MỘT HỆ SINH THÁI PHÁT TRIỂN MỚI- Ảnh 3.

Các hệ sinh thái nền tảng để doanh nghiệp phát triển thành tập đoàn ngang tầm khu vực và toàn cầu

Không có tập đoàn lớn nào được hình thành trong một hệ sinh thái rời rạc, trói buộc. Muốn có doanh nghiệp lớn, Nhà nước cần xây dựng hệ sinh thái đủ mạnh để doanh nghiệp tích lũy năng lực, đổi mới sáng tạo, cạnh tranh toàn cầu.

Doanh nghiệp có thể có khát vọng phát triển, nhưng để trở thành tập đoàn kinh tế cần hội tụ của nhiều yếu tố, đó là vốn, công nghệ, nhân lực, thị trường, khả năng kết nối, thể chế. Các tập đoàn kinh tế không chỉ được tạo ra bởi khát vọng kinh doanh của doanh nhân mà còn bởi một hệ sinh thái phát triển có chủ đích được kiến tạo trong dài hạn.

Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng hiện nay là chuyển từ phát triển từng doanh nghiệp riêng lẻ sang xây dựng các hệ sinh thái phát triển doanh nghiệp có chủ đích.

Hệ sinh thái tài chính và vốn dài hạn tạo nguồn lực cho những khát vọng dài hạn

Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay của doanh nghiệp trong nước là khả năng tích lũy vốn còn rất hạn chế.

Các tập đoàn hàng đầu thế giới phát triển không chỉ bằng nguồn vốn ban đầu, mà dựa trên khả năng huy động các nguồn lực tài chính để đầu tư vào công nghệ, mở rộng thị trường, thực hiện chiến lược phát triển dài hạn.

Vì vậy, phát triển thị trường vốn là nền tảng để hình thành doanh nghiệp lớn. Chính phủ cần khẩn trương tạo dựng, phát triển các kênh vốn dài hạn, vốn cho đổi mới sáng tạo, các quỹ đầu tư chuyên nghiệp, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp có năng lực tiếp cận nguồn lực phát triển.

Nền kinh tế muốn có tập đoàn lớn không thể chỉ có vốn cho hoạt động ngắn hạn, mà cần có nguồn lực cho những chiến lược phát triển dài hạn.

Hệ sinh thái khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, chuyển từ lợi thế chi phí sang lợi thế tri thức

Trong nền kinh tế hiện đại, sức mạnh của doanh nghiệp không chỉ nằm ở quy mô tài sản, mà ở năng lực tạo ra công nghệ, sản phẩm và giá trị mới. Các tập đoàn đa quốc gia đều coi nghiên cứu phát triển là nền tảng của năng lực cạnh tranh.

Việt Nam cần thúc đẩy mạnh mẽ sự kết nối hiệu quả giữa doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu; chuyển hoạt động nghiên cứu theo hướng gắn với nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế. Cần xây dựng hệ sinh thái khoa học công nghệ gắn với doanh nghiệp. Phát triển doanh nghiệp lớn phải đi cùng với năng lực đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ. Vì vậy, cần khuyến khích các doanh nghiệp lớn trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo của ngành, tạo hiệu ứng lan tỏa tới các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Muốn có tập đoàn công nghệ Việt, trước hết phải xây dựng năng lực tạo ra công nghệ Việt Nam.

Hệ sinh thái nhân lực chất lượng cao và quản trị quốc tế, tạo nền tảng để doanh nghiệp vượt qua giới hạn quy mô

Doanh nghiệp lớn không chỉ cần vốn lớn, công nghệ tiên tiến, mà rất cần con người có tầm nhìn lớn và năng lực quản trị ở quy mô toàn cầu. Một trong những giới hạn khiến nhiều doanh nghiệp trong nước chưa thể phát triển thành tập đoàn là năng lực quản trị chưa theo kịp quy mô tăng trưởng.

Trong giai đoạn đầu, nhiều doanh nghiệp có thể phát triển nhanh nhờ cơ hội thị trường, sự năng động của doanh nhân và lợi thế cạnh tranh nhất định. Tuy nhiên, khi mở rộng quy mô, doanh nghiệp phải đối mặt với những yêu cầu hoàn toàn khác, bao gồm: Quản trị tổ chức lớn, quản trị chuỗi cung ứng, quản trị rủi ro, quản trị công nghệ, ứng phó với biến động của thị trường quốc tế và xây dựng văn hóa doanh nghiệp hiện đại.

Đây chính là ranh giới giữa một doanh nghiệp thành công trong phạm vi thị trường nội địa và một tập đoàn có khả năng cạnh tranh toàn cầu. Doanh nghiệp lớn cần đội ngũ nhân lực có năng lực dẫn dắt; năng lực cạnh tranh quốc gia cuối cùng vẫn được quyết định bởi chất lượng nguồn nhân lực.

Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực cần được đặt trong chiến lược phát triển doanh nghiệp. Việt Nam cần đào tạo đội ngũ lao động có kỹ năng và xây dựng đội ngũ doanh nhân, nhà quản trị, chuyên gia công nghệ có tư duy quốc tế. Trong bối cảnh kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, sản xuất thông minh và chuyển đổi xanh đang làm thay đổi phương thức sản xuất toàn cầu, yêu cầu về nguồn nhân lực càng trở nên cấp thiết.

Cùng với đào tạo trong hệ thống giáo dục, cần thúc đẩy các chương trình phát triển doanh nhân, đào tạo quản trị cấp cao, kết nối doanh nghiệp với các trung tâm tri thức quốc tế.

Một quốc gia có thể có nhiều doanh nghiệp, nhưng để có những tập đoàn mạnh khi và chỉ khi có một thế hệ doanh nhân và nhà quản trị đủ tầm để dẫn dắt.

Hệ sinh thái liên kết và chuỗi giá trị tạo dựng nền kinh tế có năng lực dẫn dắt

Nền kinh tế không thể hình thành các tập đoàn công nghiệp mạnh nếu thiếu một nền tảng doanh nghiệp sản xuất đủ lớn và mạng lưới liên kết đủ sâu trong nước.

Một điểm đáng chú ý trong cơ cấu doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là sự tập trung tương đối lớn vào khu vực dịch vụ, thương mại, bán lẻ và các lĩnh vực phục vụ tiêu dùng. Số lượng doanh nghiệp của khu vực này phát triển nhanh phản ánh sự năng động của nền kinh tế và nhu cầu thị trường, nhưng nếu cơ cấu doanh nghiệp quá thiên lệch về dịch vụ tiêu dùng mà thiếu các doanh nghiệp công nghiệp nền tảng, nền kinh tế sẽ khó hình thành năng lực sản xuất, năng lực công nghệ và chuỗi giá trị có giá trị gia tăng cao.

Trong khi đó, các nền kinh tế phát triển đều cho thấy những tập đoàn có khả năng cạnh tranh toàn cầu thường được hình thành từ nền tảng công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ và khả năng làm chủ chuỗi cung ứng.

Vì vậy, xây dựng hệ sinh thái doanh nghiệp lớn cần gắn với một chiến lược phát triển mạnh hơn cho những doanh nghiệp trong các lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo; công nghiệp hỗ trợ; sản xuất linh kiện, phụ tùng; công nghiệp công nghệ cao; vật liệu mới; năng lượng mới; các ngành kinh tế xanh, kinh tế số. Đây không chỉ là câu chuyện phát triển một vài ngành sản xuất, mà là xây dựng nền tảng để doanh nghiệp Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Bên cạnh đó, cần thúc đẩy mô hình liên kết trong đó doanh nghiệp lớn đóng vai trò hạt nhân, kéo theo sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp công nghệ và các nhà cung ứng trong nước.

Đây cũng là cách để khu vực FDI tạo ra nhiều lan tỏa hơn, thay vì chỉ dừng lại ở việc mở rộng sản xuất tại Việt Nam.

Mục tiêu cuối cùng nhằm tạo ra những doanh nghiệp lớn, đồng thời hình thành một cấu trúc doanh nghiệp có khả năng cùng nhau nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

KIẾN TẠO CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ VIỆT NAM: CẦN MỘT HỆ SINH THÁI PHÁT TRIỂN MỚI- Ảnh 4.

Nhà nước thực hiện vai trò kiến tạo, dẫn dắt, tạo niềm tin phát triển

Nhà nước không làm thay doanh nghiệp, nhưng Nhà nước quyết định rất lớn đến việc doanh nghiệp có đủ điều kiện để lớn lên hay không. Trong quá trình xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân, vai trò của Nhà nước cần được nhìn nhận ở tầm chiến lược, không chỉ quản lý mà phải kiến tạo phát triển.

Trước hết, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo, tạo niềm tin để doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn.

Doanh nghiệp muốn xây dựng nhà máy mới, đầu tư công nghệ, mở rộng thị trường quốc tế cần một môi trường chính sách đủ ổn định để có thể xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần giữ vai trò định hướng chiến lược trong những lĩnh vực có ý nghĩa nền tảng đối với tương lai của nền kinh tế.

Các lĩnh vực như công nghiệp công nghệ cao, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng mới, sản xuất xanh, kinh tế số cần được tiếp cận bằng tư duy dài hạn. Trong đó doanh nghiệp tư nhân là lực lượng quan trọng tham gia đầu tư và phát triển.

Tuy nhiên, vai trò kiến tạo không có nghĩa là lựa chọn hay thay thế doanh nghiệp. Vai trò của Nhà nước là tạo ra luật chơi, hạ tầng, nguồn lực và môi trường để những doanh nghiệp có năng lực có thể phát triển.

Một nền kinh tế mạnh không phải là nền kinh tế có Nhà nước làm thay doanh nghiệp, mà là nền kinh tế có Nhà nước đủ năng lực kiến tạo để doanh nghiệp phát triển mạnh.

KIẾN TẠO CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ VIỆT NAM: CẦN MỘT HỆ SINH THÁI PHÁT TRIỂN MỚI- Ảnh 5.

Từ nghị quyết đến hành động: Đưa Nghị quyết phát triển kinh tế tư nhân vào thực tiễn

Thách thức lớn nhất của Việt Nam hiện nay không chỉ là ban hành chính sách, mà là năng lực tổ chức thực thi chính sách.

Trong những năm qua, Việt Nam đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng về phát triển kinh tế tư nhân. Đây là những định hướng có ý nghĩa chiến lược, thể hiện sự thay đổi trong tư duy phát triển, coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa chủ trương và thực tiễn phát triển vẫn là vấn đề cần tiếp tục giải quyết. Một nghị quyết chỉ thực sự tạo ra thay đổi khi được chuyển hóa thành chương trình hành động cụ thể, có mục tiêu rõ ràng, có cơ quan chịu trách nhiệm, có nguồn lực thực hiện, có cơ chế kiểm tra, đánh giá kết quả.

Vì vậy, cần nghiên cứu xây dựng và thực thi Chương trình quốc gia về phát triển doanh nghiệp tư nhân, cần tập trung vào 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm.

Một là, xác định và phát triển nhóm doanh nghiệp có tiềm năng trở thành tập đoàn kinh tế. Không phải mọi doanh nghiệp đều cần hoặc có khả năng trở thành tập đoàn lớn. Vì vậy, cần nhận diện những doanh nghiệp có năng lực, có khát vọng, có chiến lược dài hạn để tập trung phát triển.

Tiêu chí lựa chọn cần dựa trên năng lực quản trị; khả năng đổi mới sáng tạo; tiềm năng thị trường; năng lực tham gia chuỗi giá trị; khả năng cạnh tranh quốc tế. Mục tiêu không phải tạo ra doanh nghiệp bằng cơ chế hành chính, mà tạo điều kiện để doanh nghiệp có năng lực phát triển thành lực lượng dẫn dắt.

Hai là, xác định các ngành, lĩnh vực ưu tiên tạo năng lực cạnh tranh mới. Cần có chiến lược phát triển các lĩnh vực có khả năng tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn như công nghiệp chế biến, chế tạo; công nghiệp hỗ trợ; công nghệ cao; bán dẫn; trí tuệ nhân tạo; năng lượng mới; logistics; sản xuất xanh.

Việc xác định lĩnh vực ưu tiên không phải là can thiệp vào thị trường, mà tạo định hướng để nguồn lực xã hội tập trung vào những ngành có khả năng nâng cao năng suất và giá trị gia tăng.

Ba là, xây dựng cơ chế thúc đẩy đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ. Doanh nghiệp trong nước cần chuyển từ mô hình cạnh tranh dựa chủ yếu vào chi phí sang cạnh tranh dựa trên công nghệ và sáng tạo. Cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho R&D, tăng cường liên kết với viện nghiên cứu, trường đại học, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Bốn là, phát triển nguồn nhân lực và đội ngũ doanh nhân tầm quốc tế. Cần coi phát triển doanh nhân và nhà quản trị cấp cao là một bộ phận đặc biệt của chiến lược phát triển quốc gia. Doanh nghiệp muốn vươn ra toàn cầu cần nhà lãnh đạo có tư duy quốc tế, khả năng quản trị tổ chức lớn, năng lực dự báo và thích ứng với biến động toàn cầu.

Năm là, thiết lập cơ chế thực thi và đánh giá kết quả. Đây là yếu tố quyết định thành công. Cần chuyển từ tư duy "ban hành chính sách" sang tư duy "quản trị kết quả chính sách".

Theo đó, mỗi chương trình phát triển doanh nghiệp cần có mục tiêu cụ thể; lộ trình rõ ràng; cơ quan chịu trách nhiệm; nguồn lực triển khai; cơ chế giám sát. Chính sách chỉ tạo ra giá trị khi được thực thi hiệu quả; năng lực thực thi sẽ quyết định khả năng biến khát vọng phát triển thành năng lực phát triển thực tế.

Hành trình xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân Việt Nam tầm khu vực và toàn cầu không phải là câu chuyện của một vài doanh nghiệp riêng lẻ, mà là câu chuyện về năng lực phát triển của cả nền kinh tế.

Sau bốn thập kỷ đổi mới, Việt Nam đã tạo dựng được nền tảng quan trọng với nền kinh tế năng động, hội nhập sâu rộng và cộng đồng doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh.

Nhưng giai đoạn phát triển mới đòi hỏi bước chuyển lớn hơn từ một nền kinh tế dựa nhiều vào khai thác lợi thế sẵn có sang nền kinh tế dựa vào năng lực nội sinh, đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

Muốn có những tập đoàn kinh tế mang tầm vóc quốc gia và cạnh tranh toàn cầu, kinh tế Việt Nam cần một hệ sinh thái phát triển mới, nơi doanh nghiệp có thể tích lũy vốn, làm chủ công nghệ, phát triển nhân lực, tham gia chuỗi giá trị và trưởng thành trong một môi trường cạnh tranh bình đẳng.

Kiến tạo doanh nghiệp lớn chính là kiến tạo một trụ cột của sức mạnh kinh tế quốc gia. Điều quan trọng hơn, trong những năm tới, kinh tế Việt Nam không chỉ tạo ra các doanh nghiệp có quy mô lớn, mà cần xây dựng những doanh nghiệp có khả năng đại diện cho trí tuệ, khát vọng, năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu./.

Nguyễn Bích Lâm

Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê