Sáu tháng đầu năm 2026, kinh tế nước ta vận hành trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều bất định. Xung đột địa chính trị và xung đột vũ trang tại Trung Đông làm gia tăng rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, đẩy giá năng lượng, chi phí vận tải lên cao, tạo áp lực lên lạm phát toàn cầu. Lạm phát tại nhiều nền kinh tế phát triển vẫn cao hơn mục tiêu, buộc các ngân hàng trung ương lớn tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ thận trọng; nhiều tổ chức tài chính quốc tế điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2026.
Trong bối cảnh đó, kinh tế nước ta vẫn duy trì được đà phục hồi khá tích cực nhờ sự lãnh đạo quyết liệt của Đảng, sự điều hành chủ động, linh hoạt của Chính phủ, sự đồng hành của Quốc hội cùng nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng, đầu tư công và đầu tư nước ngoài khởi sắc, môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, niềm tin của doanh nghiệp từng bước phục hồi.
Cùng với những điểm sáng, bức tranh tăng trưởng đang xuất hiện rõ hơn những ràng buộc mang tính cấu trúc: tổng cầu trong nước phục hồi chậm, nhập siêu gia tăng, hiệu quả xuất nhập khẩu hàng hoá suy giảm, khu vực FDI tiếp tục chi phối xuất khẩu và áp lực lạm phát đang lớn dần. Điều này đặt ra yêu cầu không chỉ duy trì tốc độ tăng trưởng mà còn phải nâng cao chất lượng tăng trưởng và củng cố năng lực nội sinh của nền kinh tế.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, khu vực công nghiệp tiếp tục là điểm tựa quan trọng của nền kinh tế. Động lực tăng trưởng từ sản xuất đã góp phần duy trì hoạt động của chuỗi cung ứng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu, củng cố niềm tin của khu vực doanh nghiệp.
Mặc dù phải đối mặt với áp lực chi phí đầu vào gia tăng, giá năng lượng thế giới biến động mạnh và thị trường quốc tế còn nhiều bất ổn, khu vực sản xuất vẫn duy trì được xu hướng mở rộng.
Đây là kết quả của quá trình thích ứng nhanh của doanh nghiệp, cùng với việc Chính phủ liên tục triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy giải ngân đầu tư công, cải thiện môi trường đầu tư và bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.
Khu vực công nghiệp tiếp tục là "đầu tàu" giữ nhịp tăng trưởng của nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào tốc độ tăng khu vực công nghiệp sẽ không phản ánh đầy đủ chất lượng của quá trình phục hồi. Điều quan trọng ở chỗ đà tăng có thực sự bền vững hay chủ yếu được thúc đẩy bởi yếu tố ngắn hạn, đặc biệt trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng cao và môi trường kinh tế quốc tế còn nhiều bất định.
Nếu chỉ số sản xuất công nghiệp phản ánh kết quả đầu ra của khu vực sản xuất thì Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) là chỉ báo sớm về sức khỏe của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.
Tháng 6/2026, PMI đạt 51,8 điểm, giảm nhẹ so với mức 52,8 điểm của tháng 5 nhưng vẫn duy trì trên ngưỡng 50 điểm tháng thứ sáu liên tiếp. Chuỗi PMI của sáu tháng đầu năm đều trên 50 điểm phản ánh khu vực sản xuất vẫn đang trong xu hướng mở rộng bất chấp những cú sốc từ môi trường kinh tế quốc tế.
Số lượng đơn hàng mới và đơn hàng xuất khẩu tiếp tục tăng trong tháng 6, dù tốc độ tăng đã chậm hơn tháng trước. Điều này cho thấy doanh nghiệp vẫn kỳ vọng vào triển vọng thị trường trong những tháng cuối năm, đồng thời phản ánh khả năng thích ứng khá linh hoạt trước những biến động của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tuy nhiên, đằng sau bức tranh tích cực đó vẫn còn nhiều yếu tố cần lưu ý.
Diễn biến PMI trong sáu tháng đầu năm phản ánh khá rõ mức độ nhạy cảm của khu vực công nghiệp trước các biến động bên ngoài. Mỗi khi giá năng lượng, chi phí vận tải hoặc căng thẳng địa chính trị gia tăng, hoạt động sản xuất lập tức chịu tác động thông qua chi phí đầu vào, tiến độ giao hàng và sức mua của thị trường.
Đặc biệt, mặc dù đơn hàng mới tiếp tục tăng, nhưng tốc độ tăng đã chậm lại đáng kể so với giai đoạn đầu năm. Điều này cho thấy tăng trưởng của khu vực sản xuất chưa được dẫn dắt bởi sự mở rộng mạnh của tổng cầu, mà vẫn chịu ảnh hưởng lớn từ các yếu tố phòng ngừa rủi ro, tích trữ nguyên vật liệu và kỳ vọng vào diễn biến thị trường trong tương lai.
Nói cách khác, khu vực sản xuất đang phục hồi nhưng nền tảng của sự phục hồi chưa vững chắc khi vẫn phụ thuộc khá lớn vào diễn biến của kinh tế thế giới và khả năng cải thiện sức mua trong nước.
Đây là lý do khiến việc mở rộng thị trường trong nước, phát triển công nghiệp hỗ trợ và nâng cao năng lực tự chủ của chuỗi cung ứng cần tiếp tục được coi là những ưu tiên chiến lược trong giai đoạn tới.
Nếu chỉ số PMI phản ánh niềm tin của khu vực sản xuất thì bức tranh đăng ký doanh nghiệp cho thấy rõ hơn sức sống của khu vực kinh tế tư nhân.
Sáu tháng đầu năm 2026, cả nước có 111,7 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và 58,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nâng tổng số doanh nghiệp gia nhập thị trường lên 169,8 nghìn, bình quân mỗi tháng có hơn 28,3 nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường.
Đây là kết quả tích cực, phản ánh hiệu quả bước đầu của các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh và khôi phục niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp.
Bức tranh gia nhập thị trường đã tích cực hơn đáng kể so với giai đoạn đầu năm, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư và doanh nghiệp đang dần được củng cố.
Tuy nhiên, nhìn sâu hơn vào cơ cấu doanh nghiệp mới thành lập cho thấy tín hiệu cần đặc biệt quan tâm khi có tới 83,1% doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực dịch vụ, trong khi tỷ trọng doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo, còn khá khiêm tốn. Điều này phản ánh năng lực sản xuất mới của nền kinh tế chưa được bổ sung tương xứng với tốc độ gia tăng số lượng doanh nghiệp.
Nếu xu hướng này kéo dài, khu vực doanh nghiệp sẽ tiếp tục phát triển theo chiều rộng, thiên về các ngành thương mại và dịch vụ, trong khi khu vực trực tiếp tạo ra năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ và nâng cao giá trị gia tăng lại tăng chậm hơn. Đây là một trong những nguyên nhân khiến năng lực nội sinh của nền kinh tế khó được cải thiện mạnh trong trung và dài hạn.
Trong sáu tháng đầu năm vẫn có 151,1 nghìn doanh nghiệp rút khỏi thị trường, bình quân mỗi tháng có trên 25 nghìn doanh nghiệp rời khỏi thị trường.
Mặc dù số doanh nghiệp gia nhập thị trường vẫn cao hơn số doanh nghiệp rút lui, nhưng tỷ lệ doanh nghiệp rút khỏi thị trường vẫn tương đương khoảng 89% số doanh nghiệp gia nhập. Điều này phản ánh sức chống chịu của khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn còn hạn chế trước áp lực chi phí, cạnh tranh và biến động của thị trường.
Điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II/2026 càng làm rõ hơn bức tranh này. Có 50,6% doanh nghiệp cho rằng sức ép cạnh tranh trên thị trường trong nước là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh; 47% doanh nghiệp đánh giá nhu cầu thị trường trong nước còn thấp; 27,3% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu của thị trường quốc tế chưa phục hồi như kỳ vọng.
Mặc dù tỷ lệ doanh nghiệp phản ánh vướng mắc về cơ chế, chính sách đã giảm xuống còn 9,4%, nhưng những con số trên cho thấy điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không còn nằm chủ yếu ở thủ tục hành chính, mà nằm ở khả năng mở rộng thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đây cũng là thông điệp quan trọng đối với điều hành kinh tế trong thời gian tới, đó là hỗ trợ doanh nghiệp không chỉ bằng cải cách thủ tục, mà quan trọng hơn là tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp trong nước.
Nếu sản xuất và đầu tư tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng thì tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình - động lực quan trọng nhất của tăng trưởng bền vững vẫn phục hồi chậm hơn kỳ vọng.
Sáu tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù mức tăng này phản ánh xu hướng cải thiện so với những tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mức tăng 7,4% của cùng kỳ năm 2025.
Điều đáng lưu ý là kết quả này đạt được trong bối cảnh Việt Nam đã đón 12,3 triệu lượt khách du lịch quốc tế, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước và là nguồn bổ sung đáng kể cho tổng cầu tiêu dùng. Nếu loại trừ tác động từ chi tiêu của khách quốc tế, mức phục hồi của tiêu dùng trong nước sẽ khiêm tốn hơn.
Nguyên nhân chủ yếu không nằm ở nguồn cung mà ở sức mua của nền kinh tế. Thu nhập của một bộ phận người lao động chưa phục hồi tương xứng, trong khi mặt bằng giá nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ thiết yếu tăng lên dưới tác động của chi phí nguyên liệu, năng lượng và logistics. Người tiêu dùng có xu hướng thận trong hơn trong các quyết định chi tiêu, ưu tiên các mặt hàng thiết yếu và hạn chế những khoản chi có giá trị lớn.
Điều đó cho thấy tổng cầu trong nước đang phục hồi nhưng chưa đủ mạnh để trở thành động lực dẫn dắt tăng trưởng trong bối cảnh xuất khẩu chịu nhiều tác động từ những biến động bên ngoài.
Trong điều kiện kinh tế thế giới còn nhiều bất định, việc mở rộng thị trường nội địa, nâng cao sức mua của trên 100 triệu dân không chỉ là giải pháp ngắn hạn hỗ trợ tăng trưởng, mà còn là giải pháp chiến lược nhằm nâng cao tính tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế.
Kinh tế nước ta có độ mở rất lớn, tiếp tục chịu tác động trực tiếp từ biến động của thương mại toàn cầu.
Trong sáu tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 266,52 tỷ USD, tăng 21%; nhập khẩu đạt 283,17 tỷ USD, tăng tới 33,4%, đưa mức nhập siêu lên 16,65 tỷ USD.
Đây là mức nhập siêu khá lớn nếu so với cùng kỳ các năm gần đây, phản ánh đồng thời hai xu hướng: Nhập khẩu tăng mạnh cho thấy hoạt động sản xuất trong nước đang được duy trì, doanh nghiệp chủ động nhập khẩu nguyên vật liệu để chuẩn bị cho các đơn hàng trong những tháng cuối năm. Đây là tín hiệu tích cực đối với triển vọng tăng trưởng.
Mặt khác, nhập khẩu tăng nhanh hơn đáng kể so với xuất khẩu cũng phản ánh mức độ phụ thuộc lớn của khu vực sản xuất vào nguồn nguyên liệu, linh kiện và thiết bị từ bên ngoài. Khi giá năng lượng, chi phí vận tải và nguyên liệu đầu vào trên thị trường thế giới tăng lên do xung đột tại Trung Đông, áp lực nhập siêu cũng gia tăng tương ứng.
Điều đáng quan tâm không phải là nhập siêu trong ngắn hạn, mà là mức độ phụ thuộc của khu vực sản xuất vào các yếu tố đầu vào từ bên ngoài vẫn chưa được cải thiện.
Điều này cho thấy phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, hình thành chuỗi cung ứng trong nước vẫn là những yêu cầu cấp thiết nếu Việt Nam muốn nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc từ kinh tế thế giới.
Xuất khẩu tiếp tục phụ thuộc rất lớn vào khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong tổng kim ngạch xuất khẩu 266,52 tỷ USD, khu vực FDI đạt 213,01 tỷ USD, tăng 26% và chiếm gần 80% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước chỉ tăng 4,6%.
Điều này phản ánh khu vực FDI tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong thương mại hàng hóa quốc tế và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước vẫn chưa được cải thiện tương xứng.
Nếu tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu phản ánh quy mô thương mại thì tỷ giá thương mại lại phản ánh chất lượng và hiệu quả của hoạt động thương mại quốc tế. Sáu tháng đầu năm 2026, tỷ giá thương mại chung của nền kinh tế chỉ đạt 99,76%. Riêng nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện - nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam chỉ đạt 99,09%.
Tỷ giá thương mại giảm xuống dưới 100% có nghĩa là giá hàng xuất khẩu của Việt Nam tăng chậm hơn giá hàng nhập khẩu. Nói cách khác, để nhập khẩu cùng một lượng hàng hóa như trước, nền kinh tế phải xuất khẩu nhiều hàng hóa hơn.
Đây chính là dấu hiệu cho thấy thu nhập quốc gia thực từ hoạt động xuất, nhập khẩu đang có xu hướng suy giảm, mặc dù tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vẫn tăng rất mạnh. Thực tế này được phản ánh qua một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Trong sáu tháng đầu năm, lượng gạo xuất khẩu tăng 6,9% nhưng kim ngạch lại giảm 2,5%; lượng cà phê xuất khẩu tăng 7,3% nhưng giá trị giảm tới 13,7%.
Điều này cho thấy tăng trưởng xuất khẩu chưa đồng nghĩa với gia tăng thu nhập. Nếu chỉ theo đuổi mục tiêu mở rộng quy mô kim ngạch xuất khẩu mà không nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và thương hiệu sản phẩm, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu rất cao vẫn không mang lại mức tăng tương ứng về thu nhập quốc gia thực.
Trong dài hạn, nâng cao năng lực chế biến sâu, phát triển thương hiệu quốc gia, gia tăng hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng trong sản phẩm xuất khẩu sẽ quan trọng hơn việc chỉ mở rộng sản lượng.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, đầu tư tiếp tục là điểm sáng nổi bật, góp phần duy trì đà tăng trưởng của nền kinh tế trong sáu tháng đầu năm 2026.
Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn đầu tư từ khu vực nhà nước đạt 335,6 nghìn tỷ đồng, bằng 31,2% kế hoạch năm, tăng 12,7%; khu vực ngoài nhà nước đạt 973,4 nghìn tỷ đồng, tiếp tục giữ vai trò là khu vực đóng góp lớn nhất; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện đạt 326,1 nghìn tỷ đồng, tương đương 13,03 tỷ USD, tăng 11,2% và là mức cao nhất của sáu tháng đầu năm trong vòng 5 năm trở lại đây.
Đặc biệt, kết quả giải ngân vốn đầu tư công cho thấy quyết tâm rất lớn của Chính phủ trong việc coi đầu tư công là một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng. Nhiều công trình hạ tầng giao thông, năng lượng và chuyển đổi số được đẩy nhanh tiến độ.
Đồng thời Chính phủ tiếp tục chỉ đạo quyết liệt tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, giải phóng mặt bằng, điều chuyển vốn từ các dự án chậm sang các dự án có khả năng giải ngân tốt và xử lý nghiêm các trường hợp chậm tiến độ. Việc tập trung rà soát, tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng kéo dài cũng góp phần khơi thông nguồn lực đầu tư của nền kinh tế.
Ở khu vực FDI, Việt Nam tiếp tục duy trì sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế. Sáu tháng đầu năm có 2.013 dự án cấp mới với tổng vốn đăng ký 17,39 tỷ USD; 541 dự án điều chỉnh tăng vốn thêm 11,04 tỷ USD. Những con số này phản ánh niềm tin của các tập đoàn quốc tế đối với triển vọng phát triển dài hạn và môi trường đầu tư của Việt Nam.
Tuy nhiên, nhìn từ góc độ chất lượng tăng trưởng, vấn đề đặt ra không chỉ là quy mô vốn đầu tư, mà là hiệu quả lan tỏa của dòng vốn đối với khu vực doanh nghiệp trong nước.
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục là điểm sáng nổi bật của nền kinh tế trong sáu tháng đầu năm 2026. Vốn FDI đăng ký mới, vốn điều chỉnh và vốn thực hiện đều tăng khá, phản ánh niềm tin của nhà đầu tư quốc tế đối với môi trường đầu tư của Việt Nam.
Bên cạnh gam màu sáng, trong sáu tháng đầu năm có 1.033 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần của doanh nghiệp trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ, với tổng giá trị 4,07 tỷ USD.
Khác với vốn đầu tư vào các dự án mới hoặc mở rộng sản xuất, dòng vốn này không trực tiếp tạo thêm năng lực sản xuất, công nghệ, việc làm, mà làm thay đổi cơ cấu sở hữu tài sản và quyền kiểm soát doanh nghiệp sang khu vực FDI. Nếu xu hướng này gia tăng trong thời gian dài, quyền sở hữu một bộ phận doanh nghiệp trong nước sẽ tiếp tục chuyển sang nhà đầu tư nước ngoài.
Điều này không chỉ đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung khổ pháp lý về mua bán, sáp nhập doanh nghiệp, mà còn đặt ra bài toán lớn hơn về năng lực tích lũy, huy động vốn và sức cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp trong nước.
Thu hút FDI là cần thiết, nhưng phát triển doanh nghiệp trong nước mới tạo nền tảng của một nền kinh tế độc lập, tự chủ. Đối với kinh tế nước ta hiện nay, giá trị lớn nhất của dòng vốn FDI đó là khả năng lan tỏa công nghệ, nâng cao năng suất, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước cùng phát triển - theo đúng tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong những năm gần đây, khu vực FDI vẫn giữ vai trò động lực quan trọng của tăng trưởng, song mức độ liên kết với doanh nghiệp nội địa, tỷ lệ nội địa hóa và khả năng chuyển giao công nghệ vẫn chưa đáp ứng kỳ vọng.
Nếu không nâng cao được hiệu quả lan tỏa của đầu tư công và FDl, nền kinh tế sẽ khó tạo được bước chuyển mạnh về năng suất và năng lực cạnh tranh trong dài hạn.
Vì vậy, ưu tiên của giai đoạn tới không chỉ là giải ngân nhanh hơn hay thu hút nhiều vốn hơn, mà là sử dụng hiệu quả hơn từng đồng vốn đầu tư để tạo thêm năng lực sản xuất, nâng cao năng suất lao động và phát triển khu vực doanh nghiệp trong nước.
Điểm tích cực của bức tranh kinh tế sáu tháng đầu năm là lạm phát cơ bản vẫn được kiểm soát trong phạm vi mục tiêu Quốc hội đề ra.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân sáu tháng tăng 4,38%, vẫn nằm trong khoảng mục tiêu 4,5%-5%. Đây là kết quả quan trọng trong bối cảnh giá dầu, chi phí vận tải và nhiều loại nguyên liệu trên thị trường thế giới tăng mạnh do tác động của xung đột địa chính trị.
Thành quả này phản ánh hiệu quả của việc phối hợp khá đồng bộ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ; sự chủ động trong điều hành giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý; cùng với việc bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu và bình ổn thị trường.
Tuy nhiên, nếu phân tích đầy đủ bức tranh lạm phát của nền kinh tế sẽ thấy điều đáng quan tâm hơn là hàng loạt chỉ báo chi phí đang phát đi tín hiệu áp lực lạm phát đối với sáu tháng cuối năm.
Chỉ số giá sản xuất (PPI) của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,07%; khu vực công nghiệp tăng 4,18%; khu vực dịch vụ tăng 4,17%. Trong khi đó, chỉ số giá nguyên vật liệu dùng cho sản xuất của toàn nền kinh tế tăng tới 5,4%; riêng khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,26%.
Đây là những tín hiệu cho thấy áp lực chi phí đầu vào đang gia tăng và sẽ từng bước truyền dẫn sang giá bán sản phẩm trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, dư nợ tín dụng đến cuối tháng 6 tăng 16,71% so với cùng kỳ năm trước. Việc mở rộng tín dụng là cần thiết để hỗ trợ phục hồi tăng trưởng, song nếu dòng vốn không được phân bổ hiệu quả vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nguy cơ gia tăng áp lực lạm phát và rủi ro tài sản trong trung hạn cần được theo dõi chặt chẽ.
Một yếu tố khác cũng cần tính đến là giá năng lượng thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều biến động khi xung đột tại Trung Đông chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Giá dầu, chi phí logistics và tỷ giá quốc tế có thể tiếp tục tạo áp lực lên chi phí sản xuất trong nước.
Lạm phát hiện nay chưa phải là rủi ro hiện hữu, nhưng các điều kiện hình thành lạm phát đang dần tích tụ. Nếu thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa, tiền tệ và điều hành giá, áp lực lạm phát trong những tháng cuối năm sẽ gia tăng đáng kể.
Nhìn tổng thể, bức tranh kinh tế sáu tháng đầu năm 2026 có nhiều gam màu sáng hơn so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng; đầu tư công được đẩy mạnh; dòng vốn FDI tiếp tục khởi sắc; môi trường đầu tư kinh doanh từng bước được cải thiện; cộng đồng doanh nghiệp dần lấy lại niềm tin.
Tuy nhiên, phía sau những kết quả tích cực đó là những ràng buộc mang tính cấu trúc chưa được tháo gỡ căn bản.
Thứ nhất, tổng cầu trong nước vẫn phục hồi chậm. Tiêu dùng hộ gia đình chưa đủ mạnh để trở thành động lực dẫn dắt tăng trưởng, trong khi doanh nghiệp vẫn phản ánh sức mua thị trường trong nước là một trong những khó khăn lớn nhất.
Thứ hai, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa chủ yếu dựa vào mở rộng quy mô hơn là nâng cao giá trị gia tăng. Việc tỷ giá thương mại giảm xuống dưới 100% cho thấy thu nhập quốc gia thực từ hoạt động xuất nhập khẩu có xu hướng suy giảm, đặt ra yêu cầu phải chuyển mạnh sang xuất khẩu dựa trên công nghệ, chất lượng và thương hiệu.
Thứ ba, sự phụ thuộc vào khu vực FDI vẫn rất lớn. Khu vực này chiếm khoảng 80% kim ngạch xuất khẩu và hơn 72% kim ngạch nhập khẩu. Đồng thời, xu hướng gia tăng mua lại cổ phần doanh nghiệp trong nước cho thấy bài toán phát triển năng lực nội sinh ngày càng trở nên cấp bách.
Thứ tư, cơ cấu doanh nghiệp mới thành lập chưa thực sự hợp lý. Tỷ trọng doanh nghiệp dịch vụ quá cao trong khi doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo, tăng chậm hơn, ảnh hưởng đến khả năng mở rộng năng lực sản xuất của nền kinh tế.
Thứ năm, áp lực lạm phát đang hình thành từ phía chi phí sản xuất và điều kiện tiền tệ. Đây sẽ là thách thức lớn đối với điều hành kinh tế vĩ mô trong nửa cuối năm.
Rủi ro lớn nhất của nền kinh tế hiện nay không nằm ở khả năng duy trì tăng trưởng, mà ở chất lượng tăng trưởng. Nếu các ràng buộc cấu trúc không được xử lý kịp thời, tốc độ tăng trưởng cao trong ngắn hạn sẽ khó chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của nền kinh tế trong dài hạn.

Sáu tháng cuối năm 2026 sẽ là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành mục tiêu tăng trưởng của cả năm, đồng thời tạo nền tảng cho Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn tiếp theo. Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều rủi ro, điều hành kinh tế vĩ mô cần kiên định mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, đồng thời chủ động tạo lập những động lực tăng trưởng mới.
Trọng tâm điều hành không chỉ là thúc đẩy tăng trưởng nhanh hơn, mà còn phải nâng cao chất lượng tăng trưởng; không chỉ thu hút nhiều nguồn lực hơn, mà còn sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực; không chỉ mở rộng quy mô xuất khẩu, mà còn nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập quốc gia thực; không chỉ phát triển khu vực FDI, mà phải đồng thời bồi dưỡng một cộng đồng doanh nghiệp trong nước đủ năng lực cạnh tranh, đủ sức tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong điều kiện đó, mỗi quyết sách điều hành cần hướng tới mục tiêu lâu dài là xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có khả năng chống chịu cao nhưng vẫn chủ động hội nhập sâu rộng, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và khu vực kinh tế tư nhân làm những động lực tăng trưởng quan trọng trong giai đoạn phát triển mới. Tăng trưởng cao là mục tiêu của năm 2026; nhưng nâng cao chất lượng tăng trưởng mới là mục tiêu của cả chặng đường phát triển.
Bức tranh kinh tế sáu tháng đầu năm 2026 cho thấy kinh tế nước ta đã vượt qua nhiều sức ép từ bên ngoài để duy trì đà phục hồi tích cực. Đây là kết quả của sự lãnh đạo sát sao của Đảng, sự điều hành chủ động, linh hoạt của Chính phủ, sự đồng hành của Quốc hội, sự vào cuộc quyết liệt của các bộ, ngành, địa phương và nỗ lực vượt khó của cộng đồng doanh nghiệp.
Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế thế giới trong sáu tháng cuối năm dự báo vẫn còn nhiều bất định. Xung đột địa chính trị, biến động giá năng lượng, xu hướng bảo hộ thương mại, rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng và chính sách tiền tệ thận trọng của nhiều nền kinh tế lớn sẽ tiếp tục tạo sức ép lên nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam.
Trong điều kiện đó, điều hành kinh tế vĩ mô cần chuyển mạnh từ mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng sang nâng cao chất lượng tăng trưởng, trong đó ưu tiên hàng đầu vẫn là giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, củng cố các cân đối lớn của nền kinh tế và nâng cao năng lực chống chịu trước các cú sốc từ bên ngoài.
Trước hết, cần tiếp tục điều hành linh hoạt, phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Chính sách tài khóa cần tiếp tục phát huy vai trò hỗ trợ tăng trưởng thông qua đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, tháo gỡ khó khăn cho các dự án đầu tư, thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược và tạo thêm dư địa cho khu vực tư nhân mở rộng đầu tư.
Trong khi đó, chính sách tiền tệ cần theo dõi sát diễn biến lạm phát, tỷ giá, giá năng lượng và dòng vốn quốc tế để điều hành tín dụng phù hợp, vừa hỗ trợ sản xuất kinh doanh, vừa hạn chế nguy cơ hình thành các vòng xoáy lạm phát mới.
Thứ hai, cần coi phục hồi tổng cầu trong nước là một trong những trọng tâm của điều hành. Trong bối cảnh nhu cầu của thị trường quốc tế còn nhiều biến động, thị trường trên 100 triệu dân cần được khai thác hiệu quả hơn thông qua các chính sách hỗ trợ việc làm, nâng cao thu nhập của người lao động, kích thích tiêu dùng hợp lý, phát triển thương mại hiện đại và thúc đẩy thương mại điện tử. Thị trường trong nước đủ lớn và đủ sức mua sẽ trở thành "bộ giảm xóc" quan trọng trước những biến động từ bên ngoài.
Thứ ba, cần nâng cao chất lượng tăng trưởng của hoạt động xuất nhập khẩu. Mục tiêu của thương mại hàng hóa quốc tế không chỉ là gia tăng kim ngạch mà quan trọng hơn là nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập quốc gia thực.
Vì vậy, cần đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến sâu, công nghiệp hỗ trợ, logistics hiện đại và xây dựng thương hiệu quốc gia cho các sản phẩm xuất khẩu chủ lực. Đồng thời tận dụng hiệu quả hơn các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới để đa dạng hóa thị trường giảm phụ thuộc vào một số khu vực và chuỗi cung ứng nhất định.
Thứ tư, cần tiếp tục coi khu vực doanh nghiệp trong nước là nền tảng của nền kinh tế độc lập, tự chủ. Thu hút FDI tiếp tục là chủ trương đúng đắn, cần thiết, nhưng chính sách thu hút đầu tư trong giai đoạn mới cần chuyển mạnh từ ưu tiên quy mô vốn sang ưu tiên chất lượng dòng vốn, khả năng chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Cần có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ, tiếp cận tín dụng và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nền kinh tế chỉ thực sự bền vững khi doanh nghiệp trong nước lớn lên cùng với sự phát triển của khu vực FDI.
Cuối cùng, cải cách thể chế vẫn phải được coi là động lực phát triển quan trọng nhất. Những kết quả trong cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh và phân cấp, phân quyền cần tiếp tục được thực thi quyết liệt hơn, đi vào thực chất hơn và được lượng hóa bằng chi phí tuân thủ giảm, thời gian xử lý rút ngắn, nâng cao mức độ hài lòng của doanh nghiệp.
Mục tiêu cuối cùng không chỉ là cải thiện môi trường đầu tư mà còn phải xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch, kiến tạo phát triển và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.
Chúng ta tin tưởng khi Chính phủ kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy mạnh cải cách thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời phát huy hiệu quả mọi nguồn lực trong nước và quốc tế, kinh tế nước ta hoàn toàn có cơ sở đạt mục tiêu tăng trưởng cao của năm 2026. Quan trọng hơn, những kết quả đạt được sẽ không chỉ có ý nghĩa đối với một năm tăng trưởng, mà còn tạo nền tảng cho một giai đoạn phát triển mới với chất lượng, hiệu quả, tính tự chủ và sức cạnh tranh cao hơn của nền kinh tế./.
TS. Nguyễn Bích Lâm
Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê