In bài viết

TOÀN VĂN: Đề án hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

14:29 - 25/05/2026

(Chinhphu.vn) - Toàn văn Dự thảo Đề án hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất một đầu mối từ Trung ương đến địa phương.

Bộ Y tế đang lấy ý kiến về Dự thảo Đề án hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất một đầu mối từ Trung ương đến địa phương. Đề án được đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ. 

ĐỀ ÁN
HOÀN THIỆN BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM THEO HƯỚNG THỐNG NHẤT MỘT ĐẦU MỐI TỪ TRUNG ƯƠNG ĐẾN ĐỊA PHƯƠNG

(Kèm theo Tờ trình số ...TTr/ĐU ngày .../... /2026 của Đảng ủy Chính phủ)

PHẦN I

SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

I. CĂN CỨ CHÍNH TRỊ, PHÁP LÝ

- Hiến pháp năm 2013;

- Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả";

- Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về "tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập";

- Chỉ thị số 17-CT/TW ngày 21/10/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường bảo đảm an ninh, an toàn thực phẩm trong tình hình mới về việc "kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước theo hướng thống nhất chỉ một đầu mối thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh, an toàn thực phẩm từ trung ương đến địa phương";

- Thông báo số 15-TB/BCĐTW ngày 17/3/2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật về Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, trong đó giao Đảng uỷ Chính phủ chỉ đạo triển khai chủ trương hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước theo hướng thống nhất chỉ một đầu mối từ trung ương đến địa phương; xây dựng Đề án cụ thể trình Bộ Chính trị trong tháng 4/2026;

- Nghị quyết số 89/NQ-CP ngày 05/4/2026 của Chính phủ về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3 năm 2026 và Hội nghị Chính phủ với địa phương, về việc Chính phủ giao Bộ Y tế khẩn trương trình Chính phủ để báo cáo Bộ Chính trị trong tháng 4 năm 2026 Đề án hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo chi đạo của Tổng Bí thư tại Phiên họp quý I năm 2026 của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật;

- Thông báo số 186/TB-VPCP ngày 15/4/2026 của Văn phòng Chính phủ về Kết luận của Thủ tướng Chính phủ, trong đó giao Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ và các bộ, cơ quan liên quan khẩn trương xây dựng, hoàn thiện Đề án hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất một đầu mối từ Trung ương đến địa phương; báo cáo Chính phủ trong tháng 5/2026;

- Kế hoạch số 628/KH-BYT ngày 14/4/2026 của Bộ Y tế về xây dựng Đề án hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất một đầu mối từ Trung ương đến địa phương;

- Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương, Luật Thanh tra, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức và các nghị định hướng dẫn thi hành;

- Luật An toàn thực phẩm, Luật Chăn nuôi, Luật Trồng trọt, Luật Thú y, Luật Thủy sản, Luật Bảo vệ và kiểm dịch thực vật, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và các nghị định hướng dẫn thi hành.

II. CĂN CỨ THỰC TIỄN

1. Thực trạng quản lý an toàn thực phẩm tại Việt Nam

Theo Luật An toàn thực phẩm, công tác quản lý nhà nước về ATTP tại Việt Nam hiện nay đang được phân chia cho 03 Bộ ngành chịu trách nhiệm trước Chính phủ, bao gồm: Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, và Bộ Công Thương.

Sự phân công này được thực hiện dựa trên cơ sở phân định danh mục nhóm ngành hàng thực phẩm theo quy định chi tiết tại các Phụ lục II, III, IV của Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm. 

Theo đó, mỗi Bộ được phân công phụ trách lĩnh vực quản lý theo ngành hàng thực phẩm, quy định chi tiết tại phụ lục II, III, IV của Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/2/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm. 

Cụ thể, Bộ Y tế quản lý 6 ngành hàng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý 19 ngành hàng, Bộ Công Thương quản lý 8 ngành hàng; với mỗi ngành hàng được phân công, các Bộ chịu trách nhiệm quản lý xuyên suốt chuỗi cung ứng thực phẩm bao gồm: sản xuất ban đầu, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, phân phối, kinh doanh, đồng thời xây dựng hệ thống ngành dọc theo chuyên ngành quản lý ATTP theo từ Trung ương đến địa phương.

Đối với trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Y tế thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, bao gồm hoạt động giáo dục truyền thông về an toàn thực phẩm; các hoạt động giám sát, kiểm tra an toàn thực phẩm; các hoạt động phòng ngừa, ứng phó với các sự cố mất an toàn thực phẩm. 

Khi phát hiện sản phẩm thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý của Bộ, ngành khác vi phạm và có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng, Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ quản lý ngành thực hiện việc thanh tra, kiểm tra và kết luận. Tại địa phương, UBND các cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ATTP được Chính phủ giao và theo phân cấp của các Bộ chuyên ngành.

Ngoài ra, theo Luật số 70/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật và Luật số 78/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và hoạt động đánh giá sự phù hợp đối với thực phẩm; tuy nhiên Bộ Khoa học và Công nghệ không trực tiếp thực hiện quản lý chuyên ngành về an toàn thực phẩm.

1.1. Ngành Y tế

(Sơ đồ hệ thống quản lý ngành dọc về quản lý an toàn thực phẩm của ngành Y tế tại phụ lục 1 của Đề án)

a) Cấp Trung ương

Tại cấp Trung ương, Bộ Y tế giao Cục An toàn thực phẩm là cơ quan duy nhất làm đầu mối phụ trách toàn bộ công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý. Theo đó, Cục An toàn thực phẩm là đơn vị hành chính trực thuộc Bộ Y tế có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Y tế quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về lĩnh vực an toàn thực phẩm trên phạm vi cả nước. Cục An toàn thực phẩm có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, có trụ sở riêng đặt tại 135 Núi Trúc, Giảng Võ, Hà Nội; và được cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và ngân hàng để hoạt động theo quy định.

Cục An toàn thực phẩm có các nhiệm vụ quyền hạn như sau:

- Xây dựng thể chế và chính sách: Cục An toàn thực phẩm chủ trì soạn thảo, trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch và các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về giới hạn an toàn thực phẩm; quy định các điều kiện về an toàn thực phẩm đối với các nhóm sản phẩm được phân công quản lý như thực phẩm chức năng, nước uống đóng chai, phụ gia thực phẩm, các cơ sở dịch vụ ăn uống (bếp ăn tập thể, nhà hàng); quy định điều kiện cơ sở kiểm nghiệm an toàn thực phẩm phục vụ quản lý nhà nước thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế.

- Quản lý nghiệp vụ và cấp phép hành chính: Cục An toàn thực phẩm quản lý xuyên suốt quá trình từ sản xuất đến kinh doanh đối với các mặt hàng được phân công quản lý. Đối với cấp phép hành chính, Bộ Y tế đã thực hiện phân cấp 15/19 thủ tục hành chính về cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp Trung ương chỉ trực tiếp cấp và thu hồi một số loại giấy phép đặc thù đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe và các loại phụ gia thực phẩm hỗn hợp có công dụng mới hoặc ngoài danh mục cho phép.

- Kiểm soát nguy cơ, xử lý sự cố, kiểm tra, xử lý vi phạm: Cục An toàn thực phẩm chủ trì xây dựng hệ thống cảnh báo, giám sát, phân tích nguy cơ và điều tra ngăn chặn ngộ độc thực phẩm; đồng thời thực hiện kiểm tra chuyên ngành và xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm theo thẩm quyền.

- Điều phối liên ngành và chỉ đạo tuyến: Với việc Bộ Y tế là cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về ATTP và Ủy ban Codex Việt Nam, Cục An toàn thực phẩm là đơn vị đầu mối phối hợp với các Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công thương trong công tác truyền thông, đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ cho hệ thống quản lý an toàn thực phẩm tại địa phương.

- Quản trị hệ thống và hỗ trợ: Cục An toàn thực phẩm phụ trách xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, thực hiện cải cách hành chính, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và quản lý nội bộ về tổ chức, cán bộ, tài chính theo phân cấp của Bộ Y tế.

Cơ cấu tổ chức Cục An toàn thực phẩm 

Về cơ cấu tổ chức, Cục An toàn thực phẩm bao gồm 01 Cục trưởng, 02 Phó Cục trưởng, cùng với 06 phòng chức năng và 02 đơn vị sự nghiệp trực thuộc. Cục được giao chỉ tiêu 72 biên chế công chức và 07 biên chế viên chức. 

Tuy nhiên, số lượng nhân sự thực tế đang làm việc hiện nay là 56 công chức và 06 viên chức làm việc chuyên trách.

b) Cấp Tỉnh

Đối với ngành Y tế, công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại cấp tỉnh được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao cho Sở Y tế phụ trách. Sở Y tế có chức năng tham mưu Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ được phân công liên quan đến quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo quy định tại Luật An toàn thực phẩm và theo các quy định phân cấp, phân quyền của Bộ Y tế.

Về bộ máy tổ chức, số liệu khảo sát tại 34 tỉnh, thành phố cho thấy tại cấp tỉnh có sự thiếu đồng bộ, cụ thể: 

25/34 địa phương thành lập Chi cục An toàn thực phẩm trực thuộc Sở Y tế (có con dấu và tài khoản riêng); 

08/34 địa phương chỉ duy trì Phòng An toàn thực phẩm trực thuộc Sở Y tế (không có con dấu và tài khoản riêng, bao gồm các tỉnh: Đồng Nai, Đắk Lắk, Lạng Sơn, Lào Cai, Nghệ An, Thái Nguyên, TP Huế, Tuyên Quang), 

Duy nhất 01 địa phương là Thành phố Hồ Chí Minh đang thí điểm thành lập Sở An toàn thực phẩm (trực thuộc UBND thành phố, có con dấu và tài khoản riêng), vận hành theo mô hình một đầu mối thống nhất quản lý tất cả các nhóm hàng thực phẩm của cả 3 ngành Y tế, Nông nghiệp và Môi trường, Công Thương. 

Bên cạnh TP. Hồ Chí Minh áp dụng mô hình Sở, có thêm 02 địa phương là TP. Đà Nẵng và tỉnh Ninh Bình cũng áp dụng cơ chế quản lý một đầu mối nhưng dưới hình thức Chi cục ATTP. Còn lại 31/34 tỉnh, thành phố vẫn duy trì mô hình phân tán cho 3 Sở (Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Công Thương).

Nguồn lực bảo đảm tại các địa phương cũng rất khác nhau. Trung bình nhân sự làm việc tại các Chi cục ATTP khoảng 20 công chức. Hiện nay đang tồn tại sự phân bổ rất không đồng đều giữa các địa phương, nơi cao nhất là 43 công chức (TP. Đà Nẵng), nơi thấp nhất chỉ có 11 công chức (tỉnh Điện Biên). 

Về cơ sở vật chất, một số nơi vẫn phải dùng chung trụ sở (Đồng Tháp, Khánh Hòa, Hải Phòng) hoặc không có ô tô riêng phục vụ công tác thanh tra hoặc do đã hư hỏng (An Giang, Bắc Ninh, Cà Mau, Sơn La, Vĩnh Long). Tại các Phòng ATTP, trung bình nhân sự rất mỏng, chỉ khoảng 10 công chức.

c) Cấp Xã

Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn xã, phường, thực hiện các nhiệm vụ được Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giao và phân cấp, phân quyền. Đối với lĩnh vực quản lý an toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành Y tế, Uỷ ban nhân dân cấp xã giao cho Phòng Văn hoá – Xã hội tham mưu, trực tiếp quản lý trên địa bàn. 

Nhân sự làm về an toàn thực phẩm của phòng Văn hoá – Xã hội chỉ có 1-2 chuyên viên, thường là kiêm nhiệm, không ổn định. Ngoài ra, Trạm Y tế xã, phường cũng có vai trò phối hợp với Phòng Văn hoá – Xã hội trong công tác điều tra, xử lý các vụ ngộ độc thực phẩm trên địa bàn.

1.2. Ngành Nông nghiệp và Môi trường

(Sơ đồ hệ thống quản lý ngành dọc về quản lý an toàn thực phẩm của ngành Nông nghiệp và Môi trường tại phụ lục 2 của Đề án)

a) Cấp Trung ương

Tại cấp Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường giao Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường là cơ quan đầu mối quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, có trách nhiệm phối hợp với các Cục chuyên ngành khác, bao gồm: Cục Chăn nuôi và Thú y, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Cục Thuỷ sản và Kiểm ngư, Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn để cùng quản lý các nhóm mặt hàng theo quy định phân công của Bộ Nông nghiệp và Môi trường..

b) Cấp Tỉnh

Sở Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan tham mưu cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các chức năng nhiệm vụ quản lý an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực phân công của ngành Nông nghiệp và Môi trường. 

Cơ quan trực tiếp tham mưu cho Sở Nông nghiệp và Môi trường ở hầu hết các tỉnh, thành phố là Chi cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng). 

Nguồn lực bảo đảm tại cấp tỉnh động trung bình từ 15 đến 20 công chức cho mỗi Chi cục. Ban lãnh đạo thường gồm 01 Chi cục trưởng và 01 Phó Chi cục trưởng phụ trách riêng lĩnh vực ATTP.

c) Cấp Xã

Đối với lĩnh vực quản lý an toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành Nông nghiệp và Môi trường, Uỷ ban nhân dân cấp xã giao cho Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị (gọi chung là Phòng Kinh tế) tham mưu, trực tiếp quản lý trên địa bàn. 

Nhân sự làm về an toàn thực phẩm của phòng Kinh tế cũng tương tự phòng Văn hoá – Xã hội, chỉ có 1-2 chuyên viên, thường là kiêm nhiệm, không ổn định. Ngoài ra, Trạm Y tế xã, phường cũng có vai trò phối hợp với Phòng Kinh tế trong công tác điều tra, xử lý các vụ ngộ độc thực phẩm trên địa bàn.

1.3. Ngành Công Thương

(Sơ đồ hệ thống quản lý ngành dọc về quản lý an toàn thực phẩm của ngành Công Thương tại phụ lục 3 của Đề án)

a) Cấp Trung ương

Bộ Công Thương giao trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP cho các đơn vị chuyên môn trực thuộc Bộ, bao gồm Cục Công nghiệp và Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước.

- Cục Công nghiệp có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật đối với lĩnh vực công nghiệp gồm: công nghiệp cơ khí, công nghiệp luyện kim; công nghiệp chế biến và tiêu thụ khoáng sản (trừ dầu khí, than, khoáng sản làm vật liệu xây dựng và sản xuất xi măng); công nghiệp điện tử (trừ công nghiệp công nghệ thông tin, công nghiệp công nghệ số); công nghiệp tiêu dùng (dệt, may, da giày, giấy, sành sứ, thủy tinh, nhựa,...); công nghiệp thực phẩm (rượu, bia, nước giải khát, sữa, bánh kẹo, dầu thực vật, thuốc lá, chế biến bột và tinh bột,...); công nghiệp hỗ trợ; an toàn thực phẩm trong ngành Công Thương; tổ chức, quản lý hoạt động sự nghiệp dịch vụ công thuộc lĩnh vực, phạm vi quản lý của Cục theo quy định của pháp luật và phân cấp, ủy quyền của Bộ trưởng Bộ Công Thương. 

Cục Công nghiệp có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng, có kinh phí hoạt động theo quy định của pháp luật. Phòng Công nghiệp tiêu dùng, thực phẩm của Cục Công nghiệp thực hiện quản lý nhà nước về ATTP đối với các sản phẩm thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương. Nhân sự của phòng này rất mỏng, chỉ có 06 công chức.

- Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương quản lý nhà nước về thương mại, thị trường trong nước và giá theo quy định của pháp luật; tổ chức thực thi pháp luật về phòng, chống, xử lý các hành vi kinh doanh hàng hoá nhập lậu; sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, hàng hoá không rõ nguồn gốc xuất xứ; hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; hành vi vi phạm pháp luật về chất lượng, đo lường, giá, an toàn thực phẩm; hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các hành vi gian lận thương mại theo quy định pháp luật. 

Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng, có kinh phí hoạt động theo quy định của pháp luật. Phòng Hạ tầng thương mại của Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước có nhiệm vụ quản lý ATTP tại các chợ, siêu thị và trung tâm thương mại. Phòng có 21 biên chế nhưng chỉ có 03 công chức được phân công trực tiếp phụ trách nhiệm vụ ATTP.

b) Cấp Tỉnh

Sở Công Thương là cơ quan tham mưu cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các chức năng nhiệm vụ quản lý an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực phân công của ngành Nông nghiệp và Môi trường. Cơ quan trực tiếp tham mưu cho Sở Nông nghiệp và Môi trường ở hầu hết các tỉnh, thành phố là Phòng Quản lý thương mại (không có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng). 

Nguồn lực thường chỉ phân công 01 chuyên viên và 01 lãnh đạo phòng kiêm nhiệm tham mưu thực hiện công tác bảo đảm ATTP trên toàn địa bàn tỉnh. Công tác thanh kiểm tra, xử lý vi phạm trên thị trường phụ thuộc lớn vào sự chỉ đạo, hướng dẫn của lực lượng Quản lý thị trường ở địa phương.

c) Cấp Xã

Đối với lĩnh vực quản lý an toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của ngành Công Thương, Uỷ ban nhân dân cấp xã giao cho Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị (gọi chung là Phòng Kinh tế) tham mưu, trực tiếp quản lý trên địa bàn. 

Nhân sự làm về an toàn thực phẩm của phòng Kinh tế cũng tương tự phòng Văn hoá – Xã hội, chỉ có 1-2 chuyên viên, thường là kiêm nhiệm, không ổn định. Ngoài ra, Trạm Y tế xã, phường cũng có vai trò phối hợp với Phòng Kinh tế trong công tác điều tra, xử lý các vụ ngộ độc thực phẩm trên địa bàn.

2. Thực trạng quản lý an toàn thực phẩm trên Thế giới

Qua quá trình nghiên cứu, rà soát tài liệu quốc tế để tìm hiểu về thực trạng quản lý an toàn thực phẩm ở hơn 30 quốc gia trên thế giới, có 2 kiểu mô hình quản lý an toàn thực phẩm phổ biến là mô hình chỉ quản lý thực phẩm và mô hình quản lý thực phẩm lẫn dược phẩm (hoặc cả mỹ phẩm, thiết bị y tế, sản phẩm liên quan bức xạ…) hay còn gọi là FDA. Sau đây là mô tả khái quát về 02 mô hình trên và một số quốc gia đại diện cho từng mô hình.

2.1. Mô hình chỉ quản lý thực phẩm

Nhiều quốc gia và khu vực phát triển đã lựa chọn xây dựng bộ máy quản lý chuyên biệt, tập trung hoàn toàn vào thực phẩm. Mô hình này không chỉ thể hiện tư duy quản trị hiện đại mà còn tối ưu hóa tính chuyên môn hóa, giúp kiểm soát hiệu quả mọi mắt xích từ sản xuất đến tiêu dùng. Các quốc gia hiện nay đang áp dụng mô hình này là Nhật Bản, Canada, Ireland và một số nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) (Chi tiết xem phụ lục đính kèm)

Quan điểm chủ đạo xuyên suốt mô hình chỉ quản lý thực phẩm là sự bảo đảm một khung quản lý thống nhất cho tất cả các sản phẩm thực phẩm trên thị trường. Để làm được điều này, các quốc gia phải có một cơ quan đầu mối duy nhất chịu trách nhiệm về quản lý an toàn thực phẩm, có thể là toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm nhưng cũng có thể là phần sau công đoạn sản xuất ban đầu của chuỗi giá trị thực phẩm.

Ví dụ: Ở Canada, cơ quan Thanh tra Thực phẩm Canada (CFIA) trực thuộc Bộ Y tế, là đơn vị duy nhất chịu trách nhiệm thực thi tất cả các quy định về an toàn thực phẩm tại quốc gia này, từ thịt, sữa cho đến các loại rau củ quả trong tất cả các công đoạn "từ trang trại đến bàn ăn". Ở Nhật Bản, Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi (MHLW) chỉ chịu trách nhiệm về toàn bộ thực phẩm tính từ sau công đoạn sản xuất ban đầu, bao gồm chế biến, nhập khẩu, phân phối, kinh doanh, tiêu thụ; giai đoạn sản xuất ban đầu bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, khai thác, thu gom, giết mổ do Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản (MAFF) đảm nhiệm. Ở Ireland, cơ quan An toàn thực phẩm Ireland (FSAI) cũng quản lý thực phẩm xuyên suốt chuỗi giá trị thực phẩm tương tự như Canada.

Như vậy, mô hình chỉ quản lý thực phẩm được thiết kế dựa trên triết lý quản lý theo chuỗi giá trị thực phẩm (chuỗi cung ứng thực phẩm). Sự phân chia chức năng quản lý theo một cơ quan đầu mối trong cả chuỗi hoặc từng giai đoạn của chuỗi giá trị thực phẩm sẽ giúp cho việc theo dõi, giám sát, phân tích, đánh giá nguy cơ được thực hiện một cách liên tục, có tính hệ thống và sự chuyên môn hóa cao. 

Thông thường tại các quốc gia có sự phân chia quản lý theo giai đoạn, ngành Nông nghiệp luôn được giao quản lý công công đoạn sản xuất ban đầu còn cơ quan đầu mối quản lý về an toàn thực phẩm sẽ tiếp quản phần còn lại.

Vị trí pháp lý của cơ quan đầu mối quản lý về an toàn thực phẩm cũng rất đa dạng, có thể là một cơ quan trực thuộc một Bộ (như Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi ở Nhật Bản); hoặc cũng có thể là một cơ quan độc lập với tất cả các Bộ chuyên ngành (như FSAI ở Ireland).

Ví dụ: tại Nhật Bản, trong chuỗi giá trị của một loại thực phẩm, ngành Nông nghiệp quản lý công đoạn sản xuất ban đầu, ngành Y tế quản lý bắt đầu từ khâu nguyên liệu đưa vào chế biến đến khi tiêu thụ thực phẩm. Như vậy mặc dù có hai cơ quan cùng quản lý thực phẩm, nhưng được chia theo giai đoạn của chuỗi, thay vì theo nhóm sản phẩm riêng biệt. Trong khi đó, tại Canada và Ireland, chỉ có duy nhất một cơ quan quản lý toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm, tương ứng là CFIA và FSAI.

Khái quát lại, với mô hình này, tại mỗi công đoạn trong chuỗi giá trị của thực phẩm chỉ có thể do một cơ quan duy nhất quản lý, bảo đảm không chồng chéo, không có thực phẩm nằm trong "vùng xám" - thuộc quản lý của nhiều cơ quan hoặc không thực sự thuộc quản lý của cơ quan nào.

Về công cụ quản lý an toàn thực phẩm, các quốc gia áp dụng mô hình này thường sử dụng hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn nghiêm ngặt và nhất quán cho từng khâu trong chuỗi giá trị thực phẩm. Thông thường, nếu chỉ có một cơ quan duy nhất quản lý toàn bộ chuỗi thực phẩm, cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm toàn bộ cho việc xây dựng các tiêu chuẩn từ sản xuất ban đầu cho đến khi thực phẩm đến tay người tiêu dùng. 

Tuy nhiên, nếu có sự tham gia của nhiều cơ quan, tiêu chuẩn đầu vào và đầu ra của từng giai đoạn trong chuỗi sẽ được giao cho cơ quan có chuyên môn sâu nhất của giai đoạn đó xây dựng. 

Ví dụ đối với tiêu chuẩn dư lượng tối đa (MRL) sau khi kết thúc giai đoạn sản xuất ban đầu, tại Nhật Bản, ngành Nông nghiệp là cơ quan đưa ra các yêu cầu hoặc đề xuất thiết lập tiêu chuẩn MRL mới khi có các loại thuốc bảo vệ thực vật mới được đăng ký sử dụng trong nước, sau đó ngành Y tế sẽ dựa trên các dữ liệu khoa học và đánh giá nguy cơ để chính thức ban hành tiêu chuẩn trong danh mục "Positive List" để kiểm soát an toàn thực phẩm. Ngay cả đối với các quốc gia châu Âu như Pháp, Đức, Ireland, khi việc xây dựng tiêu chuẩn MRL được ban hành ở cấp Liên minh là EFSA (Cơ quan An toàn Thực phẩm Châu Âu), ngành Nông nghiệp vẫn là cơ quan đại diện cho mỗi quốc gia trong việc tham gia biểu quyết và phê duyệt các mức MRL này.

Năng lực thực thi quản lý an toàn thực phẩm cũng là một thế mạnh của mô hình. Với các quốc gia áp dụng mô hình này, mạng lưới thực thi luôn bảo đảm độ bao phủ rộng khắp trên toàn quốc. Tại Canada, cơ quan đầu mối CFIA có mạng lưới văn phòng thực địa và phòng thí nghiệm với hơn 6.500 nhân sự phân bố đều cả 4 khu vực của quốc gia.

Trong khi đó, cơ quan đầu mối về quản lý an toàn thực phẩm tại Nhật Bản lại không có được đội ngũ thanh tra đồ sộ như Canada nên cơ quan này tận dụng mạng lưới cơ sở là các Trung tâm Y tế công cộng Hokenjo dưới sự quản lý của chính quyền địa phương. Thậm chí, FSAI của Ireland còn sử dụng hình thức "hợp đồng dịch vụ" để ký kết với các cơ quan chuyên trách thực thi tại cấp cơ sở như các cơ quan dịch vụ y tế (HSE) để làm đòn bẩy cho năng lực thực thi của mình.

Như vậy, dù là một cơ quan quản lý cả chuỗi thực phẩm (đơn ngành) hay nhiều cơ quan quản lý nối tiếp nhau theo chuỗi giá trị thực phẩm (đa ngành), mô hình này đều hướng tới mục tiêu bảo đảm sự nhất quán trong chính sách và chiều sâu năng lực thực thi trong quản lý an toàn thực phẩm tại từng khâu của chuỗi.

Mô hình quản lý chỉ bao gồm thực phẩm đã chứng minh được tính hiệu quả vượt trội tại các quốc gia tiên tiến. Bài học rút ra là an toàn thực phẩm cần được nhìn nhận như một chuỗi giá trị liên kết chặt chẽ, nơi mà tính chuyên môn hóa và sự minh bạch trong quản lý chính là chìa khóa để xây dựng niềm tin cho người tiêu dùng và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững. Đây chính là hình mẫu quản trị mà các quốc gia đang phát triển có thể tham khảo để nâng cao năng lực quản lý an toàn thực phẩm trong kỷ nguyên mới.

2.2. Mô hình quản lý thực phẩm và dược phẩm (FDA)

Mô hình quản lý thực phẩm và dược phẩm (FDA) là mô hình phổ biến và cơ quan quản lý có quyền hạn lớn nhất hiện nay. Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên xây dựng mô hình này với sứ mệnh quản lý thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, thiết bị y tế và những sản phẩm liên quan đến sức khỏe con người bảo đảm hiệu quả, an toàn cho người bệnh nói riêng và người tiêu dùng nói chung. 

Sau này, FDA trở thành một kiểu mẫu cho rất nhiều quốc gia khác áp dụng. Trên thế giới có khoảng 100 quốc gia áp dụng mô hình FDA hoặc tương đương, trong đó có 34 quốc gia được Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá đạt chuẩn cao (WLA: WHO Listed Authority) và khoảng 60 - 70 cơ quan khác có mô hình tương tự FDA nhưng quy mô nhỏ hơn hoặc đang trong lộ trình. Ngoài Hoa Kỳ, một số quốc gia rất thành công với mô hình FDA bao gồm Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines (Chi tiết xem phụ lục đính kèm)

Quan điểm cốt lõi của mô hình quản lý hỗn hợp thực phẩm, dược phẩm và các sản phẩm liên quan đến sức khỏe con người là sự chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy "ứng phó sự cố" sang "phòng ngừa sự cố".

Nguyên tắc xây dựng mô hình FDA là yêu cầu bắt buộc thực phẩm, dược phẩm hay bất kỳ sản phẩm nào có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người đều cần phải trải quy trình thẩm định kỹ thuật và hậu kiểm nghiêm ngặt tương đương nhau. Sự tối ưu của mô hình FDA nằm ở chiến lược tối giản thủ tục đầu vào nhưng siết chặt hậu kiểm thông qua công tác giám sát thị trường và lấy mẫu đột xuất. 

Chiến lược này luôn đi kèm với công cụ là bộ hướng dẫn các tiêu chuẩn xuyên suốt chuỗi giá trị thực phẩm "từ nông trại đến bàn ăn" của bất kỳ loại thực phẩm nào. Theo đó, mọi cơ sở sản xuất buộc phải tự ý thức tuân thủ về các ngưỡng kiểm soát tới hạn ngay từ lúc chuẩn bị nguyên liệu đầu vào cho đến khi sản phẩm được lưu thông trên thị trường.

Khác với mô hình chỉ quản lý thực phẩm, trong hệ thống tổ chức của mô hình FDA bắt buộc phải hình thành một cơ quan độc lập duy nhất với quyền lực tập trung (cơ quan này thường có tên gọi là FDA hoặc tên gọi tương đương FDA, sau đây gọi chung là FDA). 

Tuy nhiên, vị trí pháp lý của cơ quan FDA lại rất linh hoạt giữa các quốc gia. Đối với Hoa Kỳ, FDA là cơ quan trực thuộc Bộ Y tế và có mối quan hệ chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp (USDA). FDA Thái Lan và FDA Philippines cũng tương ứng trực thuộc Bộ Y tế công cộng Thái Lan và Bộ Y tế Philippines. Trong khi đó, cơ quan tương đương FDA của Hàn Quốc là MFDS lại đóng vai trò là cơ quan ngang Bộ, trực thuộc Chính phủ.

Tuy nhiên, dù có quyền lực tập trung về quản lý an toàn thực phẩm, nhưng tại mỗi quốc gia khác nhau, cơ quan FDA vẫn có những cơ chế khác nhau chia sẻ trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi giá trị thực phẩm. Đa số các cơ quan FDA chia sẻ giai đoạn sản xuất ban đầu hoặc các nhóm nông sản với ngành Nông nghiệp. 

Ví dụ: ở Hoa Kỳ, FDA chia sẻ nhóm nông sản cho ngành Nông nghiệp là USDA (quản lý thực phẩm có nguồn gốc từ thịt, gia cầm, trứng); ở Thái Lan, Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã (MOAC) quản lý an toàn tại nguồn đối với nông sản tươi sống, thịt và thủy sản chưa chế biến còn Thai FDA sẽ quản lý các loại thực phẩm chế biến, đóng gói, phụ gia thực phẩm và việc ghi nhãn cho toàn bộ thị trường; tương tự ở Philippines, FDA quản lý toàn bộ lĩnh vực thực phẩm chế biến và đóng gói, phụ gia thực phẩm, thực phẩm bổ sung và nước đóng chai, còn ngành Nông nghiệp sẽ quản lý thực phẩm tươi sống, thịt, sản phẩm từ sữa và nông sản sơ chế. Nói cách khác, các cơ quan FDA thường có quan hệ cộng tác theo chuỗi giá trị thực phẩm với ngành Nông nghiệp.

Về công tác thực thi quản lý an toàn thực phẩm, nguyên tắc của mô hình FDA là siết chặt hậu kiểm thông qua công tác giám sát thị trường và lấy mẫu đột xuất. Do đó, để vận hành hiệu quả mô hình này đòi hỏi phải có chiều sâu và độ bao phủ rộng về năng lực thanh tra cũng như kiểm nghiệm. 

Ví dụ: mặc dù FDA Hoa Kỳ có mạng lưới hơn 200 văn phòng thực địa và phòng kiểm nghiệm hiện đại riêng nhưng cơ quan này vẫn phải ủy quyền thanh tra cho chính quyền Bang để gia cố nguồn lực. Số lượng thanh tra của FDA Hoa Kỳ trên toàn Liên bang ước tính lên đến 5.000 người. Tại Thái Lan, chỉ tính riêng trụ sở chính của Thai FDA đã có hơn 1.000 nhân viên làm việc trực tiếp, kèm theo đó là mạng lưới y tế địa phương hỗ trợ như "cánh tay nối dài" vươn chức năng quản lý an toàn thực phẩm đến tận cấp cơ sở. FDA Hàn Quốc cũng đã phải xây dựng hệ thống 6 văn phòng khu vực và các trạm kiểm tra để có thể tăng độ bao phủ trong công tác thanh tra.

Ngoài ra, điểm đặc biệt của mô hình FDA là việc đưa dược phẩm, mỹ phẩm và các sản phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người như thiết bị y tế, sản phẩm liên quan đến bức xạ…sẽ giúp tối ưu nguồn lực chất lượng cao đối với mục tiêu phòng ngừa và bảo vệ, chăm sóc sức khỏe con người trong cộng đồng. 

Bên cạnh đó, với mạng lưới FDA đa quốc gia trên thế giới và được công nhận bởi các tổ chức uy tín trên thế giới như WHO, tiêu chuẩn thành phẩm của các sản phẩm thực phẩm, dược phẩm sẽ được Quốc tế công nhận có giá trị cao và dễ dàng được chấp nhận, giúp thúc đẩy giá trị chuỗi cung ứng toàn cầu của quốc gia.

Tóm lại, FDA là một mô hình vượt trội về quản lý an toàn thực phẩm với hệ thống tiêu chuẩn đồ sộ luôn được cập nhật dựa trên các bằng chứng khoa học cho tất cả các loại thực phẩm. Tuy nhiên, ưu điểm này luôn đi kèm với thách thức là đòi hỏi phải có nguồn lực thực thi rất lớn, cả về số lượng lẫn chất lượng. Khi áp dụng mô hình FDA, Chính phủ sẽ phải đối mặt với thách thức không nhỏ là phải chuẩn bị được một đội ngũ thanh tra chất lượng cũng như lượng tài chính rất lớn cho hệ thống kiểm nghiệm hiện đại. Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi từ hệ thống quản lý an toàn thực phẩm hiện hành sang mô hình FDA cũng cần phải có lộ trình để thực hiện trong một thời gian dài.

2.3. Nhận định

Dù áp dụng mô hình nào, các quốc gia đều hướng tới mục tiêu nhất quán đầu mối quản lý theo từng công đoạn của chuỗi cung ứng thực phẩm, giảm sự chồng chéo và tăng hiệu quả kiểm soát an toàn thực phẩm trên toàn bộ chuỗi. Bên cạnh đó, trong mỗi mô hình, ngành Nông nghiệp luôn đóng vai trò thiết yếu, phối hợp với cơ quan quản lý an toàn thực phẩm trong công đoạn sản xuất ban đầu. Khi xảy ra sự cố vượt mức giới hạn dư lượng, cơ quan đầu mối về quản lý an toàn thực phẩm có trách nhiệm hậu kiểm các cơ sở trong công đoạn sản xuất ban đầu.

PHẦN II

QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NGUYÊN TẮC HOÀN THIỆN BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM THEO HƯỚNG THỐNG NHẤT MỘT ĐẦU MỐI TỪ TRUNG ƯƠNG ĐẾN ĐỊA PHƯƠNG

I. QUAN ĐIỂM

1. Quán triệt và thực hiện hiệu quả chủ trương, chỉ đạo của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục đổi mới, sắp xếp bộ máy của hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả".

2. Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất một đầu mối từ Trung ương đến địa phương theo Chỉ thị số 17-CT/TW ngày 21/10/2022 của Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường bảo đảm an ninh, an toàn thực phẩm trong tình hình mới, khắc phục những bất cập, hạn chế, chồng chéo, trùng lắp trong quản lý an toàn thực phẩm và cập nhật ưu điểm của những mô hình quản lý an toàn thực phẩm tiên tiến trên Thế giới cũng như những mô hình đã từng được thí điểm tại một số tỉnh ở Việt Nam.

3. Quản lý an toàn thực phẩm hiện đại, đồng bộ, hiệu lực và hiệu quả; chuyển mạnh tư duy quản lý an toàn thực phẩm theo chuỗi giá trị thực phẩm, bảo đảm quản lý chặt chẽ toàn bộ các khâu từ sản xuất ban đầu (bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, khai thác, thu gom, giết mổ) cho đến chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh và đến tay người tiêu dùng thực phẩm; khắc phục tình trạng quản lý phân tán, chồng chéo; nâng cao năng lực phòng ngừa rủi ro và xử lý kịp thời các nguy cơ mất an toàn thực phẩm; vừa bảo vệ sức khoẻ Nhân dân vừa thúc đẩy phát triển sản xuất thực phẩm sạch, an toàn, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng thực phẩm toàn cầu.

II. MỤC TIÊU

1. Mục tiêu chung

Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất một đầu mối từ Trung ương đến địa phương.

2. Mục tiêu cụ thể

- Thành lập cơ quan Trung ương về an toàn thực phẩm trực thuộc Bộ Y tế trên cơ sở giữ nguyên Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế và tiếp nhận một số chức năng, nhiệm vụ kèm theo nhân sự và cơ sở vật chất (nếu có) liên quan đến công tác quản lý an toàn thực phẩm của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (không bao gồm quản lý về điều kiện sản xuất, kinh doanh trong công đoạn sản xuất ban đầu như trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt, khai thác, nuôi trồng, thu hái, giết mổ, kiểm dịch) và Bộ Công Thương (không bao gồm quản lý đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, buôn bán hàng giả trên thị trường đối với tất cả các loại thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm).

- Thành lập 01 tổ chức hành chính quản lý an toàn thực phẩm tại cấp tỉnh trên cơ sở đơn vị sẵn có của ngành Y tế tuyến tỉnh được giao đầu mối phụ trách quản lý an toàn thực phẩm, tiếp nhận thêm một số chức năng, nhiệm vụ, nhân sự và cơ sở vật chất (nếu có) liên quan đến công tác quản lý an toàn thực phẩm của Sở Công Thương và Sở Nông nghiệp và Môi trường tương ứng với cấp Trung ương.

- Thành lập 01 tổ chức tại cấp xã có chức năng thực thi với các nhiệm vụ bao gồm giám sát, kiểm tra, lập biên bản vi phạm về an toàn thực phẩm. Tổ chức này phối hợp với các đơn vị trực thuộc UBND cấp xã để giúp triển khai các hoạt động liên quan đến chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm mà UBND cấp tỉnh phân cấp, phân quyền cho UBND cấp xã.

III. NGUYÊN TẮC

1. Việc hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất một đầu mối từ Trung ương đến địa phương bảo đảm tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, khắc phục những bất cập, hạn chế, chồng chéo, trùng lắp trong quản lý an toàn thực phẩm.

2. Quá trình hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất một đầu mối từ Trung ương đến địa phương phải kế thừa và đổi mới, bảo đảm tính liên tục, không gián đoạn, không bỏ sót trong thực hiện chức năng nhiệm vụ.

3. Trong quá trình triển khai thực hiện Đề án, Bộ Y tế phải phối hợp chặt chẽ với Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương và các Bộ, ngành liên quan rà soát, đánh giá, lựa chọn cán bộ có tâm, có tầm, có bản lĩnh, phẩm chất chính trị, tinh thông nghiệp vụ để bố trí, sắp xếp vào các vị trí phù hợp.

PHẦN III
VỊ TRÍ PHÁP LÝ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị và Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư tại thông báo số 15-TB/BCĐTW ngày 17/3/2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương, Ban Thường vụ Bộ Y tế xây dựng bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất một đầu mối từ Trung ương đến địa phương, cụ thể là:

1. Ở Trung ương: kết thúc hoạt động quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm (không bao gồm quản lý về điều kiện sản xuất, kinh doanh trong công đoạn sản xuất ban đầu như trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt, khai thác, nuôi trồng, thu hái, giết mổ, kiểm dịch) của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; kết thúc hoạt động quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của Bộ Công Thương (không bao gồm quản lý đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, buôn bán hàng giả trên thị trường đối với tất cả các loại thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm); chuyển các nhân sự có chức năng, nhiệm vụ liên quan kèm theo cơ sở vật chất (nếu có) về Cục An toàn thực phẩm trực thuộc Bộ Y tế.

2. Ở cấp tỉnh: kết thúc hoạt động 10 Chi cục An toàn thực phẩm trực thuộc Sở Y tế, 15 Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm trực thuộc Sở Y tế, 8 Phòng An toàn thực phẩm thuộc Sở Y tế và 01 Sở An toàn thực phẩm thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của các đơn vị trên, thành lập Sở An toàn thực phẩm, tiếp nhận thêm chức năng, nhiệm vụ, nhân sự và cơ sở vật chất (nếu có) liên quan đến công tác quản lý an toàn thực phẩm của Sở Công Thương và Sở Nông nghiệp và Môi trường.

3. Ở cấp xã: thành lập Đội An toàn thực phẩm là tổ chức sự nghiệp trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, có chức năng thực thi với các nhiệm vụ giám sát, kiểm tra, lập biên bản vi phạm về an toàn thực phẩm chuyển Chủ tịch UBND cấp xã xem xét, xử lý vi phạm theo quy định.

((Sơ đồ hệ thống quản lý ngành dọc về quản lý an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất một đầu mối tại phụ lục 4 của Đề án)

I. CẤP TRUNG ƯƠNG

1. Vị trí chức năng

Cục An toàn thực phẩm là đơn vị hành chính trực thuộc Bộ Y tế có chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Y tế quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về lĩnh vực an toàn thực phẩm trong phạm vi cả nước.

Cục An toàn thực phẩm có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và ngân hàng để hoạt động theo quy định.

2. Tên gọi và trụ sở

a) Tên giao dịch tiếng Việt: Cục An toàn thực phẩm

b) Tên giao dịch tiếng Anh: Viet Nam Food Safety Administration (viết tắt: VFSA)

c) Địa chỉ và thông tin giao dịch: 135, Núi Trúc, phường Giảng Võ, TP Hà Nội

3. Quản lý nhà nước

Cục An toàn thực phẩm chịu sự quản lý nhà nước về y tế của Bộ Y tế, chịu sự quản lý hành chính của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội nơi đặt trụ sở làm việc.

4. Tổ chức Đảng và các Đoàn thể

- Đảng bộ Cục An toàn thực phẩm trực thuộc Đảng ủy Bộ Y tế

- Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong Cục An toàn thực phẩm lãnh đạo toàn diện các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao trên cơ sở chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

- Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức hội nghề nghiệp khác trong Cục An toàn thực phẩm được thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật, có trách nhiệm phối hợp cùng với chính quyền để thực hiện nhiệm vụ chính trị và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức nghề nghiệp đã được xác định trong Điều lệ của tổ chức đó.

5. Nhiệm vụ, quyền hạn

5.1. Chủ trì xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý của Bộ Y tế và hướng dẫn, tổ chức thực hiện;

5.2. Chủ trì xây dựng, sửa đổi, bổ sung trình cấp có thẩm quyền ban hành:

a) Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với thực phẩm và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc quy định chỉ tiêu mức giới hạn dư lượng thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật và các tác nhân gây ô nhiễm của thực phẩm;

b) Quy định bảo đảm an toàn thực phẩm trong suốt công đoạn sản xuất ban đầu về (không bao gồm điều kiện sản xuất kinh doanh) và các công đoạn còn lại bao gồm sơ chế, sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, phân phối, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh và thông tin, truyền thông đối với thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm;

c) Quy định điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm và hướng dẫn quản lý an toàn thực phẩm đối với bếp ăn tập thể, nhà hàng tại khách sạn, khu nghỉ dưỡng, nhà hàng, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống và kinh doanh thức ăn đường phố;

d) Quy định điều kiện của cơ sở kiểm nghiệm an toàn thực phẩm phục vụ quản lý nhà nước;

đ) Quy định về quản lý phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, vi chất dinh dưỡng bổ sung, tăng cường vào thực phẩm; danh mục các chất phụ gia được phép sử dụng trong thực phẩm.

3. Rà soát, ban hành quy định về mức giới hạn dư lượng thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật và các tác nhân gây ô nhiễm của thực phẩm trong nguyên liệu dùng để sản xuất, chế biến thực phẩm. Khi xảy ra sự cố vượt mức giới hạn dư lượng, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiểm tra các điều kiện bảo đảm an toàn thực trong công đoạn sản xuất ban đầu.

4. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và các Bộ, ngành khác thực hiện công tác thông tin và truyền thông, phổ biến kiến thức, giáo dục pháp luật về an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật;

5. Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng hệ thống cảnh báo sự cố an toàn thực phẩm; quy định cụ thể việc khai báo sự cố về an toàn thực phẩm; tổ chức thực hiện việc giám sát, phân tích nguy cơ, phòng ngừa, điều tra và phối hợp ngăn chặn ngộ độc thực phẩm, khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm;

6. Quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với giấy đăng ký công bố sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe; quản lý an toàn thực phấm đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm;

7. Tổ chức tiếp nhận, quản lý hồ sơ và cấp, đình chỉ: giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm đối với các sản phẩm thực phẩm; phụ gia thực phẩm. Thu hồi các loại giấy tiếp nhận, giấy xác nhận theo đề nghị của tổ chức, cá nhân;

8. Tổ chức tiếp nhận, quản lý hồ sơ và cấp, cấp lại, đình chỉ, thu hồi: giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện thực hành sản xuất tốt (GMP) thực phẩm bảo vệ sức khỏe. Thu hồi giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện thực hành sản xuất tốt (GMP) thực phẩm bảo vệ sức khỏe khi tổ chức, cá nhân có yêu cầu;

9. Đầu mối tham mưu trình Bộ trưởng Bộ Y tế chỉ định, giao nhiệm vụ: Cơ sở kiểm nghiệm kiểm chứng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế; Cơ sở làm kiểm nghiệm trọng tài và kết luận cuối cùng khi có sự khác biệt về kết quả kiểm nghiệm của các cơ sở kiểm nghiệm thực phẩm trong và ngoài ngành Y tế;

10. Chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về công tác quản lý an toàn thực phẩm đối với Sở An toàn thực phẩm, cơ quan, đơn vị được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phân công quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm;

11. Tổ chức thực hiện việc kiểm tra chuyên ngành và xử lý các vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật; tham gia chỉ đạo, hướng dẫn việc kiểm tra về an toàn thực phẩm;

12. Là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về an toàn thực phẩm và thường trực của Ủy ban tiêu chuẩn thực phẩm (Ủy ban Codex) Việt Nam;

13. Xây dựng cơ sở dữ liệu về an toàn thực phẩm; tổng hợp, thống kê, báo cáo định kỳ, đột xuất về công tác quản lý an toàn thực phẩm trên cơ sở giám sát và tổng hợp báo cáo của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

14. Thực hiện công tác pháp chế, công tác cải cách hành chính, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật;

15. Quản lý tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, tài sản và kinh phí được giao theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ trưởng Bộ Y tế;

16. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Y tế giao.

6. Cơ cấu tổ chức

6.1. Lãnh đạo Cục An toàn thực phẩm:

- Cục trưởng và các Phó Cục trưởng do Bộ trưởng Bộ Y tế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cho thôi giữ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển theo quy định của pháp luật.

- Cục trưởng chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Y tế và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Cục; Phó Cục trưởng giúp việc cho Cục trưởng và được Cục trưởng giao phụ trách một số công tác, chịu trách nhiệm trước Cục trưởng và trước pháp luật về các nhiệm vụ được giao.

6.2. Các phòng nghiệp vụ:

a) Văn phòng Cục;

b) Phòng Kế hoạch và Tài chính;

c) Phòng Pháp chế và Kiểm tra chuyên ngành;

d) Phòng Quản lý tiêu chuẩn và Kiểm nghiệm;

đ) Phòng Giám sát nguy cơ, ngộ độc thực phẩm và Thông tin truyền thông;

e) Phòng Quản lý sản phẩm thực phẩm;

g) Phòng Quản lý kinh doanh thực phẩm;

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Cục và các phòng, đơn vị thuộc Cục do Cục trưởng quy định trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của Cục được Bộ Y tế giao. Mối quan hệ giữa Văn phòng Cục, các phòng, đơn vị thuộc Cục do Cục trưởng quy định.

6.3. Các đơn vị sự nghiệp:

a) Văn phòng Ủy ban Codex Việt Nam;

b) Trung tâm Đào tạo an toàn thực phẩm.

7. Nhân sự

a) Cục trưởng và các Phó Cục trưởng do Bộ trưởng Bộ Y tế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cho thôi giữ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển theo quy định của pháp luật. Cục trưởng chịu trách nhiệm cá nhân trước Bộ trưởng Bộ Y tế và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Cục;

b) Phó Cục trưởng giúp Cục trưởng một số công việc được phân công và chịu trách nhiệm trước Cục trưởng, trước pháp luật về các công việc được giao;

c) Trưởng phòng và Phó Trưởng phòng các phòng, các đơn vị sự nghiệp thuộc Cục An toàn thực phẩm thuộc thẩm quyền Cục trưởng bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cho thôi giữ chức, miễn nhiệm, cách chức được thực hiện theo quy định của pháp luật và theo phân cấp thẩm quyền;

d) Vị trí việc làm và số lượng người làm việc:

- Số lượng người làm việc của Cục An toàn thực phẩm thực hiện theo số lượng người làm việc được Bộ Y tế giao cho Cục An toàn thực phẩm hiện nay và số lượng người từ các đơn vị liên quan của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công Thương chuyển sang trên cơ sở chức năng nhiệm vụ mà công chức đang đảm nhiệm.

- Cục trưởng có trách nhiệm xây dựng đề án vị trí việc làm, xác định danh mục vị trí việc làm, cơ cấu chức danh nghề nghiệp công chức và số lượng người làm việc của các đơn vị phù hợp với nhu cầu công việc và nhiệm vụ được giao, trình Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt.

- Hàng năm, Cục trưởng có trách nhiệm rà soát Đề án vị trí việc làm và số lượng người làm việc trình Bộ Y tế xem xét, phê duyệt.

8. Tài chính

8.1. Chế độ tài chính

Cục An toàn thực phẩm là đơn vị hành chính y tế công lập do ngân sách nhà nước đảm bảo là chính, song có thể tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên.

Cục An toàn thực phẩm là đơn vị dự toán sử dụng ngân sách nhà nước, hạch toán độc lập, được cấp kinh phí hoạt động theo đơn vị hành chính y tế công lập, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các Ngân hàng thương mại theo nhu cầu.

8.2. Nguồn tài chính của đơn vị

a) Ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động thường xuyên của đơn vị để thực hiện các nhiệm vụ nhà nước giao, bao gồm:

- Chi cho con người: Được xác định trên cơ sở số lượng người làm việc được cấp có thẩm quyền giao và tiền lương theo chức danh nghề nghiệp, bậc, các khoản phụ cấp theo lương và các khoản đóng góp, chi theo chế độ do Nhà nước quy định và các chi phí vận hành và hành chính bảo đảm hoạt động thường xuyên của đơn vị theo các chế độ, chính sách quy định của Nhà nước;

- Nguồn thu phí, lệ phí và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật;

b) Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên, gồm:

- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ chi không thường xuyên về an toàn thực phẩm theo quy định của Chính phủ, Bộ Y tế; Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ; Kinh phí các chương trình mục tiêu, chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; Kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền;

c) Kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa cơ sở theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

d) Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất khác được cơ quan có thẩm quyền giao: được tính và phân bổ ngoài định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên cho đơn vị, đơn vị quản lý, sử dụng và quyết toán theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi hiện hành của Nhà nước;

đ) Kinh phí khác (nếu có).

8.3. Sử dụng nguồn tài chính của đơn vị

a) Chi thường xuyên: Đơn vị được chủ động sử dụng các nguồn tài chính giao tự chủ để chi thường xuyên;

b) Chi tiền lương: Đơn vị chi trả tiền lương theo lương chức danh nghề nghiệp, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với công chức trong các đơn vị hành chính công lập, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập;

c) Chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý: Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đơn vị được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định;

d) Chi nhiệm vụ không thường xuyên: Đơn vị chi theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và của pháp luật đối với từng nguồn kinh phí quy định.

đ) Quản lý tài chính

- Cục An toàn thực phẩm có trách nhiệm lập dự toán thu - chi ngân sách hàng năm gửi Bộ Y tế theo quy định của Luật ngân sách nhà nước. Cục có trách nhiệm theo dõi, sử dụng các nguồn kinh phí đảm bảo hiệu quả, đúng quy định;

- Cục An toàn thực phẩm có trách nhiệm mở sổ kế toán để theo dõi, quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí theo đúng quy định của pháp luật;

- Cục lập và gửi báo cáo quyết toán định kỳ, quyết toán năm theo quy định của Luật Kế toán;

- Thực hiện chế độ công khai, minh bạch tài chính và chế độ tự kiểm tra tài chính theo quy định của pháp luật;

- Xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ;

- Thực hiện đăng ký, kê khai, nộp đầy đủ, đúng thời gian các khoản thuế và các khoản thu ngân sách khác (nếu có) theo quy định của pháp luật.

9. Tài sản

Về cơ sở vật chất trong thời gian đầu thành lập, về cơ bản sử dụng cơ sở vật chất hiện có của các đơn vị hợp nhất trên cơ sở hiện có của Cục An toàn thực phẩm trực thuộc Bộ Y tế, sau đó tiến hành tiếp nhận các tài sản, cơ sở vật chất (nếu có) theo nhân sự và chức năng nhiệm vụ từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công Thương.

10. Mối quan hệ công tác

a) Đối với cơ quan quản lý

- Bộ Y tế chỉ đạo trực tiếp Cục An toàn thực phẩm.

- Cục An toàn thực phẩm có mối quan hệ phối hợp với đơn vị trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối công đoạn sản xuất ban đầu (bao gồm trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt, khai thác, nuôi trồng, thu hái, giết mổ, kiểm dịch). Khi xảy ra sự cố vượt mức giới hạn dư lượng, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường kiểm tra các điều kiện bảo đảm an toàn thực trong công đoạn sản xuất ban đầu.

- Cục An toàn thực phẩm có mối quan hệ phối hợp với đơn vị trực thuộc Bộ Công Thương trong việc quản lý nhà nước trong đấu tranh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, buôn bán hàng giả trên thị trường đối với tất cả các loại thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm.

- Cục An toàn thực phẩm có mối quan hệ phối hợp với đơn vị liên quan trực thuộc Bộ Công Thương trong quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm được bán trên sàn thương mại điện tử, thực phẩm giả và các hành vi gian lận thương mại.

- Cục An toàn thực phẩm có mối quan hệ chuyên môn với các Viện kiểm nghiệm, Viện nghiên cứu trên toàn quốc về các lĩnh vực kiểm nghiệm an toàn thực phẩm, nghiên cứu khoa học, phân tích và đánh giá nguy cơ thực phẩm.

- Cục An toàn thực phẩm có mối quan hệ phối hợp với Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế trong các hoạt động xử lý sự cố về an toàn thực phẩm trong cộng đồng.

- Cục An toàn thực phẩm có mối quan hệ phối hợp với đơn vị liên quan trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc xây dựng, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về an toàn thực phẩm.

- Cục An toàn thực phẩm có mối quan hệ phối hợp với cơ quan Hải quan trong kiểm tra nhà nước các hoạt động xuất nhập khẩu thực phẩm.

- Cục An toàn thực phẩm có mối quan hệ phối hợp với đơn vị liên quan trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với các hoạt động các lễ hội, sự kiện, các hoạt động quảng cáo thực phẩm phương tiện thông tin đại chúng, liên quan đến người nổi tiếng, người có tầm ảnh hưởng.

- Cục An toàn thực phẩm là cơ quan thường trực tham mưu cho Ban Chỉ đạo liên ngành Trung ương về an toàn thực phẩm trong việc lập kế hoạch, triển khai và báo cáo kết quả các hoạt động truyền thông, kiểm tra, xử lý vi phạm về an toàn thực phẩm trên toàn quốc.

b) Mối quan hệ công tác giữa Cục An toàn thực phẩm và Sở An toàn thực phẩm tỉnh, thành phố.

Cục An toàn thực phẩm chỉ đạo trực tiếp, toàn diện về chuyên môn kỹ thuật đối với các Sở An toàn thực phẩm tỉnh, thành phố.

c) Đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong nước

- Cục An toàn thực phẩm có mối quan hệ hợp tác với các cơ quan, các đơn vị, các cá nhân trong và ngoài ngành y tế, từ Trung ương đến địa phương để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được Bộ trưởng Bộ Y tế giao và phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

- Cục An toàn thực phẩm là đầu mối phối hợp với các đơn vị liên quan trực thuộc Bộ Y tế thực hiện công tác chỉ đạo, hướng dẫn và hợp tác về chuyên môn, kỹ thuật đối với hệ thống quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên phạm vi toàn quốc.

d) Đối với các tổ chức và cá nhân nước ngoài

Cục An toàn thực phẩm được hợp tác với các tổ chức, cá nhân người nước ngoài về các lĩnh vực được Bộ trưởng Bộ Y tế giao và phải thực hiện đúng quy chế hợp tác quốc tế về y tế và các quy định của pháp luật.

đ) Đối với địa phương:

Cục An toàn thực phẩm chịu sự quản lý theo lãnh thổ của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội và có trách nhiệm chủ động phối hợp với địa phương và các tổ chức có liên quan để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.

II. CẤP TỈNH

1. Vị trí chức năng

a) Sở An toàn thực phẩm là đơn vị hành chính trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.

b) Sở An toàn thực phẩm có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và ngân hàng để hoạt động theo quy định.

2. Tên gọi và trụ sở

a) Tên giao dịch tiếng Việt: Sở An toàn thực phẩm

b) Tên giao dịch tiếng Anh: Provincial Food Safety Department (viết tắt: PFSD)

c) Địa chỉ và thông tin giao dịch: Do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ định

3. Quản lý nhà nước

Sở An toàn thực phẩm chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp, toàn diện về tổ chức, biên chế và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, đồng thời chấp hành sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Y tế.

4. Tổ chức Đảng và các Đoàn thể

a) Đảng bộ Sở An toàn thực phẩm trực thuộc Đảng ủy Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

b) Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong Sở An toàn thực phẩm lãnh đạo toàn diện các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao trên cơ sở chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

c) Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức hội nghề nghiệp khác trong Sở An toàn thực phẩm được thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật, có trách nhiệm phối hợp cùng với chính quyền để thực hiện nhiệm vụ chính trị và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức nghề nghiệp đã được xác định trong Điều lệ của tổ chức đó.

5. Nhiệm vụ, quyền hạn

5.1. Tham mưu, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

a) Dự thảo quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh liên quan đến các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Sở An toàn thực phẩm và các văn bản khác theo phân công của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

b) Dự thảo kế hoạch phát triển lĩnh vực an toàn thực phẩm, chương trình, dự án, đề án, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ về lĩnh vực an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trong phạm vi quản lý của Sở An toàn thực phẩm;

c) Dự thảo quyết định việc phân cấp, ủy quyền thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với Sở An toàn thực phẩm, Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật;

d) Dự thảo quyết định thực hiện xã hội hóa các hoạt động cung ứng dịch vụ sự nghiệp công về an toàn thực phẩm thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân Thành phố và theo phân cấp của cơ quan nhà nước cấp trên.

5.2. Tham mưu, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

Dự thảo các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo phân công về công tác an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố.

5.3. Công tác thi hành pháp luật

Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án và các văn bản khác trong lĩnh vực an toàn thực phẩm sau khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến, giáo dục pháp luật và theo dõi thi hành pháp luật về các lĩnh vực theo nhiệm vụ quản lý nhà nước của Sở An toàn thực phẩm.

5.4. Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

a) Chủ trì, xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương về an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm thực phẩm đặc thù của tỉnh, thành phố theo quy định của pháp luật;

b) Triển khai thực hiện công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm từ khâu sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, kinh doanh đối với thực phẩm thuộc thẩm quyền quản lý và các cơ sở sản xuất, kinh doanh phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm; dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm và các sản phẩm khác, an toàn thực phẩm đối với các chợ, siêu thị, trung tâm thương mại và các cơ sở thuộc hệ thống dự trữ, phân phối hàng hóa thực phẩm được phân công, phân cấp (trừ các công đoạn sản xuất ban đầu như trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, khai thác, giết mổ do Sở Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm quản lý; và các hoạt động kiểm tra phòng, chống thực phẩm giả, gian lận thương mại trên thị trường đối với tất cả các loại thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm do Sở Công Thương chịu trách nhiệm quản lý).

c) Tổ chức tiếp nhận và quản lý hồ sơ thủ tục hành chính về an toàn thực phẩm theo sự phân công của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trên cơ sở phân cấp của Bộ Y tế.

d) Tổ chức việc cấp giấy chứng nhận kiểm dịch sản phẩm động vật ra khỏi địa bàn tỉnh, thành phố tại các cơ sở sản xuất, thu gom, sơ chế, chế biến, bảo quản, kinh doanh (trừ cơ sở sản xuất ban đầu về hoạt động chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng, giết mổ)

đ) Triển khai hoạt động phòng ngừa và khắc phục các sự cố về an toàn thực phẩm, ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố;

e) Tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động chuyên môn, kỹ thuật về kiểm nghiệm thực phẩm (thu thập, phân tích, kiểm nghiệm mẫu thực phẩm); thực hiện giám sát cảnh báo các nguy cơ về an toàn thực phẩm; hướng dẫn và giám sát việc áp dụng quy chuẩn kỹ thuật đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố; tham gia xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật địa phương về an toàn thực phẩm;

g) Triển khai các hoạt động tuyên truyền thông tin, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố;

h) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố; quản lý điều kiện bảo đảm an toàn đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, thức ăn đường phố, cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống, an toàn thực phẩm tại các chợ trên địa bàn tỉnh, thành phố và các đối tượng theo phân cấp quản lý;

i) Thường trực Ban Chỉ đạo liên ngành về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố;

k) Kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố;

5.5. Các nhiệm vụ khác

a) Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực an toàn thực phẩm theo phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

b) Giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về công tác an toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Sở An toàn thực phẩm

c) Quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của các phòng chuyên môn nghiệp vụ và Văn phòng thuộc Sở An toàn thực phẩm; quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập; thực hiện chế độ tiền lương và chính sách, chế độ đãi ngộ, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỹ luật đối với công chức, viên chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Sở An toàn thực phẩm theo quy định và theo sự phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

d) Quản lý tài chính, tài sản và tổ chức thực hiện ngân sách được giao theo quy định của pháp luật và theo phân công, phân cấp hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

đ) Thực hiện công tác thông tin, báo cáo định kỳ, đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Bộ Y tế.

e) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao và theo quy định của pháp luật

6. Cơ cấu tổ chức

6.1. Lãnh đạo Sở An toàn thực phẩm:

a) Giám đốc Sở và các Phó Giám đốc Sở do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cho thôi giữ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển theo quy định của pháp luật.

b) Giám đốc Sở chịu trách nhiệm cá nhân trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Sở; Phó Giám đốc Sở giúp việc cho Giám đốc Sở và được Giám đốc Sở giao phụ trách một số công tác, chịu trách nhiệm trước

6.2. Các phòng nghiệp vụ:

a) Văn phòng Sở;

b) Phòng Kế hoạch và Tài chính;

c) Phòng Kiểm tra chuyên ngành (bao gồm các Đội Kiểm tra an toàn thực phẩm);

d) Phòng Quản lý tiêu chuẩn và Kiểm nghiệm;

đ) Phòng Giám sát nguy cơ, ngộ độc thực phẩm và Thông tin truyền thông;

e) Phòng Quản lý sản phẩm thực phẩm;

g) Phòng Quản lý kinh doanh thực phẩm;

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Sở và các phòng, đơn vị thuộc Sở do Giám đốc Sở quy định trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của Sở được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao. Mối quan hệ giữa Văn phòng Sở, các phòng, đơn vị thuộc Sở do Giám đốc Sở quy định.

6.3. Các đơn vị sự nghiệp: Trung tâm kiểm nghiệm thực phẩm (nếu có)

7. Nhân sự

a) Giám đốc Sở và các Phó Giám đốc Sở do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cho thôi giữ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển theo quy định của pháp luật. Giám đốc Sở chịu trách nhiệm cá nhân trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Sở;

b) Phó Giám đốc Sở giúp Giám đốc Sở một số công việc được phân công và chịu trách nhiệm trước Cục trưởng, trước pháp luật về các công việc được giao;

c) Trưởng phòng và Phó Trưởng phòng các phòng, các đơn vị sự nghiệp thuộc Sở An toàn thực phẩm thuộc thẩm quyền Giám đốc Sở bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cho thôi giữ chức, miễn nhiệm, cách chức được thực hiện theo quy định của pháp luật và theo phân cấp thẩm quyền;

d) Vị trí việc làm và số lượng người làm việc:

- Số lượng người làm việc của Sở An toàn thực phẩm thực hiện theo số lượng người làm việc được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao biên chế trên cơ sở vị trí việc làm gắn với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động và nằm trong tổng biên chế hành chính, số lượng người làm việc của tỉnh, thành phố (trên cơ sở số nhân sự của các đơn vị đầu mối quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trực thuộc Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Môi trường và Sở Công Thương)

- Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và danh mục vị trí việc làm được phê duyệt, hàng năm Sở An toàn thực phẩm xây dựng kế hoạch biên chế, số lượng người làm việc trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định phân bổ theo quy định của pháp luật. Việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức và người lao động của Sở phải căn cứ vào vị trí việc làm, tiêu chuẩn, chức danh nghề nghiệp và theo quy định hiện hành của Nhà nước.

8. Tài chính

8.1. Chế độ tài chính

Sở An toàn thực phẩm là đơn vị hành chính y tế công lập do ngân sách nhà nước đảm bảo là chính, song có thể tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên (từ nguồn thu phí, lệ phí và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật).

Sở An toàn thực phẩm là đơn vị dự toán sử dụng ngân sách nhà nước, hạch toán độc lập, được cấp kinh phí hoạt động theo đơn vị hành chính y tế công lập, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các Ngân hàng thương mại theo nhu cầu.

8.2. Nguồn tài chính của đơn vị

a) Ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động thường xuyên của đơn vị để thực hiện các nhiệm vụ nhà nước giao, bao gồm:

- Chi cho con người: Được xác định trên cơ sở số lượng người làm việc được cấp có thẩm quyền giao và tiền lương theo chức danh nghề nghiệp, bậc, các khoản phụ cấp theo lương và các khoản đóng góp, chi theo chế độ do Nhà nước quy định và các chi phí vận hành và hành chính bảo đảm hoạt động thường xuyên của đơn vị theo các chế độ, chính sách quy định của Nhà nước;

- Nguồn thu phí, lệ phí và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật;

b) Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên, gồm:

- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ chi không thường xuyên về an toàn thực phẩm theo quy định của Chính phủ, Bộ Y tế, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ; Kinh phí các chương trình mục tiêu, chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; Kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền;

c) Kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa cơ sở theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

d) Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất khác được cơ quan có thẩm quyền giao: được tính và phân bổ ngoài định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên cho đơn vị, đơn vị quản lý, sử dụng và quyết toán theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi hiện hành của Nhà nước;

đ) Kinh phí khác (nếu có).

8.3. Sử dụng nguồn tài chính của đơn vị

a) Chi thường xuyên: Đơn vị được chủ động sử dụng các nguồn tài chính giao tự chủ để chi thường xuyên;

b) Chi tiền lương: Đơn vị chi trả tiền lương theo lương chức danh nghề nghiệp, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với công chức trong các đơn vị hành chính công lập, viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập;

c) Chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý: Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đơn vị được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định;

d) Chi nhiệm vụ không thường xuyên: Đơn vị chi theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và của pháp luật đối với từng nguồn kinh phí quy định.

đ) Quản lý tài chính

- Sở An toàn thực phẩm có trách nhiệm lập dự toán thu - chi ngân sách hàng năm gửi Bộ Y tế theo quy định của Luật ngân sách nhà nước. Sở có trách nhiệm theo dõi, sử dụng các nguồn kinh phí đảm bảo hiệu quả, đúng quy định;

- Sở An toàn thực phẩm có trách nhiệm mở sổ kế toán để theo dõi, quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí theo đúng quy định của pháp luật;

- Sở lập và gửi báo cáo quyết toán định kỳ, quyết toán năm theo quy định của Luật Kế toán;

- Thực hiện chế độ công khai, minh bạch tài chính và chế độ tự kiểm tra tài chính theo quy định của pháp luật;

- Xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ;

- Thực hiện đăng ký, kê khai, nộp đầy đủ, đúng thời gian các khoản thuế và các khoản thu ngân sách khác (nếu có) theo quy định của pháp luật.

9. Tài sản

Về cơ sở vật chất trong thời gian đầu thành lập, về cơ bản sử dụng cơ sở vật chất hiện có của các đơn vị hợp nhất trên cơ sở hiện có do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ định, sau đó tiến hành tiếp nhận các tài sản, cơ sở vật chất (nếu có) theo nhân sự và chức năng nhiệm vụ từ Sở Nông nghiệp và Môi trường và Sở Công Thương.

10. Mối quan hệ công tác

- Sở An toàn thực phẩm chịu sự chỉ đạo trực tiếp, toàn diện về quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

- Sở An toàn thực phẩm chịu sự chỉ đạo trực tiếp, toàn diện về chuyên môn kỹ thuật của Cục An toàn thực phẩm.

- Sở An toàn thực phẩm phối hợp với Sở Y tế trong công tác điều tra, xử lý ngộ độc thực phẩm, điều trị bệnh nhân trên địa bàn tỉnh, thành phố.

- Sở An toàn thực phẩm phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo bảo đảm ATTP tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh, thành phố.

- Sở An toàn thực phẩm phối hợp với Sở Công Thương trong công tác đấu tranh với các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, kém chất lượng là thực phẩm, hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp, trên sàn thương mại điện tử.

- Sở An toàn thực phẩm phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường trong công tác bảo đảm an toàn thực phẩm đối với các hoạt động sản xuất ban đầu, kiểm dịch và kiểm soát giết mổ.

- Sở An toàn thực phẩm phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ trong công tác rà soát, xây dựng quy chuẩn kỹ thuật địa phương và xây dựng cơ sở dữ liệu về an toàn thực phẩm.

- Sở An toàn thực phẩm phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác giám sát các lễ hội, sự kiện diễn ra trên địa bàn tỉnh thành phố, các hoạt động quảng cáo thực phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng, liên quan đến người nổi tiếng, người có tầm ảnh hưởng.

- Đối với UBND cấp xã: Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho Ủy ban nhân dân cấp xã trong các hoạt động thực thi, bao gồm kiểm tra, xử lý vi phạm; trong quản lý thức ăn đường phố, các cơ sở kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ; trong quản lý bếp ăn tập thể, bếp ăn tại các cơ sở giáo dục.

III. CẤP XÃ

Uỷ ban nhân dân cấp xã giao chức năng quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm cho Phòng Văn hoá – Xã hội và thành lập một tổ chức có chức năng thực thi giám sát, kiểm tra, lập biên bản vi phạm về an toàn thực phẩm.

1. Vị trí chức năng

Đội An toàn thực phẩm là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã có chức năng kiểm tra, lập biên bản vi phạm theo thẩm quyền và đề xuất Uỷ ban nhân dân cấp xã, Sở An toàn thực phẩm xử lý các vi phạm trong lĩnh vực quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật.

Đội An toàn thực phẩm có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, được cấp kinh phí hoạt động từ ngân sách nhà nước và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và ngân hàng để hoạt động theo quy định.

2. Tên gọi và trụ sở

a) Tên giao dịch tiếng Việt: Đội An toàn thực phẩm

b) Tên giao dịch tiếng Anh: Commune Food Safety Force (viết tắt: CFSF)

c) Địa chỉ và thông tin giao dịch: Do Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ định

3. Quản lý nhà nước

Đội An toàn thực phẩm chịu sự chỉ đạo, quản lý toàn diện về tổ chức, biên chế và công tác của Uỷ ban nhân dân cấp xã và theo sự hướng dẫn về nghiệp vụ chuyên môn của Sở An toàn thực phẩm.

4. Tổ chức Đảng và các Đoàn thể

a) Đảng bộ Đội An toàn thực phẩm trực thuộc Đảng ủy Ủy ban nhân dân cấp xã

b) Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam trong Đội An toàn thực phẩm lãnh đạo toàn diện các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao trên cơ sở chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

5. Nhiệm vụ, quyền hạn

a) Hướng dẫn, vận động các tổ chức và nhân dân trên địa bàn chấp hành các quy định của Nhà nước và địa phương về an toàn thực phẩm.

b) Phối hợp với Phòng Văn hóa – Xã hội và các tổ chức kiểm tra khác thực hiện nhiệm vụ được giao trong công tác bảo đảm an toàn thực phẩm, xử lý các hành vi vi phạm có liên quan về lĩnh vực an toàn thực phẩm theo thẩm quyền.

c) Kiểm tra việc tuân thủ và bảo đảm các quy định về an toàn thực phẩm, nếu phát hiện ra những việc thực hiện sai quy định cần kịp thời thông báo cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết, trường hợp các tổ chức, cá nhân vi phạm về lĩnh vực an toàn thực phẩm thì lập biên bản xác định lỗi vi phạm để đề nghị phòng Văn hóa - Xã hội hoặc cấp có thẩm quyền xử lý.

d) Theo dõi việc thực hiện Quyết định của UBND cấp xã đã ban hành, đôn đốc thực hiện các quyết định xử lý vi phạm hành chính đã có hiệu lực thi hành, đề xuất biện pháp cưỡng chế và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế đối với tổ chức, cá nhân trên địa bàn không tự giác chấp hành.

đ) Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã giao theo quy định của pháp luật.

6. Cơ cấu tổ chức

Đội An toàn thực phẩm gồm: Đội trưởng, 01 Đội phó, các thành viên bao gồm cả lái xe kiêm nhiệm các nhiệm vụ khác của Đội.

7. Nhân sự

a) Đội trưởng và Đội phó do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cho thôi giữ chức, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển theo quy định của pháp luật.

b) Vị trí việc làm và số lượng người làm việc: Số lượng biên chế của Đội An toàn thực phẩm do UBND cấp tỉnh giao hàng năm tương ứng với chức năng, nhiệm vụ của Đội An toàn thực phẩm.

8. Tài chính

a) Đội An toàn thực phẩm là đơn vị sự nghiệp công lập do ngân sách nhà nước đảm bảo 100%, song có thể có lộ trình tự chủ một phần đến toàn bộ.

b) Đội An toàn thực phẩm là đơn vị dự toán sử dụng ngân sách nhà nước, hạch toán độc lập, được cấp kinh phí hoạt động theo đơn vị sự nghiệp y tế công lập, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các Ngân hàng thương mại theo nhu cầu.

c) Đội thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính, theo quy định của pháp luật và phải chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật về tài chính - kế toán.

9. Tài sản

Về cơ sở vật chất trong thời gian đầu thành lập, về cơ bản sử dụng cơ sở vật chất hiện có do Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ định, bao gồm các trụ sở hiện đang bỏ trống sau sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã.

10. Mối quan hệ công tác

a) Đội An toàn thực phẩm chịu sự chỉ đạo trực tiếp, toàn diện về quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp xã. Tại Ủy ban nhân dân cấp xã, giao Phòng Văn hóa – Xã hội chức năng tham mưu quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm cho Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Theo đó, Đội An toàn thực phẩm chịu sự chỉ đạo, điều hành về quản lý nhà nước của Phòng Văn hóa – Xã hội. Trong quá trình giám sát, kiểm tra cơ sở, khi phát hiện vi phạm, Đội An toàn thực phẩm lập biên bản vi phạm chuyển cho Phòng Văn hoá – Xã hội tham mưu cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ra quyết định xử phạt.

b) Đội An toàn thực phẩm phối hợp với các cơ quan chức năng của Ủy ban nhân dân cấp xã như Công an, Trạm y tế xã, phường trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ được giao.

PHẦN IV
PHƯƠNG ÁN TỔ CHỨC THỰC HIỆN

I. Tuyên truyền, phổ biến, quán triệt chủ trương, định hướng của Trung ương, Chính phủ về sắp xếp, tinh gọn bộ máy của ngành ATTP

Bộ Y tế phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tổ chức quán triệt, nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận, chuyển biến tích cực về tư tưởng và hành động trong việc hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất một đầu mối từ Trung ương đến địa phương theo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư tại Thông báo số 15-TB/BCĐTW ngày 17/3/2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật; Nghị quyết số 89/NQ-CP ngày 05/4/2026 của Chính phủ về Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3 năm 2026 và Hội nghị Chính phủ với địa phương;

II. Rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan đến sắp xếp tổ chức, bộ máy của ngành ATTP

1. Bộ Y tế phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ và các Bộ, ngành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật liên quan để chuẩn bị nội dung, tham mưu Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ chủ trì, phối hợp với Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội và các cơ quan liên quan lãnh đạo, chỉ đạo việc hoàn thiện pháp luật về quản lý an toàn thực phẩm đồng thời, bảo đảm phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ công tác giữa các cơ quan thực hiện chức năng quản lý an toàn thực phẩm. Nhất là, sửa đổi Luật An toàn thực phẩm theo hướng thống nhất một đầu mối từ Trung ương đến địa phương.

2. Bộ Y tế phối hợp với Bộ Nội vụ, Văn phòng Bộ Y tế xây dựng dự thảo Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy mới.

III. Công tác nhân sự

1. Bộ Y tế phối hợp với Bộ Nội vụ và các Bộ, ngành liên quan tiến hành tổ chức, sắp xếp các đơn vị quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của các Bộ chuyên ngành về Cục An toàn thực phẩm theo Đề án.

2. Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố phối hợp với Bộ Nội vụ và Bộ Y tế tiến thành thành lập Sở An toàn thực phẩm và tổ chức, sắp xếp các đơn vị quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm của các Sở chuyên ngành về Sở An toàn thực phẩm theo Đề án.

3. Đảng ủy cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp với Sở Nội vụ và Sở An toàn thực phẩm tiến thành thành lập Đội An toàn thực phẩm theo Đề án.

PHẦN V
LỘ TRÌNH THỰC HIỆN

I. Năm 7/2026 – 12/2026: Hoàn thiện pháp lý và chuẩn bị chuyển đổi

1. Cấp Trung ương

- Cục An toàn thực phẩm tham mưu Bộ Y tế hoàn thiện và trình Quốc hội ban hành Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), trong đó quy định rõ cơ quan đầu mối quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm và vai trò phối hợp của các Bộ, ngành, cơ quan có liên quan.

- Bộ Y tế căn cứ vào nội dung của Đề án, phối hợp với với Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công Thương xác định các chức năng, nhiệm vụ, nhân sự và cơ sở vật chất (nếu có) liên quan đến công tác quản lý an toàn thực phẩm dự kiến chuyển sang Cục An toàn thực phẩm; sau đó xây dựng chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và nhân sự của Cục An toàn thực phẩm sau khi sắp xếp, hoàn thiện lại;

2. Cấp Tỉnh

- Căn cứ vào nội dung của Đề án này, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng Đề án thành lập Sở An toàn thực phẩm trực thuộc trên cơ sở đơn vị sẵn có của ngành Y tế tuyến tỉnh được giao đầu mối phụ trách quản lý an toàn thực phẩm, tiếp nhận thêm một số chức năng, nhiệm vụ, nhân sự và cơ sở vật chất (nếu có) liên quan đến công tác quản lý an toàn thực phẩm của Sở Công Thương và Sở Nông nghiệp và Môi trường.

- Trong trường hợp UBND cấp tỉnh căn cứ vào các tiêu chỉ lựa chọn thành lập Chi cục An toàn thực phẩm trực thuộc Sở Y tế, xây dựng Đề án thành lập Chi cục An toàn thực phẩm với các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mô hình tổ chức được quy định tương tự như Sở An toàn thực phẩm nhưng trên cơ sở vị trí pháp lý Chi cục An toàn thực phẩm trực thuộc Sở Y tế.

3. Cấp Xã

- Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng Đề án thành lập Đội An toàn thực phẩm là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, có con dấu, tài khoản riêng, có phương tiện chuyên dụng riêng với chức năng, nhiệm vụ thực thi, bao gồm giám sát, kiểm tra, lập biên bản xử lý vi phạm về an toàn thực phẩm.

II. Tháng 1/2027 – 7/2027

Căn cứ Đề án thành lập được phê duyệt, các đơn vị đi vào hoạt động một cách đồng bộ theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị.

III. Năm 2027 – 2030

Đánh giá và hoàn thiện mô hình và đề xuất các giải pháp cải thiện hiệu quả bộ máy.

PHẦN VI
KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT

I. Bộ Chính trị

Xem xét, thống nhất chủ trương và ban hành Nghị quyết về việc thống nhất một đầu mối quản lý nhà nước về ATTP từ Trung ương đến địa phương.

II. Quốc hội

Xem xét đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh việc sửa đổi, bổ sung Luật Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Thanh tra nhằm pháp điển hóa vai trò, vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ khi thành lập các cơ quan một đầu mối mới thuộc Chính quyền các cấp, bao gồm các vấn đề khung số lượng Sở thuộc Ủy ban nhân dân các cấp; chức năng quyền hạn của các tổ chức hành chính, sự nghiệp; số lượng biên chế tối thiểu…

III. Chính phủ

1. Ban hành Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương sau khi có chủ trương của Bộ Chính trị;

2. Quy định rõ giai đoạn chuyển tiếp để các Bộ cũ phối hợp chặt chẽ với Cơ quan mới, tránh khoảng trống pháp lý trong quản lý thị trường và xuất nhập khẩu.

IV. Các Bộ, ngành liên quan

1. Bộ Nội vụ: Chủ trì, phối hợp với các Bộ liên quan thẩm định biên chế, cơ cấu công chức, viên chức; hướng dẫn thủ tục điều chuyển, sắp xếp nhân sự và giải quyết chế độ chính sách cho đối tượng chịu tác động do tổ chức, sắp xếp lại.

2. Bộ Tư pháp: Chủ trì rà soát, tham mưu cho Chính phủ phương án xử lý các văn bản quy phạm pháp luật (Thông tư, Nghị định) chồng chéo, hết hiệu lực hoặc cần sửa đổi ngay khi cơ quan mới đi vào hoạt động.

3. Các Bộ chuyên ngành: Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương:

a) Chủ động phối hợp, rà soát, thống kê và lập phương án bàn giao chi tiết về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, nhân sự và nguồn lực bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm vụ trên.

b) Bộ Y tế chủ trì xây dựng các quy chế phối hợp giữa 3 Bộ trong giai đoạn chuyển tiếp để không làm ách tắc hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và lưu thông thực phẩm trong nước.

4. Bộ Tài chính: Hướng dẫn thủ tục quyết toán, bàn giao tài sản công, trụ sở làm việc; bố trí nguồn kinh phí thường xuyên và kinh phí đầu tư công trung hạn để cơ quan mới sớm ổn định hoạt động.

V. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

1. Về mô hình địa phương:

Đề xuất UBND các tỉnh, thành phố chuẩn bị phương án thành lập Sở An toàn thực phẩm trực thuộc UBND cấp tỉnh hoặc Chi cục An toàn thực phẩm trực thuộc Sở Y tế để đảm bảo tính đồng bộ, thông suốt theo ngành dọc từ Trung ương đến địa phương.

2. Về nhân lực và ngân sách địa phương:

a) Bố trí, sắp xếp lại lực lượng quản lý an toàn thực phẩm cấp xã.

b) Ưu tiên bố trí ngân sách địa phương để đầu tư trang thiết bị, phương tiện cho lực lượng quản lý an toàn thực phẩm cấp xã.

3. Về thông tin, truyền thông:

Chỉ đạo hệ thống thông tin cơ sở tăng cường tuyên truyền, tạo sự đồng thuận trong dư luận xã hội và cộng đồng doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn về việc thay đổi mô hình quản lý mới.

(Có các Phụ lục 1, 2, 3, 4, 5 kèm theo)

PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Sơ đồ hệ thống quản lý ATTP theo ngành dọc của ngành Y tế

photo-1779683082562

Phụ lục 2: 

Sơ đồ hệ thống quản lý ATTP theo ngành dọc của ngành Nông nghiệp và Môi trường

photo-1779683083811


Phụ lục 3: 
Sơ đồ hệ thống quản lý ATTP theo ngành dọc của ngành Công Thương

photo-1779683084500

Phụ lục 4: 
Sơ đồ hệ thống quản lý ATTP theo hướng một đầu mối từ Trung ương đến địa phương

photo-1779683085010

Phụ lục 5: 
Mối quan hệ giữa các đơn vị trong hệ thống quản lý ATTP theo hướng một đầu mối từ Trung ương đến địa phương

photo-1779683085604