In bài viết

GDP QUÝ II ƯỚC ĐẠT 8,39%; 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2026 TĂNG TRƯỞNG 8,18%

19:49 - 03/07/2026

(Chinhphu.vn) - Báo cáo tình hình - Quý II và sáu tháng đầu năm 2026 của Cục Thống kê cho biết, GDP quý II/2026 đạt mức tăng trưởng khá, với tốc độ tăng ước đạt 8,39% so với cùng kỳ năm trước; GDP sáu tháng đầu năm 2026 tăng 8,18%.

GDP quý II/2026 đạt mức tăng trưởng khá

Cục Thống kê Bộ Tài chính công bố Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội Quý II và sáu tháng đầu năm 2026. Theo đó, Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2026 đạt mức tăng trưởng khá, với tốc độ tăng ước đạt 8,39% so với cùng kỳ năm trước; GDP sáu tháng đầu năm 2026 tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2026 đạt mức tăng trưởng khá, với tốc độ tăng ước đạt 8,39% so với cùng kỳ năm trước. 

Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,06%, đóng góp 5,65% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế.

Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,51%, đóng góp 50,07%; khu vực dịch vụ tăng 7,87%, đóng góp 44,28%.

GDP sáu tháng đầu năm 2026 tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 7,63%). 

Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,87%, đóng góp 5,66%. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,81%, đóng góp 47,20%; khu vực dịch vụ tăng 8,09%, đóng góp 47,14%.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp duy trì tăng trưởng ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đồng thời thị trường xuất khẩu nông sản tiếp tục được mở rộng. 

Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp sáu tháng đầu năm 2026 tăng 3,57% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 3,83% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,98%, đóng góp 0,27%; ngành thủy sản tăng 4,88%, đóng góp 1,56%.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp duy trì mức tăng trưởng tích cực nhờ các động lực tăng trưởng được củng cố, sự phục hồi đơn hàng xuất khẩu và hiệu ứng lan tỏa tích cực của đầu tư công. 

Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp sáu tháng đầu năm 2026 tăng 9,86% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 40,35% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. 

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng 10,23%, đóng góp 33,07%. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,34%, đóng góp 5,14%. 

Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,72%, đóng góp 0,54%. Ngành khai khoáng tăng 6,67%, đóng góp 1,60%. Ngành xây dựng tăng 9,51%, đóng góp 6,85%.

Trong khu vực dịch vụ, hoạt động thương mại, vận tải, du lịch đạt mức tăng trưởng khá nhờ nhu cầu tiêu dùng tăng cao, hoạt động lưu thông hàng hóa và đi lại của người dân sôi động, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ sáu tháng đầu năm 2026 tăng 8,09% so với cùng kỳ năm trước. 

Đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế như sau: Ngành vận tải, kho bãi tăng 10,18% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 7,73%; bán buôn và bán lẻ tăng 9,67%, đóng góp 13,51%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,05%, đóng góp 2,73%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,97%, đóng góp 4,71%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 8,99%, đóng góp 1,81%.

Về cơ cấu nền kinh tế sáu tháng đầu năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,61%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,66%; khu vực dịch vụ chiếm 43,52%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,21% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2025 là 11,28%; 36,82%; 43,59%; 8,31%).

Về sử dụng GDP sáu tháng đầu năm 2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,15% so với cùng kỳ năm 2025, tích lũy tài sản tăng 15,20%, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 20,18%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 26,44%.

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Nông nghiệp

Lúa đông xuân: Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước năm 2026 đạt 2.932,1 nghìn ha, giảm 37,7 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước; năng suất ước đạt 69,8 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha; sản lượng đạt 20,5 triệu tấn, tăng 88,1 nghìn tấn.

Lúa hè thu: Tính đến ngày 20/6/2026, các địa phương trên cả nước đã xuống giống được 1.712,2 nghìn ha lúa hè thu, bằng 95,7% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.144,1 nghìn ha, bằng 94,4%.

Cây hằng năm: Cùng với gieo cấy lúa, các địa phương trên cả nước tiến hành gieo trồng cây hoa màu. Trong đó, diện tích một số cây như ngô, lạc, rau các loại giảm so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do hiệu quả kinh tế không cao.

Cây lâu năm: Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 3.847,1 nghìn ha, tăng 22,5 nghìn ha so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, nhóm cây ăn quả đạt 1.312,0 nghìn ha, tăng 10,5 nghìn ha; nhóm cây công nghiệp đạt 2.191,0 nghìn ha, tăng 6,0 nghìn ha.

Chăn nuôi: Đàn lợn và gia cầm phát triển ổn định. Đàn trâu, bò trong tháng có xu hướng giảm. Ước tính tổng số lợn của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng Sáu tăng 2,2% so với cùng thời điểm năm 2025; tổng số gia cầm tăng 3,1%; tổng số bò giảm 2,8%; tổng số trâu giảm 6,6%.

Lâm nghiệp

Trong quý II/2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 99,7 nghìn ha, giảm 5,6% so với cùng kỳ năm trước; diện tích rừng bị thiệt hại là 284,9 ha, giảm 54,9%. 

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 145,7 nghìn ha, giảm 3,5% so với cùng kỳ năm trước; diện tích rừng bị thiệt hại là 347,0 ha rừng bị thiệt hại, giảm 59,1%.

Thủy sản

Sản lượng thủy sản quý II/2026 ước đạt 2.739,9 nghìn tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản ước đạt 4.954,2 nghìn tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 2.993,1 nghìn tấn, tăng 5,7%; sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 1.961,1 nghìn tấn, tăng 0,6%.

Sản xuất công nghiệp: IIP quý II ước tăng 11,2%

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý II/2026 ước tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, IIP ước tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 8,7%). 

Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 11,4% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,5%), đóng góp 8,9 điểm phần trăm vào mức tăng chung. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,6% (cùng kỳ năm 2025 tăng 4,1%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm. 

Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,9% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,7%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm. Ngành khai khoáng tăng 5,8% (cùng kỳ năm 2025 giảm 3,5%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm.

Chỉ số sản xuất công nghiệp sáu tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương.

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6/2026 tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,8% so với cùng kỳ năm 2025 (cùng kỳ năm 2025 tăng 9,8%).

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/6/2026 tăng 5,3% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 13,3% so với cùng thời điểm năm trước. Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân sáu tháng đầu năm 2026 là 82,2% (bình quân cùng kỳ năm 2025 là 85,7%).

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/6/2026 tăng 1,0% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,1% so với cùng thời điểm năm trước.

Hoạt động của doanh nghiệp

Trong tháng Sáu, cả nước có hơn 16,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 1,1% so với tháng trước và giảm 31,0% so với cùng kỳ năm trước; 13,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 49,5% và giảm 5,4%; 7.245 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 7,4% và tăng 12,6%; 9.989 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 23,6% và giảm 0,7%; 4.959 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 29,4% và tăng 79,6%.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, cả nước có 169,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân một tháng có 28,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. 

Số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là 151,1 nghìn doanh nghiệp, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước; bình quân một tháng có gần 25,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II/2026 cho thấy: Có 36,3% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý I/2026; dự kiến quý III/2026, có 39,4% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý II/2026.

Hoạt động dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng Sáu ước đạt 665,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026 ước đạt 1.977,6 nghìn tỷ đồng, tăng 3,4% so với quý trước và tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước. 

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 3.889,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,3% (cùng kỳ năm 2025 tăng 7,4%).

Vận tải hành khách tháng Sáu ước đạt 618,9 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 29,4 tỷ lượt khách.km, tăng 10,0%; quý II/2026 ước đạt 1.810,2 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 23,2% và luân chuyển đạt 86,0 tỷ lượt khách.km, tăng 12,6%. 

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 3.403,1 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 170,7 tỷ lượt khách.km, tăng 12,2%.

Vận tải hàng hóa tháng Sáu ước đạt 272,1 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 55,7 tỷ tấn.km, tăng 6,0%; quý II/2026 ước đạt 810,6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 12,1% và luân chuyển 166,3 tỷ tấn.km, tăng 9,9%. 

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 1.619,4 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 321,2 tỷ tấn.km, tăng 10,0%.

­­­­Doanh thu hoạt động viễn thông quý II/2026 ước đạt 102,9 nghìn tỷ đồng, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, d­­oanh thu hoạt động viễn thông 205,8 nghìn tỷ đồng, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,9%).

Khách quốc tế đến Việt Nam tháng Sáu đạt 1,68 triệu lượt người, giảm 5,7% so với tháng trước và tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước, quý II năm 2026 ước đạt 5,49 triệu lượt khách, tăng 18,2%. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 12,3 triệu lượt người, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước.

Số lượt người Việt Nam xuất cảnh trong quý II/2026 là 1,5 triệu lượt người, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, số lượt người Việt Nam xuất cảnh đạt 2,7 triệu lượt người, giảm 33,9% so với cùng kỳ năm trước.

Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán

Tính đến thời điểm 26/6/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 5,02% (cùng thời điểm năm trước tăng 6,11%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 7,41% (cùng thời điểm năm trước tăng 8,3%).

Thị trường bảo hiểm duy trì đà tăng trưởng ổn định. Tổng doanh thu phí bảo hiểm quý II/2026 ước đạt 60,4 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 117,9 nghìn tỷ đồng, tăng 2,2%.

Tính từ đầu năm đến nay, giá trị giao dịch bình quân trên thị trường cổ phiếu đạt 29.314,7 tỷ đồng/phiên, tương đương với bình quân năm 2025; giá trị giao dịch bình quân trên thị trường trái phiếu đạt 17.072 tỷ đồng/phiên, tăng 11,5%; trên thị trường chứng khoán phái sinh, khối lượng giao dịch bình quân đạt 241.454 hợp đồng/phiên, tương đương với bình quân năm 2025.

Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý II/2026 theo giá hiện hành ước đạt 1.059,5 nghìn tỷ đồng, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội sáu tháng đầu năm theo giá hiện hành ước đạt 1.807,8 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 30/6/2026 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61,0% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam sáu tháng đầu năm 2026 ước đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong sáu tháng đầu năm 2026 có 94 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 820,3 triệu USD, gấp 2,3 lần so với cùng kỳ năm trước; có 15 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 388,9 triệu USD, gấp 3 lần. Tính chung sáu tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 1,21 tỷ USD, gấp 2,5 lần so với cùng kỳ năm trước.