Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Nghị định về hợp đồng công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập.
Theo dự thảo tờ trình của Bộ Nội vụ, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ, các đơn vị sự nghiệp công lập đang phát sinh nhu cầu ngày càng lớn đối với đội ngũ nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia tiêu biểu và nhân sự có trình độ chuyên môn cao nhằm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược quốc gia, nhiệm vụ nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và cung cấp dịch vụ công chất lượng cao.
Thực tiễn cho thấy, việc huy động nguồn nhân lực chất lượng cao từ khu vực tư nhân hoặc từ thị trường lao động quốc tế thông qua cơ chế hợp đồng là giải pháp phù hợp, cho phép tận dụng tri thức và kinh nghiệm chuyên sâu mà không làm phát sinh biên chế hưởng lương thường xuyên từ ngân sách nhà nước.
Cơ chế này góp phần nâng cao tính linh hoạt trong sử dụng nhân lực, đồng thời tạo điều kiện thu hút "chất xám" tham gia khu vực công theo nhu cầu nhiệm vụ cụ thể.
Theo chủ trương đổi mới cơ chế hoạt động và tăng cường tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập, các đơn vị cần có hành lang pháp lý đủ linh hoạt để chủ động quyết định số lượng, vị trí việc làm và đối tượng ký kết hợp đồng phù hợp với nhu cầu thực tế cũng như khả năng tài chính của đơn vị.
Việc mở rộng cơ chế hợp đồng giúp giảm sự phụ thuộc vào mô hình quản lý nhân sự mang tính hành chính truyền thống, chuyển dần sang mô hình quản trị hiện đại dựa trên hiệu quả và kết quả đầu ra. Đồng thời, cơ chế này nâng cao trách nhiệm giải trình và trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu trong việc sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính và nhân lực được giao.
Quá trình triển khai các chương trình chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và phát triển các ngành công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), công nghiệp bán dẫn, công nghệ sinh học… đặt ra nhu cầu cấp thiết về sự tham gia của đội ngũ chuyên gia công nghệ cao.
Đặc thù của nhóm nhân lực này là thường làm việc trong môi trường linh hoạt, theo dự án hoặc theo sản phẩm đầu ra.
Vì vậy, cơ chế hợp đồng lao động và hợp đồng dịch vụ, bao gồm cả hình thức giao kết điện tử, cho phép đơn vị sự nghiệp công lập nhanh chóng huy động chuyên gia trong thời gian nhất định mà không bị ràng buộc bởi quy trình tuyển dụng viên chức truyền thống vốn kéo dài và kém linh hoạt.
Thực hiện chủ trương xã hội hóa dịch vụ công, đơn vị sự nghiệp công lập cần từng bước chuyển đổi phương thức tổ chức thực hiện đối với các công việc mang tính hỗ trợ, phục vụ như lái xe, bảo vệ, vệ sinh, bảo trì cơ sở vật chất và các dịch vụ hậu cần khác.
Việc ưu tiên sử dụng hợp đồng dịch vụ hoặc thuê khoán ngoài đối với các vị trí này giúp tinh gọn bộ máy, giảm chi phí quản trị nhân sự trực tiếp, đồng thời cho phép đơn vị tập trung nguồn lực vào chức năng chuyên môn, nghiệp vụ cốt lõi và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công.
Qua quá trình triển khai, Nghị định số 111/2022/NĐ-CP đã bộc lộ một số hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới quản trị khu vực công và chưa hoàn toàn tương thích với các định hướng Luật Viên chức năm 2025.
Do đó, từ những cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn nêu trên việc ban hành nghị định về hợp đồng công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập là cần thiết để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; tháo gỡ các vướng mắc trong thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng; hoàn thiện cơ chế tiền lương theo thỏa thuận để thu hút, giữ chân nhân tài; tạo khuôn khổ pháp lý minh bạch, linh hoạt nhưng vẫn bảo đảm kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình.
Nghị định này quy định về thực hiện hợp đồng lao động và hợp đồng dịch vụ đối với một số loại công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền thành lập theo quy định của pháp luật; cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự, cơ quan đại diện tại tổ chức quốc tế, cơ quan khác của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện theo quy định của pháp luật về cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài và quy định tại Nghị định; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quyết định việc áp dụng quy định tại Nghị định này để ký kết hợp đồng lao động, hợp đồng dịch vụ thực hiện công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc, trực thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.
Dự thảo Nghị định gồm gồm 03 Chương và 18 Điều, trong đó:
Chương I: Quy định chung (gồm 12 Điều, từ Điều 1 đến Điều 12) quy định về: Phạm vi điều chỉnh; Đối tượng áp dụng; Nguyên tắc thực hiện; Các loại công việc thực hiện thông qua hợp đồng; Đối tượng ký kết hợp đồng; Thẩm quyền ký kết hợp đồng; Số lượng hợp đồng ký kết; Hình thức hợp đồng, loại hợp đồng và thời hạn ký kết; Các trường hợp không ký kết hợp đồng; Tiêu chuẩn, điều kiện của các bên ký kết hợp đồng; Quyền, nghĩa vụ của các bên ký hợp đồng; Quy trình thực hiện ký kết hợp đồng.
Chương II: Kinh phí thực hiện (gồm 2 Điều, Điều 13 và Điều 14) quy định về: Kinh phí đối với hợp đồng thực hiện công việc quản lý, công việc chuyên môn, nghiệp vụ và công việc hỗ trợ; Kinh phí đối với hợp đồng phục vụ.
Chương III: Tổ chức thực hiện (gồm 4 Điều, từ Điều 15 đến Điều 18) quy định về: Điều khoản chuyển tiếp; Trách nhiệm thực hiện; Hiệu lực thi hành; Trách nhiệm thi hành.
Các quy định tại dự thảo Nghị định bám sát ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Dự thảo Nghị định là nội dung hướng dẫn thực hiện Điều 21 Luật Viên chức số 129/2025 về hợp đồng lao động và hợp đồng dịch vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó đó tập trung vào các nội dung:
- Các loại công việc được thực hiện thông qua hợp đồng; Đối tượng ký kết hợp đồng;
- Thẩm quyền ký hợp đồng; Số lượng hợp đồng ký kết; Hình thức hợp đồng, loại hợp đồng và thời hạn ký kết; Các trường hợp không ký kết hợp đồng;
- Quy định về tiêu chuẩn, điều kiện của các bên ký kết hợp đồng; Quyền, nghĩa vụ của các bên ký hợp đồng;
-Quy trình thực hiện ký kết hợp đồng;
- Kính phí thực hiện và trách nhiệm thi hành.
Những nội dung quan trọng tại dự thảo Nghị định
Nguyên tắc thực hiện: Bảo đảm thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn cao nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập; thúc đẩy xã hội hóa, đẩy mạnh thực hiện kết hợp công - tư về nhân lực. Người làm việc theo chế độ hợp đồng trong đơn vị sự nghiệp công lập không thuộc biên chế, số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
-Công việc ở vị trí việc làm quản lý.
-Công việc ở vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ.
-Công việc ở vị trí việc làm hỗ trợ cho công tác quản lý và hoạt động chuyên môn nghiệp vụ.
Công việc nêu trên được xác định trong Danh mục vị trí việc làm được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Công việc phục vụ cho hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm: Lái xe, bảo vệ; Lễ tân, phục vụ; tạp vụ; trông giữ phương tiện; bảo trì, bảo dưỡng, vận hành trụ sở, trang thiết bị, máy móc phục vụ hoạt động của đơn vị; Công việc phục vụ khác.
Đối tượng ký kết hợp đồng, gồm:
-Chuyên gia, nhà quản trị doanh nghiệp, doanh nhân tiêu biểu, xuất sắc trong các lĩnh vực phù hợp với nhiệm vụ;
-Luật gia, luật sư, chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành, lĩnh vực phù hợp với nhiệm vụ.
- Người có trình độ chuyên môn cao trong các ngành lĩnh vực chiến lược, trọng điểm phù hợp với sự phát triển của đơn vị sự nghiệp công lập.
- Đối tượng quy định tại khoản 1 nêu trên;
-Người có kinh nghiệm, am hiểu về chuyên môn, nghiệp vụ và đã từng triển khai trực tiếp các nhiệm vụ cụ thể có tính chất tương tự;
-Người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện đáp ứng theo yêu cầu của vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ hoặc vị trí việc làm hỗ trợ.
-Pháp nhân đáp ứng được tiêu chuẩn, điều kiện cung ứng dịch vụ.
-Người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện đáp ứng theo yêu cầu của vị trí việc làm phục vụ;
-Pháp nhân đáp ứng được tiêu chuẩn, điều kiện cung ứng dịch vụ.
Thời hạn ký kết hợp đồng phải căn cứ vào nhiệm vụ, gồm: tính chất nhiệm vụ (đột xuất, kế hoạch hằng năm, dài hạn hoặc ngắn hạn); nhu cầu sử dụng nhân lực; điều kiện kinh phí thực hiện nhiệm vụ; khả năng đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ; theo công việc và thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự, được xác định rõ trong hợp đồng.
Người đứng đầu cơ quan quản lý đơn vị sự nghiệp công lập quyết định ký kết hợp đồng đối với vị trí việc làm là người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập; quyết định ký kết hợp đồng đối với vị trí việc làm cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập hoặc phân cấp, ủy quyền cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập.
Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quyết định ký kết hợp đồng đối với vị trí việc làm cấp phó của đơn vị sự nghiệp công lập theo phân cấp, ủy quyền; quyết định ký kết hợp đồng hoặc ủy quyền thực hiện ký kết hợp đồng đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu các đơn vị thuộc, trực thuộc; các vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ, hỗ trợ và công việc phục vụ cho hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập
Đơn vị sự nghiệp công lập tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư (sau đây gọi là đơn vị nhóm 1) và đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên (sau đây gọi là đơn vị nhóm 2) quyết định ký kết hợp đồng theo nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực của đơn vị.
Trường hợp pháp luật có quy định về số lượng viên chức tối thiểu của đơn vị cung cấp dịch vụ công cơ bản, thiết yếu thì phải bảo đảm đủ số lượng theo quy định.
Đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (sau đây gọi là đơn vị nhóm 3) từ 70% đến dưới 100% ký kết hợp đồng ở vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ và vị trí việc làm hỗ trợ đối với số còn thiếu so với định mức số lượng người làm việc do bộ quản lý ngành, lĩnh vực ban hành.
Đối với đơn vị tự bảo đảm dưới 70% chi thường xuyên hoặc đơn vị chưa được giao quyền tự chủ tài chính thì phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền quản lý thống nhất trước khi thực hiện.
Đơn vị sự nghiệp công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên (sau đây gọi là đơn vị nhóm 4), trừ đơn vị thuộc lĩnh vực sự nghiệp giáo dục và y tế, ký kết hợp đồng đối với số còn thiếu so với số lượng người làm việc được cấp có thẩm quyền giao hoặc để kịp thời thay cho số viên chức nghỉ thai sản, thôi việc, nghỉ hưu.
Đơn vị nhóm 4 thuộc lĩnh vực sự nghiệp giáo dục và y tế ký kết hợp đồng lao động làm công việc ở vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ, nhưng số lượng người ký kết hợp đồng lao động chiếm không quá 70% số chênh lệch giữa số lượng người có mặt với số lượng theo định mức do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế ban hành. Số lượng hợp đồng ký kết do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh hoặc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan quản lý ở Trung ương xem xét, quyết định.
Đơn vị nhóm 1 và nhóm 2. Kinh phí thực hiện hợp đồng được bảo đảm từ nguồn kinh phí tự bảo đảm của đơn vị theo quy định của pháp luật về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.
Đơn vị nhóm 3 sử dụng nguồn thu hoạt động sự nghiệp để thực hiện hợp đồng; ngân sách nhà nước hỗ trợ (nếu có), bảo đảm không làm tăng tổng chi thường xuyên từ nguồn ngân sách nhà nước theo quy định.
Đối với đơn vị nhóm 4 (trừ đơn vị nhóm 4 thuộc lĩnh vực giáo dục và y tế): Kinh phí thực hiện hợp đồng được bố trí trong nguồn kinh phí chi thường xuyên theo quy định của pháp luật về cơ chế tự chủ tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập.
Đơn vị nhóm 4 thuộc lĩnh vực giáo dục và y tế: Kinh phí thực hiện hợp đồng đối với số lao động hợp đồng do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định theo quy định tại khoản 4 Điều 7 Nghị định này được bố trí từ nguồn kinh phí chi thường xuyên ngân sách địa phương (ngoài kinh phí giao tự chủ của đơn vị).
Đối với các đơn vị trực thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan quản lý ở Trung ương do ngân sách trung ương bảo đảm theo quy định của pháp luật về phân cấp ngân sách.
Bộ Nội vụ xây dựng Danh mục vị trí công việc hỗ trợ và định mức lao động áp dụng đối với vị trí việc làm hỗ trợ áp dụng đối với đơn vị nhóm 3 và đơn vị nhóm 4.
Bộ Tài chính ban hành giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng ngân sách nhà nước để làm căn cứ cấp kinh phí; xác định nguồn kinh phí chi trả cho công việc ở vị trí việc làm hỗ trợ (không tính trong kinh phí chi thường xuyên của đơn vị).
Tại dự thảo Nghị định quy định không ký hợp đồng ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, an ninh chính trị nội bộ, phòng chống khủng bố, phản gián, bảo vệ bí mật nhà nước, các nhiệm vụ có vị trí trọng yếu cơ mật. Trường hợp thật cần thiết phải ký hợp đồng để thực hiện nhiệm vụ thì phải lấy ý kiến thống nhất của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trước khi tổ chức thực hiện việc ký hợp đồng.