Nghị định quy định về quản lý mỹ phẩm, bao gồm: sản xuất mỹ phẩm tại Việt Nam; công bố sản phẩm mỹ phẩm; quản lý sản phẩm mỹ phẩm nhập khẩu và cấp Giấy chứng nhận lưu hành tự do cho sản phẩm mỹ phẩm xuất khẩu; hồ sơ thông tin sản phẩm, ghi nhãn và quảng cáo mỹ phẩm; kiểm tra, giám sát và bảo đảm an toàn, chất lượng sản phẩm mỹ phẩm; thu hồi sản phẩm mỹ phẩm, thu hồi Số quản lý và ngừng tiếp nhận hồ sơ công bố.
Dự thảo Nghị định quy định về quản lý mỹ phẩm gồm 09 Chương, 49 Điều gồm:
- Chương I - Quy định chung;
- Chương II - Sản xuất mỹ phẩm tại Việt Nam;
- Chương III - Công bố sản phẩm mỹ phẩm;
- Chương IV - Quản lý sản phẩm mỹ phẩm nhập khẩu và cấp Giấy chứng nhận lưu hành tự do cho sản phẩm mỹ phẩm xuất khẩu;
- Chương V - Hồ sơ thông tin sản phẩm mỹ phẩm, ghi nhãn và quảng cáo mỹ phẩm;
- Chương VI - Kiểm tra, giám sát và bảo đảm an toàn, chất lượng mỹ phẩm;
- Chương VII - Thu hồi sản phẩm mỹ phẩm, thu hồi Số quản lý và ngừng tiếp nhận hồ sơ công bố;
- Chương VIII - Tổ chức thực hiện;
- Chương IX - Điều khoản thi hành.
Dự thảo Nghị định sửa đổi, hoàn thiện nhiều nội dung liên quan đến: Yêu cầu về chất lượng và an toàn của sản phẩm; Sản xuất mỹ phẩm tại Việt Nam; Công bố sản phẩm mỹ phẩm; Quản lý sản phẩm mỹ phẩm nhập khẩu và cấp Giấy chứng nhận lưu hành tự do cho sản phẩm mỹ phẩm xuất khẩu; Hồ sơ thông tin sản phẩm mỹ phẩm, ghi nhãn và quảng cáo sản mỹ phẩm.
Dự thảo Nghị định cũng quy định nội dung cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính.
04 thủ tục hành chính về xác nhận nội dung quảng cáo:
+ Cấp mới Giấy xác nhận nội dung quảng cáo;
+ Cấp lại Giấy xác nhận nội dung quảng cáo (mất, hư hỏng);
+ Cấp lại Giấy xác nhận nội dung quảng cáo hết hiệu lực;
+ Cấp lại Giấy xác nhận nội dung quảng cáo khi thay đổi thông tin hành chính;
- 01 thủ tục hành chính về phê duyệt Đơn hàng nhập khẩu mỹ phẩm dùng cho nghiên cứu, kiểm nghiệm
- Bổ sung 01 thủ tục thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm theo đề nghị của cơ sở sản xuất đã được cấp Giấy chứng nhận. Thủ tục này nhằm ghi nhận quyền chủ động của cơ sở trong trường hợp không còn nhu cầu tiếp tục hoạt động sản xuất mỹ phẩm hoặc đề nghị chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận; đồng thời tạo cơ sở pháp lý để cơ quan quản lý cập nhật trạng thái pháp lý của Giấy chứng nhận và thông tin của cơ sở trên Hệ thống cơ sở dữ liệu về mỹ phẩm.
- Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện 05 thủ tục hành chính để tạo thuận lợi cho việc triển khai, thực hiện trên thực tế cũng như bảo đảm các yêu cầu về cải cách thủ tục hành chính.
Trong đó, các nội dung đơn giản hoá thủ tục hành chính gồm:
+ Thủ tục công bố sản phẩm mỹ phẩm (sản xuất trong nước và nhập khẩu): chuyển hoàn toàn từ tiền kiểm sang hậu kiểm, rút ngắn thời gian thực hiện công bố sản phẩm mỹ phẩm còn 03 ngày làm việc kể từ thời điểm cơ sở công bố hoàn thành nghĩa vụ nộp phí, bảo đảm tính khả thi trong tổ chức thực hiện đối với từng trường hợp thực hiện thủ tục hành chính gồm:
(1) Đối với hồ sơ nộp trực tuyến: thực hiện tiếp nhận hồ sơ, xác nhận nghĩa vụ nộp phí, phân công xử lý, phát hành Số quản lý và cập nhật dữ liệu trên hệ thống
(2) Đối với hồ sơ nộp trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính trong giai đoạn hệ thống chưa vận hành đồng bộ: thực hiện các bước hành chính như vào sổ, chuyển, phân công xử lý, số hóa tài liệu, đối chiếu chứng từ nộp phí và phát hành Số quản lý, cập nhật dữ liệu lên hệ thống.
Bên cạnh đó, việc xác định thời điểm tính thời hạn từ khi cơ sở công bố nộp đủ hồ sơ và hoàn thành nghĩa vụ nộp phí cũng nhằm bảo đảm tính minh bạch, khả thi trong vận hành thủ tục hành chính.
Trường hợp cho phép tiếp nhận, xử lý hồ sơ khi chưa hoàn thành nghĩa vụ phí có thể làm phát sinh hồ sơ tồn đọng, hồ sơ không tiếp tục thực hiện, làm tăng số lượng hồ sơ không có nhu cầu xử lý thực tế trên hệ thống, gây khó khăn cho công tác quản lý, thống kê và vận hành dữ liệu.
+ Thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm: Thống nhất một điều kiện và thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất và Giấy chứngnhận CGMP (doanh nghiệp được đề nghị cấp Giấy chứng nhận CGMP khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất);
+ Thủ tục cấp CFS đối với sản phẩm mỹ phẩm sản xuất trong nước để xuất khẩu: Giảm thành phần hồ sơ cấp CFS (chỉ cần văn bản đề nghị cấp CFS). Cho phép CFS là bản giấy hoặc bản điện tử, được đồng bộ, cập nhật lên Hệ thống cơ sở dữ liệu về mỹ phẩm hoặc các hệ thống thông tin điện tử theo quy định./.













































































