In bài viết

Quy định số 212-QĐ/TW: Thời hiệu kỷ luật đối với tổ chức, đảng viên vi phạm

18:09 - 06/09/2026

(Chinhphu.vn) - Bộ Chính trị ban hành Quy định số 212-QĐ/TW ngày 17/8/2026 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Trong đó quy định rõ về thời hiệu kỷ luật.

Quy định số 212-QĐ/TW quy định nội dung vi phạm và hình thức kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật.

Quy định áp dụng đối với tổ chức đảng (gồm cả tổ chức đảng đã hết nhiệm kỳ hoạt động, đã giải thể, kết thúc hoạt động, thay đổi do chuyển giao, chia tách, sáp nhập, hợp nhất) và đảng viên (gồm cả đảng viên bị tuyên bố mất tích, đảng viên đã qua đời nhưng có vi phạm đặc biệt nghiêm trọng, đảng viên ở nước ngoài).

Thời hiệu kỷ luật

Tại Điều 4, Quy định số 212-QĐ/TW quy định cụ thể thời hiệu kỷ luật đối với tổ chức, đảng viên vi phạm như sau:

1. Thời hiệu kỷ luật là thời hạn được quy định trong Quy định này mà khi hết thời hạn đó thì tổ chức đảng, đảng viên vi phạm không bị kỷ luật.

2. Thời hiệu kỷ luật được tính từ thời điểm có hành vi vi phạm đến khi tổ chức đảng có thẩm quyền kết luận vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật.

Trường hợp tổ chức đảng hoặc đảng viên có hành vi vi phạm mới trong thời hạn được quy định tại Điểm b, c Khoản này thì thời hiệu kỷ luật đối với vi phạm cũ được tính lại kể từ thời điểm xảy ra hành vi v phạm mới.

a) Thời điểm có hành vi vi phạm phải được tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, làm rõ, kết luận; xác định như sau:

- Đối với hành vi vi phạm xác định được thời điểm chấm dứt thì thời điểm có hành vi vi phạm được tính từ thời điểm chấm dứt.

- Đối với hành vi vi phạm không xác định được thời điểm chấm dứt thì thời điểm có hành vi vi phạm được tính từ thời điểm có kết luận của cấp có thẩm quyền.

b) Thời hiệu kỷ luật tổ chức đảng vi phạm như sau:

- 5 năm (60 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khiển trách.

-10 năm (120 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức cảnh cáo.

- Không áp dụng thời hiệu kỷ luật đối với những vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức kỷ luật giải tán; vi phạm về chính trị nội bộ; vi phạm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

c) Thời hiệu kỷ luật đảng viên vi phạm như sau:

- 5 năm (60 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khiển trách.

-10 năm (120 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức.

- Không áp dụng thời hiệu kỷ luật đối với những vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khai trừ; vi phạm chính trị nội bộ; vi phạm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc; việc sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp.

d) Không tính vào thời hiệu kỷ luật đối với các trường hợp quy định tại Điểm a, b, d Khoản 14 Điều 2 Quy định này.

Điểm a, b, d Khoản 14 Điều 2 quy định trường hợp chưa xem xét, xử lý kỷ luật, không kỷ luật, miễn kỷ luật như sau:

a) Đảng viên là nữ giới đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hoặc đảng viên là nam giới (trường hợp vợ chết hoặc vì lý do khách quan, bất khả kháng khác) đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì chưa xem xét, xử lý kỷ luật, trừ trường hợp đảng viên đó có văn bản đề nghị xem xét, xử lý kỷ luật.

b) Đảng viên đang trong thời gian điều trị bệnh hiểm nghèo hoặc đang mất khả năng nhận thức hoặc bị ốm nặng đang điều trị nội trú tại bệnh viện, có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền (bệnh viện đa khoa khu vực và tương đương trở lên) thì chưa xem xét xử lý kỷ luật; khi sức khỏe ổn định (được ra viện) mới xem xét, xử lý kỷ luật.

d) Đảng viên bị tuyên bố mất tích nếu phát hiện vi phạm vẫn phải xem xét, kết luận nhưng chưa xử lý kỷ luật, khi phát hiện đảng viên đó còn sống thì thi hành kỷ luật theo quy định.