In bài viết

Quy định mới về khấu trừ thuế thu nhập cá nhân

15:28 - 03/07/2026

(Chinhphu.vn) - Khấu trừ thuế được quy định tại Nghị định 253/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức hướng dẫn, thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân (Điều 50).

1. Trừ các đối tượng quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, khi tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập cho người nộp thuế phải thực hiện khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân căn cứ vào:

a) Thu nhập tính thuế tháng (đối với các khoản thu nhập do tổ chức, cá nhân chi trả, chi trả thay cho cá nhân);

b) Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 9 của Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Biểu thuế luỹ tiến từng phần được quy định như sau:

Bậc thuế

Phần thu nhập tính thuế/năm
(triệu đồng)

Phần thu nhập tính thuế/tháng
(triệu đồng)

Thuế suất (%)

1

Đến 120

Đến 10

5

2

Trên 120 đến 360

Trên 10 đến 30

10

3

Trên 360 đến 720

Trên 30 đến 60

20

4

Trên 720 đến 1.200

Trên 60 đến 100

30

5

Trên 1.200

Trên 100

35

2. Tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.

Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan khác.

Căn cứ vào cam kết của cá nhân, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp cho cơ quan thuế.

Đối với cá nhân cư trú ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế lũy tiến từng phần theo quy định tại khoản 1 Điều này, kể cả trường hợp cá nhân ký hợp đồng từ 03 tháng trở lên tại nhiều nơi.

3. Một số trường hợp cụ thể như sau:

a) Trường hợp người lao động được thưởng bằng cổ phiếu hoặc mua cổ phiếu với giá ưu đãi theo kế hoạch phát hành cổ phiếu theo chương trình lựa chọn cho người lao động (ESOP) thì chưa phải tính vào thu nhập từ tiền lương, tiền công khi nhận cổ phiếu. Khi nhận được thu nhập từ chuyển nhượng số cổ phiếu này, cá nhân phải nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công; đồng thời, khi chuyển nhượng cá nhân phải thực hiện nộp thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán quy định tại Điều 54 của Nghị định này. Trường hợp chuyển nhượng cổ phiếu cùng loại thì phải nộp thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công cho tới khi hết số cổ phiếu thưởng, cổ phiếu ESOP.

Căn cứ xác định thu nhập chịu thuế của cổ phiếu thưởng quy định tại điểm này là số tiền chi cho người lao động ghi trên sổ sách kế toán của tổ chức trả thu nhập tại thời điểm thưởng. Trường hợp không xác định được số tiền chi cho người lao động ghi trên số sách kế toán của tổ chức trả thu nhập thì thu nhập chịu thuế được xác định bằng số lượng cổ phiếu thực nhận nhân (x) với mệnh giá, nếu giá chuyển nhượng cổ phiểu thấp hơn mệnh giá thì thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ cổ phiếu được thưởng tính theo giá thị trường tại thời điểm chuyển nhượng.

Căn cứ xác định thu nhập chịu thuế của cổ phiếu ESOP quy định tại điểm này là số tiền chi cho người lao động ghi trên sổ sách kế toán của tổ chức trả thu nhập tại thời điểm phát hành cổ phiếu ESOP. Trường hợp không xác định được số tiền chi cho người lao động ghi trên sổ sách kế toán của tổ chức trả thu nhập thì thu nhập chịu thuế được xác định bằng số lượng cổ phiếu thực nhận nhân (x) với mệnh giá trừ (-) đi số tiền người lao động đã bỏ ra để mua cổ phiếu ESOP, nếu phát sinh chênh lệch âm thì cá nhân không phải nộp thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công đối với cổ phiếu ESOP.

Cá nhân nhận cổ phiếu thưởng, cổ phiếu ESOP có trách nhiệm kê khai đầy đủ nguồn gốc và giá trị thực hưởng của cổ phiếu thưởng, cổ phiếu ESOP khi thực hiện lưu ký cổ phiểu tại công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại nơi cá nhân mở tài khoản lưu ký. Công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại nơi cá nhân mở tài khoản lưu ký theo dõi riêng số cổ phiếu được thưởng, cổ phiếu ESOP của cá nhân và thực hiện việc khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ theo tỷ lệ 10% tương ứng với thu nhập chịu thuế từ cổ phiếu được thưởng, cổ phiếu ESOP của cá nhân. Cá nhân tổng hợp thu nhập từ cổ phiếu được thưởng, cổ phiếu ESOP vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công trong năm tính thuế để thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân theo quy định.

b) Trường hợp người sử dụng lao động mua cho người lạo động bảo hiểm nhân thọ (không bao gồm bảo hiểm hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện), bảo hiểm không bắt buộc khác có tích lũy về phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, người lao động chưa phải tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công khi người sử dụng lao động mua bảo hiểm. Đến thời điểm đáo hạn hợp đồng, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ theo tỷ lệ 10% trên khoản tiền phí tích lũy tương ứng với phần người sử dụng lao động mua cho người lao động từ ngày 01 tháng 7 năm 2013. Đối với phần phí bảo hiểm nhân thọ từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, tiền phí tích lũy tính trên phần vượt mức quy định tại điểm a khoản 2 Điều 46 của Nghị định này. Trường hợp khoản phí tích luỹ được trả nhiều lần thì tiền thuế được khấu trừ theo tỷ lệ 10% tương ứng với từng lần trả tiền phí tích lũy. Cá nhân không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.

Người sử dụng lao động có trách nhiệm xác định phần phí bảo hiểm nhân thọ từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 vượt mức quy định tại điểm a khoản 2 Điều 46 của Nghị định này để thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm. Trường hợp người lao động tham gia cả bảo hiểm hưu trí bổ sung theo Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ thì mức được trừ tối đa 03 triệu đồng/tháng áp dụng trên tổng tiền đóng cho các loại hình này, người sử dụng lao động tự phân bổ mức được trừ tối đa 03 triệu đồng/tháng vào một hoặc nhiều hình thức bảo hiểm do người lao động lựa chọn.

Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm theo dõi riêng phần phí bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm không bắt buộc khác do người sử dụng lao động mua hoặc đóng góp cho người lao động để làm căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân.

Trường hợp người sử dụng lao động mua cho người lao động bảo hiểm nhân thọ (không bao gồm bảo hiểm hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện), bảo hiểm không bắt buộc khác có tích lũy về phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm không thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam được phép bán bảo hiểm tại Việt Nam thì người sử dụng lao động có trách nhiệm khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ theo tỷ lệ 10% trên khoản tiền phí bảo hiểm đã mua hoặc đóng góp vượt mức quy định tại điểm a khoản 2 Điều 46 của Nghị định này trước khi trả lương cho người lao động. Cá nhân không phải quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.

c) Đối với cá nhân là người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập (kể cả trường hợp tổ chức, cá nhân là bên Việt Nam hoàn trả chi phí tiền lương, tiền công cho bên nước ngoài) căn cứ vào thời gian làm việc tại Việt Nam của người nộp thuế ghi trên Hợp đồng hoặc văn bản cử sang làm việc tại Việt Nam để khấu trừ thuế theo Biểu lũy tiến từng phần (đối với cá nhân có thời gian làm việc tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế) hoặc theo quy định tại Điều 64 của Nghị định này (đối với cá nhân có thời gian làm việc tại Việt Nạm dưới 183 ngày trong năm tính thuế). Cá nhân cư trú là người nước ngoài kết thúc hợp đồng làm việc tại Việt Nam trước khi xuất cảnh phải quyết toán thuế với cơ quan thuế hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác quyết toán thuế và chịu trách nhiệm về nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân phải nộp.