Luật Thi hành án hình sự năm 2025 được xây dựng trên cơ sở kế thừa, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 51/2024/QH15 và Luật số 86/2025/QH15).
Trong đó, Luật Thi hành án hình sự năm 2025 bổ sung 11 điều, gồm các điều 20, 21, 34, 35, 53, 67, 88, 97, 113, 174 và 178, quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã, đơn vị quân đội trong quản lý, giám sát, giáo dục người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù; nghĩa vụ của người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù; về giải quyết trường hợp phạm nhân có nguyện vọng hiến mô, bộ phận cơ thể người; về giải quyết trường hợp người chấp hành án tại cộng đồng có nguyện vọng làm việc, học tập ngoài nơi cư trú; về nội dung quản lý nhà nước về thi hành án hình sự; sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 4 của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Việc bổ sung này nhằm giải quyết khó khăn trong thực tiễn, hoàn thiện quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, đơn vị, nhất là Công an cấp xã trong công tác thi hành án hình sự tại cộng đồng theo mô hình tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị và hoàn thiện quy định về quyền, nghĩa vụ, chế độ của người chấp hành án.
Luật Thi hành án hình sự năm 2025 bãi bỏ 16 điều của Luật Thi hành án hình sự hiện hành, gồm các điều 5, 7, 8 , 19, 20, 21, 47, 175, 195, 196, 199, 200, 201, 202, 203 và 204 quy định về trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án hình sự; về kiểm sát việc thi hành án hình sự; về phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án hình sự; về nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội trong thi hành án hình sự; về thi hành quyết định tiếp nhận, chuyển giao đối với người đang chấp hành án phạt tù; về trách nhiệm của các bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong quản lý công tác thi hành án hình sự. Việc bỏ các quy định này để phù hợp với quy định của các luật liên quan, không quy định lại những nội dung tại các luật khác; bảo đảm việc thực hiện chủ trương phân cấp, phân quyền; không quy định những nội dung thuộc thẩm quyền của Chính phủ, các bộ, ngành.
Đồng thời, Luật đã sửa đổi, hoàn thiện các quy định của Luật Thi hành án hình sự hiện hành bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật; bảo đảm phù hợp với cơ cấu, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị được quy định tại các luật khác như: Nghị quyết số 203/2025/QH15 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Luật Tổ chức chính quyền địa phương (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân...; tăng cường phân cấp, phân quyền, giải quyết những tồn tại, khó khăn trong thực tiễn hiện nay và đáp ứng yêu cầu công tác thi hành án hình sự trong thời gian tới.
Những nội dung lớn được sửa đổi, hoàn thiện gồm:
1. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 xác định rõ phạm vi điều chỉnh bao trùm toàn bộ hoạt động thi hành án hình sự, bao gồm nguyên tắc, trình tự, thủ tục, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành bản án, quyết định về án phạt tù, tử hình, trục xuất, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, án treo, tha tù trước thời hạn có điều kiện, hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, cấm huy động vốn, biện pháp tư pháp; quyền, nghĩa vụ của người, pháp nhân thương mại chấp hành án hình sự, biện pháp tư pháp; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong thi hành án hình sự, biện pháp tư pháp; hợp tác quốc tế trong thi hành án hình sự.
So với Luật hiện hành, Luật Thi hành án hình sự năm 2025 bổ sung quyết định của Viện kiểm sát tại Điều 4 về bản án, quyết định được thi hành. Việc quy định rõ phạm vi này phù hợp thực tiễn, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng bộ trong tổ chức thi hành.
2. Tiếp tục kế thừa các khái niệm, nguyên tắc cơ bản của Luật hiện hành, đồng thời, có sự chỉnh lý, bổ sung quan trọng. Luật bổ sung khái niệm người thân thích của người chấp hành án, thi hành quyết định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, sửa đổi, bổ sung một số khái niệm để bảo đảm thống nhất trong Luật và các luật liên quan. Luật kế thừa các nguyên tắc xuyên suốt bao gồm: tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nghiêm cấm mọi hành vi tra tấn, bức cung, nhục hình, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo; kết hợp giữa cưỡng chế và giáo dục, cải tạo; bảo đảm sự giám sát của xã hội và kiểm sát của Viện kiểm sát nhân dân.
Luật bổ sung quy định về nguyên tắc ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong thi hành án hình sự (khoản 8 Điều 4). So với Luật năm 2019, đây là bước tiến quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho việc hiện đại hóa hoạt động thi hành án hình sự, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thủ tục và hạn chế tiêu cực trong công tác thi hành án hình sự.
3. Sửa đổi, bổ sung quy định về hệ thống tổ chức thi hành án hình sự trên cơ sở kế thừa quy định về hệ thống tổ chức thi hành án hình sự trong Luật Thi hành án hình sự hiện hành, trong đó, bỏ quy định về Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, bổ sung Công an cấp xã là cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự; đồng thời, sửa đổi, bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, trại giam, trại tạm giam.
Luật cũng sửa đổi, bổ sung quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp xã theo hướng:
(i) Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân, người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người chấp hành hình phạt quản chế;
(ii) Công an cấp xã có nhiệm vụ trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, kiểm soát, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân, người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người chấp hành hình phạt quản chế.
Quy định này trong Luật phù hợp với quy định trong các luật khác và đáp ứng yêu cầu thực tiễn về thi hành án hình sự trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp.
4. Luật bổ sung quy định về thi hành quyết định thi hành án phạt tù tại Điều 17; trong đó, bổ sung các quy định:
(1) trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đưa người chấp hành án đi chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu hoặc trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng phải hoàn chỉnh hồ sơ và chuyển người chấp hành án đến cơ sở giam giữ phạm nhân để thi hành án, trừ trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan ;
(2) đối với người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam mà có thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại dưới 03 tháng kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án thì chấp hành án tại cơ sở giam giữ đang giam giữ họ;
(3) Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, người chấp hành án phải có mặt tại trụ sở Công an cấp xã hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu được chỉ định trong quyết định thi hành án để làm thủ tục đi chấp hành án; quá thời hạn này mà người đó không có mặt thì Trưởng Công an cấp xã, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định áp giải thi hành án, trừ trường hợp do tình trạng khẩn cấp, lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Quy định này xuất phát từ thực tiễn, nhằm bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả, tính hợp lý, giảm chi phí, tránh xáo trộn không cần thiết trong quản lý giam giữ.
5. Bổ sung quy định phạm nhân có quyền được hiến mô, một phần bộ phận cơ thể, được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật về hiến mô, bộ phận cơ thể người và sửa đổi, bổ sung quy định về nghĩa vụ của phạm nhân theo hướng phạm nhân có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự trong quá trình thi hành án hình sự và các quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến bản án mà phạm nhân đang chấp hành án tại Điều 23.
6. Bổ sung quy định khi tiếp nhận người chấp hành án phạt tù, trại giam, trại tạm giam có trách nhiệm tổ chức thu thập thông tin sinh trắc học của phạm nhân gồm mống mắt, ADN, giọng nói đối với những trường hợp chưa có thông tin" khi tiếp nhận người chấp hành án phạt tù và kết quả thu thập thông tin được chia sẻ cho cơ quan quản lý căn cước để cập nhật, điều chỉnh vào Cơ sở dữ liệu căn cước tại Điều 24.
7. Sửa đổi, bổ sung quy định về giam giữ phạm nhân tại Điều 26, trong đó bổ sung quy định trong trường hợp để bảo đảm chế độ ở của phạm nhân, Giám thị trại giam có thể bố trí giam phạm nhân có mức án phạt tù từ 15 năm trở xuống, phạm nhân có mức án phạt tù trên 15 năm đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù và thời hạn chấp hành án còn lại dưới 15 năm, phạm nhân thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, đã chấp hành một phần hai thời hạn chấp hành án phạt tù và đã được giảm thời hạn chấp hành án tại khu giam giữ đối với phạm nhân có mức án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân, phạm nhân thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nhưng không được giam cùng buồng với phạm nhân có mức án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm; bổ sung quy định bố trí giam giữ riêng đối với phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình trong thời gian chờ đưa đi giám định pháp y, pháp y tâm thần, chờ kết quả giám định và quyết định của Tòa án.
8. Sửa đổi, bổ sung quy định về chế độ lao động của phạm nhân, tổ chức lao động cho phạm nhân và sử dụng kết quả lao động của phạm nhân tại các điều 28, 29 và 30; trong đó, cụ thể hơn quyền, nghĩa vụ lao động của phạm nhân không phân biệt chấp hành án tại trại giam hay trại tạm giam; bổ sung quy định trại giam tổ chức cho phạm nhân lao động trong và ngoài trại giam nhằm giáo dục cải tạo, rèn luyện kỹ năng lao động, góp phần chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng trên cơ sở quy định của Nghị quyết số 54/2022/QH15 ngày 16/6/2022 của Quốc hội về thí điểm mô hình tổ chức hoạt động lao động, hướng nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân ngoài trại giam và quy định cụ thể các các trường hợp phạm nhân không được đưa ra lao động, hướng nghiệp, dạy nghề ngoài trại giam.
9. Sửa đổi, bổ sung quy định về xếp loại chấp hành án theo hướng không lấy kết quả khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của phạm nhân gây ra để nhận xét, đánh giá và xếp loại quá trình chấp hành án phạt tù của phạm nhân tại Điều 31.
10. Sửa đổi, bổ sung quy định về khen thưởng, xử lý phạm nhân vi phạm tại Điều 39 và Điều 41 theo hướng bổ sung hình thức tặng giấy khen đối với phạm nhân, bổ sung quy định về khen thưởng đối với tổ, đội phạm nhân; phạm nhân được khen thưởng có thể được nâng mức xếp loại chấp hành án phạt tù và được đề nghị xét nâng mức giảm thời hạn chấp hành án phạt tù theo quy định của pháp luật; khi xem xét kỷ luật phạm nhân, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam xét thấy có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì có thể tăng hoặc hạ hình thức kỷ luật hoặc không xử lý kỷ luật mà áp dụng hình thức xử lý phù hợp.
11. Bổ sung trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã, trong việc tổ chức thực hiện giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù, người được đặc xá, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện tái hòa nhập cộng đồng bằng các biện pháp như dạy nghề, vay vốn, tìm việc làm, các biện pháp hỗ trợ khác…; Công an cấp xã tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện công tác tái hòa nhập cộng đồng, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm việc triển khai các chính sách liên quan đến tái hòa nhập cộng đồng có hiệu quả tại Điều 43.
12. Sửa đổi, bổ sung quy định về chế độ ăn, mặc, ở sinh hoạt, chăm sóc y tế đối với phạm nhân tại các điều 45, 47, 48, 49, 50, 51, 52 theo hướng bảo đảm hơn chế độ của phạm nhân, trong đó, có một số nội dung đáng chú ý như bổ sung quy định về phạm nhân gặp người thân thích, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác, thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự bằng hình thức trực tuyến; bổ sung quy định kết nối hình ảnh, âm thanh bằng phương tiện điện tử với người thân thích ở trong nước; bổ sung quy định đối với trường hợp phạm nhân có thẻ bảo hiểm y tế thì tiếp tục được hưởng quyền lợi về bảo hiểm y tế theo quy định, nếu vượt quá định mức chi trả của bảo hiểm y tế thì Nhà nước chi trả phần vượt quá; bổ sung quy định phạm nhân được nhận và sử dụng các loại thuốc phòng bệnh, chữa bệnh theo chỉ định của bác sĩ, y sĩ tại cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi đã được khám và điều trị bệnh khi được sự đồng ý của Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam…
13. Bổ sung quy định cụ thể điều kiện để phạm nhân được hiến mô, bộ phận cơ thể, bao gồm đủ các điều kiện sau: tự nguyện hiến mô, bộ phận cơ thể; chỉ được hiến mô cho, bộ phận cơ thể cho người thân thích; đủ điều kiện sức khỏe để hiến mô, bộ phận cơ thể và bảo đảm sức khỏe để tiếp tục chấp hành án sau khi hiến mô, bộ phận cơ thể; tự chịu chi phí; chỉ áp dụng với phạm nhân phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thời gian chấp hành án còn lại dưới 03 năm.
14. Sửa đổi, bổ sung quy định về tha tù trước thời hạn có điều kiện, thi hành án treo, thi hành án phạt cải tạo không giam giữ, thi hành án phạt cấm cư trú, quản chế, thi hành án phạt tước một số quyền công dân, thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh theo hướng quy định cụ thể hơn về trình tự, thủ tục thực hiện; rút ngắn thời gian thực hiện các trình tự, thủ tục trong thi hành án hình sự, thi hành biện pháp tư pháp của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án hình sự (Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan Thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số hoạt động thi hành án hình sự); rút ngắn thời hạn giải quyết các thủ tục của Tòa án khi áp dụng chính sách khoan hồng (hoãn, tạm đình chỉ, giảm, miễn chấp hành án) tại các điều 32, 37, 63, 100, 101, 107, 115 của Luật. Đồng thời, bên cạnh việc sửa đổi quy định về số lượng thẩm phán tham gia phiên họp để thực hiện các thủ tục xét áp dụng các quy định về khoan hồng đối với người chấp hành án (từ 03 xuống còn 01 thẩm phán), Luật đã quy định tách bạch thời hạn từng hoạt động để bảo đảm tính khả thi, như: thời hạn Chánh án phân công thẩm phán; thời hạn Thẩm phán tổ chức phiên họp và ra quyết định, gửi quyết định…
15. Sửa đổi, bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân, Công an cấp xã theo hướng:
(1) Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân, người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người chấp hành hình phạt quản chế;
(2) Công an cấp xã có nhiệm vụ trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý, kiểm soát, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân, người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người chấp hành hình phạt quản chế và Trưởng Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo định kỳ hoặc theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
16. Sửa đổi, bổ sung quy định về thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh tại Chương IX, trong đó, bổ sung đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong thực hiện các thủ tục đưa người vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để bắt buộc chữa bệnh tại khoản 1 Điều 135 của Luật, gồm: cơ quan đang giải quyết vụ án trong giai đoạn điều tra hoặc trại giam, trại tạm giam trong giai đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong trường hợp hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù; đồng thời, bổ sung nội dung quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, trách nhiệm của từng cơ quan trong quá trình tiếp nhận người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh tại khoản 2 Điều 135 theo hướng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được Viện kiểm sát hoặc Tòa án chỉ định có trách nhiệm tiếp nhận người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh và hồ sơ kèm theo, lập biên bản giao nhận.
Cơ quan có trách nhiệm đưa người vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải thông báo cho gia đình của người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh về nơi người đó đang chữa bệnh; khi tiếp nhận người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được chỉ định có trách nhiệm sau đây:
(1) kiểm tra thông tin để xác định đúng người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền;
(2) lập biên bản giao nhận người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh; biên bản bàn giao hồ sơ, tài liệu;
(3) tổ chức khám sức khỏe cho người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh. Trường hợp chưa đủ hồ sơ theo quy định thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh yêu cầu cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cung cấp đầy đủ.
17. Sửa đổi, bổ sung quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về thi hành án hình sự; trong đó, (1) sửa đổi, bổ sung quy định về trách nhiệm của Bộ Công an theo hướng là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về thi hành án hình sự; phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng hướng dẫn việc phối hợp trong thi hành án hình sự; xây dựng mẫu thiết kế cơ sở giam giữ phạm nhân, ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng các hạng mục công trình trại giam và các hệ thống khác phục vụ quản lý cơ sở giam giữ của trại giam thuộc Bộ Công an quản lý; Bộ trưởng Bộ Công an căn cứ yêu cầu quản lý người bị tạm giữ, tạm giam và yêu cầu quản lý giam giữ để quyết định đưa người chấp hành án phạt tù có thời hạn từ 05 năm trở xuống không phải là người dưới 18 tuổi, người nước ngoài, người mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hoặc nghiện ma túy chấp hành án tại trại tạm giam, phân trại tạm giam thuộc trại tạm giam để phục vụ việc tạm giữ, tạm giam và tổ chức lao động, học nghề. Số lượng người chấp hành án phạt tù phục vụ việc tạm giữ, tạm giam được tính theo tỷ lệ trên tổng số người bị tạm giữ, tạm giam hoặc tổng số quy mô giam giữ nhưng không vượt quá 15%;
(2) Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ Công an quản lý nhà nước về thi hành án hình sự trong Quân đội nhân dân; xây dựng mẫu thiết kế cơ sở giam giữ phạm nhân, ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng các hạng mục công trình trại giam và các hệ thống khác phục vụ quản lý cơ sở giam giữ của trại giam thuộc Bộ Quốc phòng quản lý; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng căn cứ yêu cầu quản lý người bị tạm giữ, tạm giam trong các cơ sở giam giữ phạm nhân của Bộ Quốc phòng để quyết định đưa người chấp hành án phạt tù có thời hạn từ 05 năm trở xuống không phải là người dưới 18 tuổi, người nước ngoài, người mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hoặc nghiện ma túy chấp hành án tại trại tạm giam, phân trại tạm giam thuộc trại tạm giam để phục vụ việc tạm giữ, tạm giam và tổ chức lao động, học nghề.
18. Sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 4 của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng bổ sung trường hợp miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động tổ chức lao động, hướng nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân.
19. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026; Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và Nghị quyết số 54/2022/QH15 ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Quốc hội thí điểm mô hình tổ chức hoạt động lao động, hướng nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân ngoài trại giam hết hiệu lực kể từ ngày 01/7/2026.
Đồng thời, Luật quy định chuyển tiếp đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà đến ngày Luật có hiệu lực thi hành chưa được thi hành hoặc chưa thi hành xong thì áp dụng các quy định của Luật để thi hành; đối với việc thi hành bản án, quyết định theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 mà đến ngày Luật có hiệu lực thi hành còn khiếu nại, tố cáo hoặc kháng nghị của Viện kiểm sát thì việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kháng nghị được áp dụng theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019; các khu lao động, hướng nghiệp, dạy nghề ngoài trại giam đã được phê duyệt, thành lập theo quy định của Nghị quyết số 54/2022/QH15 được tiếp tục hoạt động đến hết thời hạn có hiệu lực của hợp đồng hợp tác đã được ký kết giữa trại giam với tổ chức hợp tác. Kể từ ngày Luật có hiệu lực thi hành, việc gia hạn hợp đồng hợp tác áp dụng theo quy định của Luật này.