
Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 - Ảnh: VGP/Nguyễn Hoàng
Tham dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 có: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (dự tại điểm cầu Tây Ninh), nguyên Chủ tịch nước Lương Cường; Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, nguyên Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, cơ quan, đơn vị;…
Hội nghị được kết nối trực tuyến tới 36.323 điểm cầu ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã, cơ quan, đơn vị với gần 2,2 triệu đảng viên tham dự tại các điểm cầu.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đại biểu dự Hội nghị - Ảnh: VGP/Nguyễn Hoàng
Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 sẽ nghe 5 chuyên đề. Cụ thể là:
- Chuyên đề Quy định thi hành Điều lệ Đảng do đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương trình bày.
- Chuyên đề về những vấn đề mới, cốt lõi của Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 07/4/2026 về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; Quy định số 21-QĐ/TW, ngày 11/4/2026 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng do đồng chí Trần Sỹ Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương trình bày.

Các đại biểu tham dự Hội nghị - Ảnh: VGP/Nguyễn Hoàng
- Chuyên đề những nội dung cơ bản của quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng do đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương trình bày.
- Chuyên đề Nghị quyết về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới do đồng chí Lê Minh Trí, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương trình bày.
- Chuyên đề về kết luận số 18-KL/TW, ngày 02/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số" do đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương trình bày.
Cuối cùng, Hội nghị nghe phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương trình bày Chuyên đề Quy định thi hành Điều lệ Đảng - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Trình bày chuyên đề Quy định thi hành Điều lệ Đảng, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc cho biết, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu lần thứ XIV của Đảng; căn cứ đề xuất của các cấp ủy trực thuộc Trung ương, cơ quan, đơn vị ở Trung ương và ý kiến góp ý của các cấp ủy trực thuộc Trung ương, các ban, cơ quan, đơn vị của Đảng ở Trung ương; sau khi xem xét, Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thông qua Quy định thi hành Điều lệ Đảng.
Ngày 08/4/2026, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Quy định số 20-QĐ/TW về thi hành Điều lệ Đảng (thay thế Quy định số 294-QĐ/TW, ngày 26/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII).
Quy định thi hành Điều lệ Đảng (Quy định số 20-QĐ/TW) được xây dựng trên cơ sở bám sát các nguyên tắc: Bảo đảm tuân thủ Điều lệ Đảng. Sửa đổi, bổ sung những nội dung đã được thực tế chứng minh là đúng, được đa số cấp ủy, tổ chức đảng đồng tình đề xuất và thuộc thẩm quyền quy định của Ban Chấp hành Trung ương.
Cập nhật, bổ sung một số nội dung mới, quan trọng liên quan đến thi hành Điều lệ Đảng đã được Trung ương đề ra trong nhiệm kỳ khóa XIII và một số nội dung thực tiễn đặt ra, cần Trung ương cho chủ trương thí điểm thực hiện để tổng kết, rút kinh nghiệm.
Quy định gồm 33 mục, trong đó, giữ 12 mục như Quy định 294 và bổ sung, sửa đổi một số nội dung cụ thể về trình độ học vấn của người vào Đảng; về thời hạn tổ chức lễ kết nạp và công nhận đảng viên chính thức; về xử lý các trường hợp kết nạp người vào Đảng và công nhận đảng viên chính thức sai quy định; về phát thẻ và quản lý, sử dụng thẻ đảng viên; về việc đảng viên xin miễn công tác và sinh hoạt đảng; thời hạn hoàn thành giải quyết khiếu nại về xóa tên đảng viên; quy chế làm việc của cấp ủy; thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình; một số quy định về hệ thống tổ chức của Đảng; cấp ủy triệu tập đại hội quyết định và thông báo thời gian khai mạc đại hội đối với những đảng bộ thành lập mới, chia tách, hợp nhất, sáp nhập; tham gia đoàn đại biểu dự đại hội của đại biểu chính thức chuyển công tác và sinh hoạt đảng đến đơn vị mới; số lượng ủy viên ban thường vụ cấp ủy mỗi cấp; thành viên đoàn chủ tịch đại hội; tặng huy hiệu Đảng; tài chính của Đảng…
Cho biết một số nội dung mới, trọng tâm của Quy định thi hành Điều lệ Đảng so với Quy định số 294, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc đề nghị, sau hội nghị này, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị nghiêm túc nghiên cứu, học tập và quán triệt toàn văn Quy định.
Đồng thời cho biết, để các nội dung quy định đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, cùng với Quy định thi hành Điều lệ Đảng, Ban Bí thư cũng sẽ ban hành Hướng dẫn một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng, Ban Tổ chức Trung ương ban hành các hướng dẫn chi tiết có liên quan về nghiệp vụ; đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị thực hiện nghiên cứu, học tập, quán triệt sâu sắc, tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, đồng bộ Quy định, hướng dẫn của Trung ương, bảo đảm giữ vững nguyên tắc của Đảng; tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện, xử lý những khó khăn, vướng mắc phát sinh theo thẩm quyền và báo cáo với Trung ương những vấn đề vượt thẩm quyền.
Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc đề nghị các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của Trung ương, cấp ủy các cấp khẩn trương tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy hoàn thành việc thể chế hóa, cụ thể hóa nội dung Quy định thi hành Điều lệ Đảng thành các quy định, hướng dẫn để thực hiện thống nhất trong Quý II/2026.
Trong đó tập trung vào sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các quy định, quyết định, hướng dẫn về điều động, chỉ định cấp ủy viên; về mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, quy chế làm việc mẫu của các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh để làm rõ thành phần tập thể thường trực và cơ chế phân cấp, ủy quyền; làm rõ ranh giới trách nhiệm giữa tập thể cấp ủy, ban thường vụ và tập thể thường trực, bảo đảm thống nhất về thẩm quyền, phạm vi ủy quyền, quy trình thực hiện, chế độ báo cáo, cũng như cơ chế kiểm soát quyền lực, tránh tình trạng lạm quyền hoặc buông lỏng lãnh đạo.
Hướng dẫn và đôn đốc triển khai các nội dung về phương pháp, quy trình, thủ tục, nghiệp vụ, tiêu chuẩn dữ liệu, bảo mật thông tin và việc tổ chức sinh hoạt đảng trên môi trường số để bảo đảm tính thống nhất, chặt chẽ, an toàn thông tin và giữ vững nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, đồng thời, tạo thuận lợi cho các cấp ủy, cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy triển khai thực hiện chuyển đổi số trong hoạt động của các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị của Đảng.
Nghiên cứu kỹ lưỡng, mạnh dạn đề xuất Bộ Chính trị cho thực hiện thí điểm một số mô hình tổ chức, cách làm mới phù hợp với đặc điểm, tình hình cụ thể của địa phương.
Chủ động rà soát, cụ thể hóa Quy định, Hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng, các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, các ban, cơ quan của Đảng ở Trung ương thành các quy định, quyết định, quy trình, hướng dẫn cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn vị để thực hiện.
Đồng thời, căn cứ quy định này và các hướng dẫn có liên quan, chỉ đạo, hướng dẫn các chi bộ trực thuộc đã tổ chức đại hội nhiệm kỳ 2025 - 2027 khẩn trương rà soát, điều chỉnh, xây dựng, bổ sung phương hướng, nhiệm vụ, chương trình hành động của chi bộ nhiệm kỳ 2025 - 2030 trên cơ sở cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, nghị quyết của đại hội đảng bộ cấp trên cho phù hợp; xem xét kiện toàn nhân sự bí thư, phó bí thư, chi ủy viên nhằm bảo đảm tính liên tục, thống nhất trong lãnh đạo, điều hành và thực hiện nhiệm vụ chính trị của chi bộ; nội dung này hoàn thành trong quý II/2026.
"Việc Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV ban hành Quy định thi hành Điều lệ Đảng lần này là bước chuẩn bị rất quan trọng cho việc tổng kết thực tiễn, đề xuất bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng cùng với bổ sung, sửa đổi Cương lĩnh Chính trị xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Đại hội XV của Đảng vào dịp 100 năm thành lập Đảng ta (1930 - 2030) theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng", đồng chí Nguyễn Duy Ngọc phát biểu.

Đồng chí Trần Sỹ Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương trình bày Chuyên đề Nghị quyết - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV do Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức diễn ra vào sáng 13/4, các đại biểu nghe đồng chí Trần Sỹ Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương trình bày Chuyên đề Nghị quyết về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; Quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.
Đồng chí Trần Sỹ Thanh cho biết, Hội nghị lần thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thành công rất tốt đẹp. Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành 02 văn bản có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc "định vị" vị trí của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, đó là:
- Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 07/4/2026 về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng (thay thế Nghị quyết Trung ương 5 khóa X);
- Quy định số 21-QĐ/TW, ngày 11/4/2026 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng (thay thế Quy định số 296-QĐ/TW, ngày 30/5/2025).
Hai văn bản này chính là "hành lang pháp lý", "nền móng vận hành" công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng cho cả nhiệm kỳ Đại hội XIV và giai đoạn mới; thể hiện bước phát triển mới về tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn của Đảng ta trong công tác kiểm tra, giám sát, đáp ứng yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen.
Nghị quyết về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng đã xác định các quan điểm chỉ đạo, mang tính đột phá, cốt lõi, nền tảng cho tư duy và hành động của cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp.
Nghị quyết mới xác định mục tiêu của công tác kiểm tra, giám sát, đó là: Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát gắn với kiểm soát quyền lực; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, "lợi ích nhóm", sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ; giữ vững kỷ luật, kỷ cương, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, năng lực quản lý, quản trị quốc gia vì sự phát triển của đất nước.
Về nhiệm vụ, giải pháp, trên cơ sở quan điểm chỉ đạo, để đạt được mục tiêu đề ra, Nghị quyết đã xác định 06 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian tới, trong đó nhấn mạnh tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên đối với công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; nâng cao chất lượng nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; hoàn thiện hệ thống quy định của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; đổi mới tư duy, phương pháp công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, gắn kiểm tra, giám sát với các phương thức kiểm soát quyền lực bảo đảm giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng.
Quy định số 21-QĐ/TW, ngày 11/4/2026 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng (thay thế Quy định số 296-QĐ/TW, ngày 30/5/2025), đồng chí Trần Sỹ Thanh cho biết, Quy định gồm 7 Chương, 35 Điều kế thừa cơ bản nội dung Quy định số 296-QĐ/TW, có bổ sung, lược bỏ một số nội dung không còn phù hợp, đảm bảo đồng bộ, thống nhất với Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các quy định mới của Trung ương, pháp luật của Nhà nước với các điểm mới nổi bật như: bổ sung nguyên tắc tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban kiểm tra các cấp; phân cấp, tăng thẩm quyền cho Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong việc thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm; bổ sung nguyên tắc, nội dung giải quyết tố cáo phù hợp với tình hình thực tiễn;...
Đồng chí Trần Sỹ Thanh nêu rõ, việc ban hành đồng bộ Nghị quyết, Quy định mới về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ hoàn thiện "hành lang pháp lý" mà còn tạo bước chuyển căn bản về tư duy, phương thức và công cụ kiểm soát quyền lực trong Đảng.
Hai văn bản này khẳng định rõ kiểm tra, giám sát là cơ chế để Đảng tự chỉnh đốn, tự hoàn thiện, đồng thời là giải pháp trọng yếu nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm từ sớm, từ xa; góp phần giữ vững kỷ luật, kỷ cương, củng cố niềm tin của Nhân dân và tạo môi trường chính trị - xã hội ổn định cho phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
"Trước yêu cầu mới của công tác xây dựng Đảng, với quyết tâm chính trị cao và sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống, chúng ta có cơ sở vững chắc để tin tưởng rằng công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng sẽ tiếp tục chuyển biến mạnh mẽ, thực sự trở thành "tai mắt" của Đảng, là công cụ sắc bén để giữ vững kỷ luật, kỷ cương, củng cố niềm tin của Nhân dân, bảo đảm mọi chủ trương của Đảng được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả trong thực tiễn, góp phần đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện; nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển của Nhà nước", đồng chí Trần Sỹ Thanh phát biểu.

Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương trình bày Chuyên đề những nội dung cơ bản của Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV do Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức diễn ra vào sáng nay (13/4), các đại biểu nghe đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương trình bày Chuyên đề những nội dung cơ bản của Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.
Theo đồng chí Trịnh Văn Quyết, Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Quy định số 19-QĐ/TW ngày 08/4/2026 về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Đây là lần đầu tiên, Đảng ta ban hành một quy định mang tính hệ thống, toàn diện, khẳng định bước phát triển mới về tư duy lý luận và quyết tâm chính trị rất cao trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.
Quy định là sự kết tinh và phát triển nhất quán tư duy lý luận của Đảng, cụ thể hóa tinh thần Đại hội XIV, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng tầm công tác chính trị, tư tưởng trước những biến động nhanh, phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, khu vực và trong nước.
Tại Hội nghị, đồng chí Trịnh Văn Quyết đã nêu bật các nội dung liên quan đến sự cần thiết phải ban hành Quy định; những nội dung cơ bản của Quy định; yêu cầu tổ chức triển khai thực hiện.
Theo đó, Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng được kết cấu gồm 5 chương, 16 điều, hết sức chặt chẽ, khoa học, bao quát toàn diện các nội dung cốt lõi. Tinh thần xuyên suốt của Quy định là chuẩn hóa, ràng buộc trách nhiệm, kiểm soát bằng kết quả, đo lường bằng hiệu quả thực chất.
Quy định xác định rõ phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng là toàn bộ các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên trong Đảng, không có ngoại lệ, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong tổ chức thực hiện. Công tác chính trị, tư tưởng là nhiệm vụ bắt buộc, không có "khoảng trống", đối với mọi tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên.
Về mục đích là nhằm hướng tới xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và cán bộ; nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị, trình độ, năng lực công tác và khả năng thích ứng của cán bộ, đảng viên trước những biến động, tình huống thực tiễn phức tạp; kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".
Quy định đặt ra yêu cầu phải tạo động lực cho sự đổi mới tư duy chiến lược, nâng cao năng lực hoạch định chủ trương, đường lối; xây dựng môi trường chính trị, tư tưởng, trong sáng, lành mạnh trong toàn Đảng; phát huy dân chủ gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, xây dựng văn hóa trong Đảng, đề cao trách nhiệm cá nhân, nhất là vai trò nêu gương của người đứng đầu; yêu cầu xây dựng hệ tiêu chí đánh giá, lượng hóa kết quả công tác chính trị, tư tưởng, lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị và mức độ hài lòng của Nhân dân làm thước đo để đánh giá hiệu quả lãnh đạo của tổ chức đảng và từng đảng viên.
Đồng chí Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh, nội dung Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng đã bao quát đầy đủ những vấn đề cốt lõi, vừa mang tính nguyên tắc, vừa có tính cụ thể, khả thi; tạo cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng trong toàn Đảng, đáp ứng yêu cầu xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.
Đây không chỉ là "chuẩn mực chính trị, tư tưởng của toàn Đảng trong kỷ nguyên mới", mà còn là nền tảng tinh thần, thể chế quan trọng để xây dựng Đảng thực sự vững mạnh từ gốc rễ, đủ sức lãnh đạo đất nước bước vào giai đoạn phát triển với những tầm cao và khát vọng mới.
Theo đồng chí Trịnh Văn Quyết, vấn đề quyết định chính là tổ chức thực hiện, khâu then chốt, thước đo thực sự của quyết tâm chính trị. Phải triển khai Quy định với tinh thần khẩn trương, quyết liệt, thực chất; lấy chuyển biến về nhận thức, hành động và kết quả cụ thể của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên làm thước đo hiệu quả.
Việc thực hiện Quy định không phải là lựa chọn mang tính tự nguyện, mà là nhiệm vụ chính trị bắt buộc đối với mọi tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên phải chuyển hóa yêu cầu của Quy định thành nhận thức tự giác, hành động cụ thể và kiên quyết khắc phục tình trạng hình thức, đối phó.
Cấp ủy cấp trên có trách nhiệm tổ chức quán triệt cho cấp dưới; người đứng đầu chủ trì tổ chức học tập, quán triệt và đề cao trách nhiệm nêu gương trong quá trình thực hiện.
Mỗi cán bộ, đảng viên phải nắm vững nội dung cốt lõi, xác định rõ trách nhiệm, chuyển mạnh từ "học nghị quyết" sang "làm theo nghị quyết"; thực hiện nghiêm phương châm: "hiểu sâu - làm đúng - làm đến cùng - làm có kết quả".
"Tôi đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng và toàn thể cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần trách nhiệm, khẩn trương, nghiêm túc tổ chức triển khai thực hiện; thực sự coi đây là việc làm thường xuyên, liên tục trong suốt cả nhiệm kỳ và các nhiệm kỳ tiếp theo.
Với quyết tâm chính trị cao và hành động thực chất, Quy định này nhất định sẽ tạo ra chuyển biến rõ nét trong công tác chính trị, tư tưởng; góp phần xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện, xứng đáng với niềm tin yêu, kỳ vọng của Nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới", đồng chí Trịnh Văn Quyết phát biểu.

Đồng chí Lê Minh Trí, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương trình bày Chuyên đề Nghị quyết - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV do Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức diễn ra vào sáng nay (13/4), các đại biểu nghe đồng chí Lê Minh Trí, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương trình bày Chuyên đề Nghị quyết về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới.
Đồng chí Lê Minh Trí nhấn mạnh, Nghị quyết số 04 của Trung ương 2 khóa XIV "về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới" có ý nghĩa rất quan trọng, là "tuyên ngôn" của Đảng tiếp tục kiên quyết, kiên trì đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống "giặc nội xâm" trong giai đoạn mới, góp phần xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, thực sự liêm chính, phục vụ Nhân dân và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, phát triển đất nước như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ đạo.
Theo đồng chí Lê Minh Trí, qua tổng kết Nghị quyết Trung ương 3 khóa X đã khẳng định công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải kiên quyết, kiên trì, tiếp tục thực hiện và phải giữ vững thành quả công tác này, tiếp tục củng cố lòng tin của nhân dân.
Với mục tiêu, yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số trong nhiều năm liên tục và hoàn thành hai mục tiêu chiến lược 100 năm, đòi hỏi yêu cầu mới của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là phải đồng hành với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Do đó, Nghị quyết xác định mục tiêu là "Kiên quyết, kiên trì phòng ngừa, kiểm soát, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ; thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số liên tục trong những năm tới; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao, quản trị quốc gia liêm chính, minh bạch, hiện đại".
Nghị quyết 04 yêu cầu ban hành nghị quyết đặc thù của Quốc hội khóa XVI để thể chế hóa kịp thời các nghị quyết, kết luận của Đảng về xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai, vi phạm liên quan kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong khi chưa sửa đổi các quy định pháp luật có liên quan. Điều này góp phần mạnh mẽ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế "2 con số" liên tục trong những năm tới.
Về các giải pháp phòng ngừa, hực hiện chủ trương chuyển mạnh từ "chống" là chủ yếu sang "phòng ngừa từ gốc là căn bản", Nghị quyết đề ra các nhiệm vụ, giải pháp để "không muốn" tham nhũng bằng giáo dục, xây dựng văn hóa liêm chính; "không thể" tham nhũng bằng cơ chế chặt chẽ, minh bạch; "không dám" tham nhũng bằng kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh; "không cần" tham nhũng bằng chính sách đãi ngộ hợp lý.
Trọng tâm là hoàn thiện thể chế, pháp luật kịp thời, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi, bảo đảm nghiêm minh, rõ trách nhiệm; kiên trì xây dựng, thực hành văn hóa liêm chính, xây dựng quốc gia liêm chính, xã hội liêm chính. Tăng cường kiểm soát quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn, kiểm soát quyền lực của bộ máy chính quyền ba cấp và các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, cấp cơ sở và người đứng đầu có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và phải xử lý nghiêm cán bộ chậm trễ, đùn đẩy, né tránh, sợ trách nhiệm, quan liêu, nhũng nhiễu.
Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát tài sản, thu nhập để phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách đãi ngộ, chế độ tiền lương, thu nhập bảo đảm đời sống để cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác, liêm chính, công tâm.
Về phòng, chống lãng phí, trong bối cảnh Đảng, Nhà nước đang chỉ đạo khơi thông, huy động mọi nguồn lực phục vụ mục tiêu tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội, Nghị quyết đưa ra yêu cầu phải tạo chuyển biến mạnh mẽ, đột phá về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong toàn xã hội.
Chú trọng phòng, chống lãng phí các nguồn lực vật chất như tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các công trình, dự án tồn đọng, nguy cơ thất thoát, lãng phí; tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia; tăng cường quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công; đổi mới phương pháp quản lý, quản trị quốc gia, trong đó phải làm tốt công tác quy hoạch, có quy định các định mức, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia và thực hiện hạch toán kinh tế để đảm bảo hiệu quả trong đầu tư, phát triển kinh tế xã hội. Chú trọng chống lãng phí thời gian, lãng phí cơ hội phát triển.
Nghị quyết xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu các cấp phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chịu trách nhiệm về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Bên cạnh việc xử lý nghiêm trách nhiệm người đứng đầu để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thì cần có cơ chế khuyến khích, bảo vệ người đứng đầu chủ động phát hiện, xử lý kịp thời tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ.
Ngoài ra, Nghị quyết xác định phải huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trong phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tăng cường giám sát việc xây dựng và thực thi pháp luật; việc thực thi công vụ của người có chức vụ, quyền hạn; việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, văn hóa liêm chính của cán bộ, đảng viên.
Hoàn thiện cơ chế để Nhân dân phản ánh, tố giác tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và kiểm soát quyền lực nhà nước thực sự hiệu lực, hiệu quả. Chủ động, kịp thời nắm bắt dư luận, giải quyết đến cùng các kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo hợp pháp của Nhân dân.
Đồng chí Lê Minh Trí cho hay, trong Nghị quyết, phần tổ chức thực hiện đã phân công rất rõ và cụ thể. Đồng thời, Bộ Chính trị đã chỉ đạo xây dựng kế hoạch để triển khai thực hiện Nghị quyết, trong đó xác định 8 nhiệm vụ trọng tâm và 114 nhiệm vụ cụ thể cho các tỉnh ủy, thành ủy và cấp ủy, cơ quan ở Trung ương, gắn với lộ trình thực hiện, thời hạn hoàn thành và yêu cầu sản phẩm cụ thể.
Đồng chí Lê Minh Trí đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện các nhiệm vụ theo yêu cầu của Nghị quyết và Kế hoạch của Bộ Chính trị, trong đó một số nội dung cần đặc biệt quan tâm là: Thực hiện đa dạng, linh hoạt các hình thức, phương pháp học tập, nghiên cứu để hiểu đúng, nắm chắc những nội dung cốt lõi, chủ trương, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp mới, trọng tâm, đột phá của Nghị quyết, từ đó thống nhất, quyết tâm, chủ động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện Nghị quyết.
Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan liên quan căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được giao chủ động triển khai đồng bộ, toàn diện, ngay từ cơ sở nhưng có trọng tâm, trọng điểm các nhiệm vụ, giải pháp về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo yêu cầu của Nghị quyết Trung ương 2 và Kế hoạch của Bộ Chính trị, không chờ đợi hướng dẫn của Trung ương; chỉ xin ý kiến hướng dẫn, chỉ đạo về những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền.
Thường xuyên kiểm tra, giám sát, đôn đốc và tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện Nghị quyết.

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương truyền đạt chuyên đề tại Hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV do Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức diễn ra vào sáng nay (13/4), các đại biểu nghe Chuyên đề về Kết luận số 18-KL/TW, ngày 02/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển KT-XH, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số" do đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương trình bày.
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh, Kết luận này có ý nghĩa rất quan trọng, đã tổng hợp các nội dung cơ bản của Đề án các giải pháp chiến lược thúc đẩy tăng trưởng 2 con số, là bước cụ thể hóa các định hướng chiến lược, quyết sách lớn về phát triển kinh tế, xã hội trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.
Tình hình thế giới giai đoạn 2021-2025 có những thuận lợi, cơ hội và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức là chủ yếu. Tuy nhiên, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo sát sao của Đảng; sự giám sát, đồng hành, phối hợp của Quốc hội; sự chỉ đạo, điều hành quyết đoán, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, đất nước ta tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng, toàn diện; đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu KT-XH chủ yếu giai đoạn 2021-2025, trong đó hoàn thành toàn bộ chỉ tiêu về xã hội.
Tuy nhiên, nền tảng kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc; năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng góp chưa nhiều cho tăng trưởng. Chưa có cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài…
Bước vào giai đoạn 2026-2030, tình hình thế giới có nhiều diễn biến mới hết sức phức tạp, khó lường; đặc biệt là xung đột ở Trung Đông gây gián đoạn nguồn cung, khiến giá dầu, khí và chi phí vận tải tăng cao, ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại, đầu tư quốc tế và tác động trực tiếp đến việc thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ phát triển KT-XH nước ta.
Trên cơ sở đánh giá toàn diện những thuận lợi, khó khăn, Ban Chấp hành Trung ương thống nhất các mục tiêu, chỉ tiêu để đạt tăng trưởng kinh tế ở mức 2 con số để hoàn thành 2 mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước.
Kết luận xác định 4 nhóm quan điểm chỉ đạo, có thể khái quát những nội dung chủ yếu như: Bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng; phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước; giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư để đạt mục tiêu tăng trưởng 2 con số gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
Kết luận đề ra 04 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu: về KT-XH; về tài chính quốc gia; về vay, trả nợ công và về đầu tư công trung hạn và 03 Phụ lục.
Theo đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, việc quán triệt và triển khai hiệu quả các nhiệm vụ phát triển KT-XH giai đoạn 2026-2030 không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là nhiệm vụ chính trị trọng tâm; đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu cao trách nhiệm, tính tiên phong, "dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm", trở thành hạt nhân trong quá trình chuyển mình toàn diện của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị nêu rõ, để Kết luận số 18 Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV sớm đi vào thực tiễn, phát huy hiệu quả, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội nhanh, bền vững, phấn đấu tăng trưởng "2 con số", đòi hỏi các cơ quan trong hệ thống chính trị, các cấp, các ngành, các địa phương cần đặc biệt chú trọng tổ chức triển khai thực hiện, bảo đảm chủ động, khẩn trương, linh hoạt, hiệu quả.
Theo đó, Đảng uỷ Chính phủ, Đảng uỷ Quốc hội chỉ đạo báo cáo các kế hoạch để Quốc hội xem xét, quyết định; phối hợp chặt chẽ, kịp thời xem xét, điều chỉnh phù hợp khi có biến động, ảnh hưởng lớn tới các mục tiêu kinh tế vĩ mô và cân đối ngân sách nhà nước.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức quán triệt và thường xuyên tuyên truyền về việc triển khai, kết quả thực hiện Kết luận.
Đảng uỷ Chính phủ chủ trì, phối hợp với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng theo dõi, đôn đốc, đánh giá kết quả thực hiện; định kỳ 6 tháng báo cáo kết quả với Bộ Chính trị, Ban Bí thư để chỉ đạo.
Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị đề nghị các đồng chí Bí thư tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy các bộ, ngành, cơ quan ở Trung ương phát huy vai trò gương mẫu của người đứng đầu, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo việc xây dựng chương trình, kế hoạch, kịch bản cụ thể, sát thực tiễn và chủ động tổ chức triển khai quyết liệt, đồng bộ, kịp thời, hiệu quả.
Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, đôn đốc; xử lý dứt điểm các vấn đề thuộc thẩm quyền; chịu trách nhiệm đến cùng về kết quả thực hiện; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng doanh nghiệp, mọi tầng lớp Nhân dân được tham gia tích cực, đóng góp vào mục tiêu chung của đất nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV
Sáng 13/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lãnh đạo các cấp ủy đảng, lãnh đạo các ban, bộ , ngành Trung ương và địa phương,
Thưa các đồng chí đảng viên, cán bộ, đồng bào cả nước.
Hôm nay, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc để quán triệt và triển khai thực hiện các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV. Hội nghị đã được nghe 5 nội dung chuyên đề chi tiết, cụ thể do các đồng chí Lãnh đạo các cơ quan Trung ương trình bày. Tôi cơ bản nhất trí với những định hướng thực hiện đối với các chuyên đề đó.
Hôm qua, tôi có trả lời báo Quân đội Nhân dân liên quan đến nhiệm vụ triển khai các Nghị quyết của Đảng, trong đó có những nội dung liên quan đến các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV (Nhiều báo hôm nay đã đăng toàn văn). Các đồng chí có thể tham khảo thêm.
Những diễn biến nhanh, rộng của tình hình quốc tế đang tác động mạnh mẽ tới nhiều lĩnh vực, từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến văn hóa, khoa học kỹ thuật, làm thay đổi nhiều trật tự đã được thiết lập trên phạm vi toàn cầu. Trong nước, sau thành công của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Kết quả của cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI và Đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; Kết quả của đợt 1- kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI, có thể nói đường lối, hướng đi đã rõ ràng, mạch lạc; Cơ cấu, tổ chức, đặc biệt về nhân sự, của bộ máy trong toàn hệ thống chính trị đã cơ bản hoàn chỉnh. Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là làm và làm đúng, làm quyết liệt, hiệu quả.
Tôi cho rằng: yêu cầu đặt ra sau Hội nghị lần này là nắm vững, thấm nhuần, là phải tổ chức triển khai thực hiện một cách quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm, tạo ra chuyển biến rõ nét trong toàn hệ thống chính trị và lan tỏa thành động lực phát triển trong toàn xã hội.
Trên tinh thần đó, tôi xin nhấn mạnh thêm 05 vấn đề sau đây:
Nếu đường lối, chủ trương là sự kết tinh của tầm nhìn, của ý chí chính trị, thì các quy định của Đảng chính là thể chế bản lề để hiện thực hóa tầm nhìn đó, tổ chức hóa ý chí đó thành trật tự vận hành triển khai trên thực tế. Bảo đảm cho Đảng ta vận hành trong một khối thống nhất, xuyên suốt từ Trung ương đến cơ sở, trong mọi hoàn cảnh và mọi giai đoạn phát triển.
Đặc biệt, trong bối cảnh đất nước đang đứng trước những cơ hội lớn để bứt phá vươn lên, đồng thời cũng phải đáp ứng với những yêu cầu rất cao, rất mới, rất lớn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì yêu cầu về giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương và sự thống nhất trong toàn Đảng càng trở thành yếu tố then chốt nhằm nâng cao toàn diện năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực hiện của Đảng.
Thực tiễn cho thấy, ở đâu quy định được quán triệt nghiêm túc, vận dụng đúng đắn, ở đó kỷ cương được giữ vững, tổ chức được củng cố, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu được nâng cao. Ngược lại, nếu nhận thức không đầy đủ, thực hiện không nghiêm, thì rất dễ dẫn đến tình trạng tùy tiện trong vận dụng, lỏng lẻo trong kỷ luật, thiếu thống nhất trong hành động, làm suy giảm hiệu lực lãnh đạo và niềm tin của nhân dân.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra là mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức đúng, hiểu sâu và thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, coi đó là trách nhiệm chính trị trực tiếp của mình. Không được phép hiểu khác, làm khác, càng không được vận dụng theo hướng thuận lợi cho riêng mình. Mọi quy định phải được thực hiện thống nhất, đồng bộ, nhất quán từ trên xuống dưới, gắn với kiểm tra, giám sát chặt chẽ và xử lý nghiêm minh các vi phạm; đồng thời khuyến khích, biểu dương các cách làm hay, sáng tạo theo quy định.
Trong một thời gian dài, ở không ít nơi, không ít cấp, vẫn tồn tại tư duy phát triển chủ yếu dựa vào cái sẵn có, lấy ngân sách nhà nước, đất đai và đầu tư công làm trụ cột chính. Về bản chất, đó là cách tiếp cận coi nguồn lực phát triển là hữu hạn và tĩnh, thiên về phân chia hơn là tạo lập. Nếu không được điều chỉnh kịp thời, tư duy này sẽ trở thành lực cản lớn đối với quá trình phát triển trong giai đoạn mới. Một nền kinh tế muốn tăng trưởng cao, bền vững và có khả năng bứt phá, không chỉ vận hành trên nền tảng một nguồn lực đơn nhất, càng không thể đặt toàn bộ gánh nặng phát triển lên vai Nhà nước.
Do đó, yêu cầu đặt ra không đơn thuần là điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn, mà là chuyển đổi căn bản tư duy phát triển từ phân bổ nguồn lực sang kiến tạo, dẫn dắt và kích hoạt nguồn lực. Nhà nước cần dịch chuyển từ vai trò nhà đầu tư trực tiếp sang vai trò thiết kế và tạo lập môi trường để mọi nguồn lực trong xã hội được huy động và phân bổ theo tín hiệu thị trường, dưới khuôn khổ thể chế minh bạch, ổn định. Trên nền tảng đó, cần định vị lại vai trò của các nguồn vốn trong một cấu trúc phát triển mới nơi các dòng vốn không tồn tại biệt lập mà tương tác, khuếch đại và dẫn dắt lẫn nhau.
Vốn nhà nước phải được định vị đúng bản chất là vốn mồi, vốn kiến tạo để định hình không gian phát triển, giảm thiểu rủi ro ban đầu, từ đó dẫn dắt và kích hoạt hiệu quả các dòng vốn ngoài nhà nước. Vốn doanh nghiệp, bao gồm khu vực tư nhân và FDI, cần được định hướng vào các ngành sản xuất giá trị gia tăng cao, các dự án đổi mới sáng tạo và các chuỗi giá trị tri thức. Nguồn vốn vay nước ngoài phải được sử dụng theo nguyên tắc chọn lọc chiến lược, gắn với năng lực hấp thụ và khả năng trả nợ trong dài hạn, ưu tiên cho các dự án hạ tầng then chốt và các lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao.
Thị trường tài chính, bao gồm thị trường vốn, tín dụng và trái phiếu, phải thực sự trở thành kênh dẫn vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế thực. Trọng tâm là hướng dòng vốn vào các ngành sản xuất, đổi mới sáng tạo và hệ thống hạ tầng thiết yếu, qua đó nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Đặc biệt, phải coi trọng việc khơi thông vốn của nhân dân, xem đây là đột phá chiến lược trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là nguồn vốn tài chính, mà còn là tổng hòa của trí tuệ, kỹ năng, sức lao động, tinh thần doanh nhân và khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng của hàng chục triệu người dân. Khi được kích hoạt hiệu quả, nguồn lực này có thể chuyển hóa thành động lực nội sinh vô cùng to lớn, góp phần nâng cao khả năng tự cường của nền kinh tế.
Quy hoạch là tư duy phát triển được không gian hóa. Vì thế, quy hoạch phát triển tổng thể phải thể hiện được tư duy tích hợp, đa mục tiêu, dài hạn. Tạo ra được cấu trúc phát triển hợp lý hơn, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, phân bố không gian phát triển cân đối hơn, kết nối các vùng tốt hơn và mở ra dư địa tăng trưởng lớn hơn cho tương lai. Nếu quy hoạch được làm theo tư duy khép kín, cục bộ, manh mún, mạnh ai nấy làm, thì không những không mở ra không gian phát triển mới, mà còn tạo ra xung đột, chồng lấn, lãng phí nguồn lực, làm đứt gãy liên kết, và kéo tụt hiệu quả phát triển chung, thậm chí kìm hãm sự phát triển.
Mỗi quy hoạch phát triển địa phương, quy hoạch ngành phải được nhìn trong cấu trúc tổng thể, gắn với liên kết vùng, gắn với tầm nhìn "hướng Đông-tỏa Tây" , "trục Bắc-Nam liền dải"- đó là tầm nhìn tổ chức không gian phát triển quốc gia theo hướng lấy phía Đông làm không gian đột phá mở ra đại dương, từ đó lan tỏa sức phát triển sâu vào phía Tây đất nước; trục Bắc-Nam như dải xương sống của cơ thể con người. Từ nền tảng đó, mỗi quyết định phát triển phải được xem xét trong quan hệ hữu cơ với hạ tầng, năng lượng, dân cư, lao động, bảo vệ môi trường, an ninh lương thực, và yêu cầu phát triển dài hạn của đất nước. Không được để quy hoạch trở thành nơi phát sinh các lỗ hổng, khoảng trống hoặc mâu thuẫn lợi ích giữa các địa phương, các ngành, các cấp.
Đặc biệt, trong quy hoạch tổng thể phải đặc biệt chú trọng hơn nữa quy hoạch năng lượng. Không có năng lượng đủ, ổn định, bền vững, giá phù hợp và phân bổ hợp lý thì không thể có công nghiệp hóa hiện đại hóa thành công, không thể có tăng trưởng cao kéo dài, không thể có những không gian phát triển mới. Năng lượng phải được đặt trong tổng thể phát triển quốc gia, trong tương quan với công nghiệp, đô thị, logistics, hạ tầng số, chuyển đổi xanh, khả năng chống chịu và an ninh quốc gia, phải đảm bảo tự chủ.
Đi liền với quy hoạch là vấn đề phát triển dự án. Dứt khoát chấm dứt tình trạng đầu tư theo phong trào, theo mong muốn chủ quan, theo cơ chế xin - cho, theo nhiệm kỳ, theo hình thức bề ngoài. Mọi dự án muốn triển khai đều phải được đặt trong quy hoạch tổng thể, được xem xét một cách rõ ràng, nghiêm túc. Trong đó, chú trọng yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia, chuẩn chất lượng quốc gia, yêu cầu đồng bộ, hiện đại, vận hành được lâu dài, phục vụ được mục tiêu phát triển thực sự. Không thể đầu tư lớn mà tiêu chuẩn thấp, làm nhanh mà chất lượng không bảo đảm. Càng không thể xây dựng hôm nay mà ngày mai đã lạc hậu, thiếu đồng bộ, khó kết nối, khó khai thác. Phải đưa tầm nhìn hàng thế kỷ vào quy hoạch tổng thể.
Một dự án tốt phải được đánh giá dựa trên tác động phát triển và hiệu quả kinh tế - xã hội thực chất, trong đó mức độ thụ hưởng của người dân là tiêu chí trung tâm. Tuyệt đối, không lấy quy mô vốn thay cho hiệu quả, không lấy số lượng dự án thay cho chất lượng tăng trưởng, càng không lấy tốc độ giải ngân bề ngoài thay cho hiệu quả dài hạn. Mỗi đồng vốn bỏ ra, dù là vốn nhà nước hay vốn xã hội, đều phải được tính toán cẩn trọng về hiệu quả, độ lan tỏa, khả năng kích hoạt đầu tư tiếp theo, khả năng tạo việc làm, tạo giá trị gia tăng, cải thiện năng lực cạnh tranh và tăng phúc lợi xã hội.
Mục tiêu tăng trưởng hai con số là mục tiêu lớn, đòi hỏi quyết tâm rất cao, cách làm sáng tạo, bảo đảm sao cho vĩ mô đúng, nhưng vi mô cũng phải đúng. Nếu vi mô không thông suốt, dòng vốn không chảy đến nơi cần, lao động không được sử dụng hiệu quả, sản xuất gặp tắc nghẽn, hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ không có động lực vươn lên, thì tăng trưởng sẽ thiếu lực đẩy, thiếu sức bền và thiếu nền tảng phát triển bền vững cho cả quốc gia.
Nền kinh tế chỉ thực sự mạnh khi từng tế bào của nó khỏe mạnh. Vì vậy, tăng trưởng thực chất phải được hình thành cả hai chiều từ trên xuống và cả từ dưới lên, trong từng mắt xích của nền kinh tế, từ từng hộ gia đình, từng hộ kinh doanh, từng cơ sở sản xuất, từng doanh nghiệp. Khi nội lực trong dân được khơi thông, được kết nối với nguồn lực nhà nước, với hạ tầng, với thị trường, với công nghệ, với đào tạo, với tín dụng, với quy hoạch phát triển, thì nền kinh tế sẽ có một nền móng nội lực vững chắc cho tăng trưởng một cách ổn định, bền vững.
Vì vậy, phải kiến tạo một môi trường phát triển để hàng triệu người dân nhận thấy cơ hội thực sự, để mỗi hộ gia đình, mỗi hộ kinh doanh có điều kiện thuận lợi để đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh chân chính và gắn bó lâu dài với nền kinh tế. Đồng thời, phải đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhìn thấy thể chế ổn định, minh bạch, chi phí tuân thủ hợp lý, hạ tầng đồng bộ và khả năng tiếp cận thị trường rộng mở, từ đó tạo ra động lực nội sinh mạnh mẽ, thúc đẩy sáng tạo, khởi nghiệp và phát triển bền vững.
Mỗi cơ chế, chính sách, mỗi dự án hạ tầng, mỗi dòng vốn đều phải hướng đến việc kích hoạt năng lực và khát vọng phát triển trong dân, biến cơ hội tiềm năng thành thực tế tăng trưởng, và biến niềm tin thành động lực phát triển lâu dài cho đất nước, cho nền kinh tế.
Sau gần một năm triển khai, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã vượt qua giai đoạn khởi động ban đầu, bước đầu định hình cơ chế vận hành tương đối ổn định, thông suốt, và đang chuyển sang giai đoạn nâng cao chất lượng thực thi, hướng tới hiệu lực, hiệu quả thực chất. Dự kiến tháng 7 sẽ sơ kết 1 năm thực hiện mô hình này.
Tuy nhiên, để mô hình này phát huy đầy đủ giá trị và sức mạnh, cần được nhìn nhận trong chỉnh thể thống nhất của nền quản trị quốc gia, với một nguyên lý xuyên suốt, đó là: "Trung ương mạnh về định hướng chiến lược, thể chế và giám sát, địa phương mạnh về tổ chức thực hiện, trong đó cấp xã đóng vai trò then chốt quyết định chất lượng vận hành của toàn hệ thống". Năm 2026, Trung ương đã xác định là "Năm cán bộ cơ sở", từng cơ sở phải thay đổi.
Để hiện thực hóa tư duy này, trước hết cần xây dựng cấp xã mạnh về năng lực ra quyết định . Cấp xã phải được phân quyền rõ ràng, gắn với nguồn lực và trách nhiệm cụ thể, để có thể chủ động giải quyết các vấn đề phát sinh, từ hạ tầng, dịch vụ xã hội đến quản lý kinh tế - xã hội. Quyền hạn gắn liền trách nhiệm sẽ tạo ra hiệu quả thực chất, tránh chồng chéo và trì trệ trong quản lý.
Tiếp đó, cấp xã mạnh về huy động nguồn lực sẽ giúp cấp tỉnh chủ động hơn trong việc điều phối và triển khai các dự án chiến lược. Cấp xã là nơi kết nối trực tiếp các nguồn lực xã hội, kinh tế và nhân lực địa phương. Khả năng huy động và phân bổ hiệu quả sẽ đảm bảo nguồn lực được sử dụng tối ưu, nâng cao năng lực thực thi của cả hệ thống chính quyền hai cấp.
Cuối cùng là cấp xã mạnh về giám sát và phản hồi. Cấp xã năng động sẽ cung cấp dữ liệu và thông tin chính xác về thực trạng và nhu cầu của người dân, từ đó giúp cấp tỉnh ra quyết sách phù hợp, kịp thời và chính xác. Đây chính là cơ chế tạo sức bật, đảm bảo hiệu lực tổng thể của chính quyền địa phương hai cấp.
Để cấp xã trở thành động lực nâng cấp chính quyền cấp tỉnh, mọi nghị quyết, chính sách và dự án phải được chuyển hóa thành hành động cụ thể. Đồng thời, các quyết định này phải hướng trực tiếp tới nâng cao chất lượng đời sống người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội và củng cố năng lực cạnh tranh của địa phương. Đây cũng chính là nền tảng để bảo đảm sự thông suốt, kỷ luật và hiệu quả của toàn bộ hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.
Thưa toàn thể các đồng chí dự hội nghị,
Những nội dung tôi vừa trao đổi không chỉ là những yêu cầu cụ thể trong tổ chức thực hiện Nghị quyết, mà là những vấn đề có ý nghĩa định hướng lâu dài đối với năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và hiệu quả vận hành của toàn bộ hệ thống chính trị trong giai đoạn phát triển mới.
Tôi đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, các đồng chí cán bộ, đảng viên từ Trung ương đến cơ sở phải thực sự vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao nhất, chủ động hơn, quyết liệt hơn, thực chất hơn. Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương phải tự đặt mình trong tổng thể chung, nhìn rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong bức tranh phát triển chung của đất nước, từ đó hành động một cách nhất quán, có kỷ luật và có hiệu quả.
Điều quan trọng hơn cả là phải tạo được niềm tin và động lực phát triển trong toàn xã hội. Khi người dân tin tưởng, doanh nghiệp tin tưởng, hệ thống vận hành thông suốt, nguồn lực được khơi thông, thì khát vọng phát triển sẽ được chuyển hóa thành sức mạnh thực tế, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.
Xin chúc các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Xin trân trọng cảm ơn.