Trong đó, từ Điều 3 đến Điều 6 của Nghị quyết quy định tiêu chí quốc gia về nhân tài; xác định nhiệm vụ chiến lược và nhu cầu nhân tài; phát hiện, tiến cử nhân tài; lựa chọn và giao nhiệm vụ cho nhân tài.
Điều 3. Khung tiêu chí quốc gia về nhân tài
1. Nhân tài là cá nhân có phẩm chất, năng lực nổi trội, tư duy sáng tạo, tiềm năng đặc biệt hoặc có thành tựu tạo ra sản phẩm, kết quả có giá trị mang tính đột phá, đóng góp quan trọng vào việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược, chương trình, dự án trọng điểm và giải quyết bài toán lớn của đất nước.
2. Nhân tài đáp ứng một trong các tiêu chí sau đây:
a) Có công trình, sản phẩm, giải pháp, thành tựu hoặc đóng góp nổi bật được ghi nhận trong nước hoặc quốc tế;
b) Có năng lực đặc biệt trong nghiên cứu, sáng tạo, phát triển khoa học, công nghệ, quản lý, quản trị, tổ chức thực hiện hoặc giải quyết vấn đề lớn, phức tạp;
c) Có khả năng chủ trì, dẫn dắt hoặc đóng góp quyết định vào việc thực hiện nhiệm vụ chiến lược, chương trình, dự án trọng điểm và giải quyết bài toán lớn;
d) Có tố chất, tiềm năng phát triển nổi trội được chứng minh thông qua đánh giá năng lực, sản phẩm, giải pháp hoặc phương án thực hiện nhiệm vụ.
3. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 Điều này, làm cơ sở cho các bộ, cơ quan trung ương, địa phương quy định cụ thể tiêu chí nhân tài phù hợp với yêu cầu phát triển của ngành, lĩnh vực, địa phương.
Điều 4. Xác định nhiệm vụ chiến lược và nhu cầu nhân tài
1. Nhiệm vụ chiến lược là nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phát triển đất nước hoặc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; có yêu cầu giải quyết những vấn đề lớn, cấp thiết hoặc tạo ra bước đột phá trong các lĩnh vực khoa học cơ bản, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, lượng tử, khoa học dữ liệu, công nghệ chiến lược, công nghệ mới và các nhiệm vụ chiến lược khác phục vụ quản trị quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh, quản lý kinh tế, xã hội.
2. Căn cứ vào tính chất quy mô của nhiệm vụ chiến lược, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định và ban hành danh mục nhiệm vụ chiến lược theo thẩm quyền, trong đó xác định mục tiêu, sản phẩm, kết quả, thời hạn, nguồn lực và nhu cầu sử dụng nhân tài.
3. Danh mục nhiệm vụ chiến lược và nhu cầu nhân tài được công bố công khai, trừ trường hợp thuộc bí mật nhà nước hoặc cần bảo mật theo quy định của pháp luật.
Điều 5. Phát hiện, tiến cử nhân tài
1. Cơ quan, tổ chức có nhu cầu được chủ động tìm kiếm, mời, tiến cử, tiếp nhận hồ sơ và kết nối nhân tài trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế; được tiếp nhận đề cử, tiến cử của doanh nghiệp, cơ sở giáo dục, nghiên cứu, tổ chức khoa học, công nghệ, tổ chức xã hội và cá nhân; tiếp nhận hồ sơ của ứng viên; phát hiện thông qua kết quả và thành tựu nghiên cứu và sáng tạo.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân tiến cử phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin do mình cung cấp.
Điều 6. Lựa chọn và giao nhiệm vụ cho nhân tài
1. Căn cứ vào tiêu chí lựa chọn nhân tài, tính chất, nội dung của nhiệm vụ chiến lược, người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị quyết này quyết định hoặc phân cấp, ủy quyền lựa chọn nhân tài theo hình thức cạnh tranh hoặc mời trực tiếp hoặc đặt hàng, giao nhiệm vụ để thực hiện nhiệm vụ, không áp dụng quy định của pháp luật về đấu thầu, đầu tư.
2. Việc giao nhiệm vụ chiến lược cho nhân tài được thực hiện thông qua quyết định của cấp có thẩm quyền hoặc ký kết hợp đồng thực hiện nhiệm vụ, trong đó xác định mục tiêu, sản phẩm, kết quả, thời hạn, phương thức làm việc, quyền tự chủ, tiền lương, tiền thưởng, chế độ đãi ngộ, quyền và trách nhiệm của các bên./.