Cục Thống kê, Bộ Tài chính vừa công bố báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý III và 9 tháng năm 2026. Dưới đây là nội dung báo cáo.
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tính tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,15% của quý I và 8,81% của quý II.
Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,21%, đóng góp 5,14% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,50%, đóng góp 51,57%; khu vực dịch vụ tăng 9,54%, đóng góp 43,29%.
Về sử dụng GDP quý III/2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,96% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 21,39%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 23,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 28,75%.
GDP chín tháng năm 2026 ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, đóng góp 5,35% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp 49,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,69%, đóng góp 45,03%.
Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, năng suất, sản lượng lúa, cây ăn quả, chăn nuôi và thủy sản tăng trưởng tích cực, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chín tháng năm 2026 tăng 4,02%.
Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 3,72% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 3,60% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,99%, đóng góp 0,25%; ngành thủy sản tăng 4,99%, đóng góp 1,50%.
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp duy trì mức tăng trưởng khá nhờ các động lực tăng trưởng được mở rộng, một số dự án có quy mô lớn đi vào hoạt động, đơn hàng xuất khẩu phục hồi và tiến độ đầu tư công được đẩy mạnh, tạo hiệu ứng lan tỏa đến sản xuất và xây dựng.
Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp chín tháng năm 2026 tăng 11,02% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 41,39% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế.
Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực chủ yếu với tốc độ tăng 11,36%, đóng góp 33,85%; ngành xây dựng tăng 12,22%, đóng góp 8,23%.
Trong khu vực dịch vụ, hoạt động thương mại, vận tải, du lịch và các dịch vụ phục vụ đời sống tiếp tục tăng trưởng tích cực; nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ, du lịch trong nước duy trì ở mức cao, góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung của nền kinh tế.
Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ chín tháng năm 2026 tăng 8,69% so với cùng kỳ năm trước.
Một số ngành dịch vụ có mức tăng và đóng góp đáng kể gồm: Ngành vận tải, kho bãi tăng 11,03%, đóng góp 7,21%; bán buôn và bán lẻ tăng 9,85% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 11,99%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,45%, đóng góp 5,27%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,83%, đóng góp 2,69%.
Về cơ cấu nền kinh tế, trong chín tháng năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 10,65%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,35%; khu vực dịch vụ chiếm 42,97%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,03% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2025 là 11,33%; 37,47%; 43,05%; 8,15%).
Về sử dụng GDP chín tháng năm 2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,51% so với cùng kỳ năm 2025; tích lũy tài sản tăng 17,88%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 21,29%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 27,19%.
Lúa hè thu: cả nước gieo cấy được 1.861,6 nghìn ha, giảm 36,8 nghìn ha so với vụ hè thu năm 2025, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.219,0 nghìn ha, giảm 20,1 nghìn ha.
Tính đến ngày 20/9/2026 cả nước thu hoạch được 1.819,5 nghìn ha lúa hè thu, chiếm 97,7% diện tích xuống giống, giảm 7,4 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước; năng suất ước đạt 58,9 tạ/ha, tăng 1,5 tạ/ha; sản lượng ước đạt gần 11,0 triệu tấn, tăng 71,2 nghìn tấn, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long ước đạt 7,4 triệu tấn, giảm 38,3 nghìn tấn.
Lúa mùa: Tính đến ngày 20/9/2026, cả nước đã gieo cấy được 1.337,1 nghìn ha lúa mùa, giảm 45,0 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước, trong đó miền Bắc ước đạt 944,6 nghìn ha, giảm 33,9 nghìn ha; miền Nam ước đạt 392,5 nghìn ha, giảm 11,1 nghìn ha.
Lúa thu đông: Tính đến ngày 20/9/2026, các địa phương đã gieo sạ được 474,1 nghìn ha lúa thu đông, giảm 130,7 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước.
Cây hàng năm: Diện tích gieo trồng một số loại cây như ngô, khoai lang, lạc giảm so với cùng kỳ năm trước do hiệu quả kinh tế không cao nên nông dân thu hẹp diện tích sản xuất.
Cây lâu năm: Sản xuất cây lâu năm chín tháng năm 2026 đạt khá nhờ một số diện tích cây lâu năm, nhất là cây ăn quả, bị ảnh hưởng do mưa bão năm trước đã được khôi phục, đồng thời mở rộng diện tích nhờ chuyển đổi từ cây hằng năm kém hiệu quả sang trồng cây lâu năm có giá trị kinh tế cao hơn. Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 3.891,0 nghìn ha, tăng 40,8 nghìn ha so với cùng kỳ năm 2025.
Chăn nuôi: Chăn nuôi trâu, bò tiếp tục xu hướng giảm chủ yếu do diện tích chăn thả bị thu hẹp và hiệu quả kinh tế không cao. Chăn nuôi lợn chịu tác động đan xen của các yếu tố thuận lợi và khó khăn. Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt.
Diện tích rừng trồng mới tập trung trong quý III/2026 ước đạt 70,6 nghìn ha, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 19,9 triệu cây, tương đương cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 7.089,4 nghìn m3, tăng 6,0%; diện tích rừng bị thiệt hại là 751,1 ha, tăng 4,3 lần so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung chín tháng năm 2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 215,8 nghìn ha, giảm 3,0% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 71,3 triệu cây, tăng 1,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 18.901,0 nghìn m3, tăng 5,3%; diện tích rừng bị thiệt hại là 1.146,9 ha, tăng 14,9%.
Sản lượng thủy sản quý III/2026 ước đạt 2.851,8 nghìn tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung chín tháng năm 2026, tổng sản lượng thủy sản ước đạt 7.890,9 nghìn tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 4.860,6 nghìn tấn, tăng 5,9%; sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 3.030,3 nghìn tấn, tăng 0,9%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý III/2026 ước tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, IIP ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 12,9%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,6%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,3%; ngành khai khoáng tăng 8,0%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp chín tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Chín giảm 0,5% so với tháng trước nhưng tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,8% so với cùng kỳ năm 2025 (cùng kỳ năm 2025 tăng 9,1%).
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 30/9/2026 ước tăng 4,3% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 11,9% so với cùng thời điểm năm trước.
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/9/2026 tăng 1,0% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,4% so với cùng thời điểm năm trước.
Trong tháng Chín, cả nước có gần 11,6 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 4,9% so với tháng trước và giảm 31,1% so với cùng kỳ năm trước; 8,7 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 8,1% và giảm 18,9%; 3.671 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 31,0% và giảm 19,6%; 9.371 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 23,9% và tăng 52,1%; 7.918 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 17,8% nhưng tăng 89,3%.
Tính chung chín tháng năm 2026, cả nước có hơn 223,9 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, giảm 3,2% so với cùng kỳ năm 2025; bình quân một tháng có 24,9 nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường.
Số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là 172,0 nghìn doanh nghiệp, giảm 1,7% so với cùng kỳ năm trước; bình quân một tháng có 19,1 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2026 cho thấy: Có 34,2% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn so với quý II/2026; 45,7% số doanh nghiệp nhận định tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 20,1% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn.
Dự kiến quý IV/2026, có 39,2% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý III/2026; 44,7% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định và 16,1% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng Chín năm 2026 ước đạt 690,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước và tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước.
Trong quý III/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 2.039,0 nghìn tỷ đồng, tăng 3,3% so với quý trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung chín tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 5.925,7 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,8% (năm 2025 tăng 7,2%).
Vận tải hành khách tháng Chín ước đạt 663,4 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,0% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển đạt 30,8 tỷ lượt khách.km, tăng 14,0%; quý III/2026 ước đạt 1.914,4 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 91,3 tỷ lượt khách.km, tăng 11,5%.
Tính chung chín tháng năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 5.300,8 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 262,0 tỷ lượt khách.km, tăng 11,9%.
Vận tải hàng hóa tháng Chín ước đạt 321,9 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 19,3% so với cùng kỳ năm trước; luân chuyển 62,7 tỷ tấn.km, tăng 17,9%; quý III/2026 ước đạt 941,3 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 18,1% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 184,3 tỷ tấn.km, tăng 15,1%.
Tính chung chín tháng năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 2.580,2 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 510,1 tỷ tấn.km, tăng 12,8%.
Doanh thu viễn thông quý III/2026 theo giá hiện hành ước đạt 103,4 nghìn tỷ đồng, tăng 8,0% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, doanh thu hoạt động viễn thông ước đạt 308,3 nghìn tỷ đồng, tăng 6,86% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,94%.
Khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng Chín[1] ước đạt 1,77 triệu lượt người, giảm 11,3% so với tháng trước nhưng tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 17,7 triệu lượt người, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước.
Tính đến thời điểm 28/9/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 9,78% so với cuối năm 2025 (cùng thời điểm năm trước tăng 9,99%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 10,89% (cùng thời điểm năm trước tăng 13,37%).
Thị trường bảo hiểm tăng trưởng ổn định, bảo hiểm phi nhân thọ tiếp tục là động lực tăng trưởng chính. Tổng doanh thu phí bảo hiểm quý III/2026 ước đạt 57,9 nghìn tỷ đồng, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 175,8 nghìn tỷ đồng, tăng 2,4%.
Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp. Đây là dấu mốc quan trọng, góp phần nâng cao vị thế của thị trường và tạo điều kiện mở rộng khả năng tiếp cận dòng vốn đầu tư quốc tế trung hạn và dài hạn.
Tổng mức huy động vốn trên thị trường chứng khoán chín tháng năm 2026 đạt 731,6 nghìn tỷ đồng, tăng 85,6% so với cùng kỳ năm 2025. Số lượng tài khoản của nhà đầu tư tính đến cuối tháng Tám đạt gần 13,89 triệu tài khoản, tăng 16,98% so với cuối năm 2025.
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý III/2026 theo giá hiện hành ước đạt 1.291,2 nghìn tỷ đồng, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước; tính chung chín tháng năm 2026 ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1%.
Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam[2] tính đến ngày 30/9/2026 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam chín tháng năm 2026 ước đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của chín tháng trong 5 năm qua.
Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong chín tháng năm 2026 có 121 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 1,28 tỷ USD, tăng 80,9% so với cùng kỳ năm trước; có 32 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 1,49 tỷ USD, gấp 10,8 lần.
Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 162,7 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước chín tháng năm 2026 ước đạt 2.187,3 nghìn tỷ đồng, bằng 86,5% dự toán năm và tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng Chín ước đạt 256,8 nghìn tỷ đồng. Tính chung chín tháng năm 2026, chi ngân sách Nhà nước ước đạt 1.873,7 nghìn tỷ đồng, bằng 59,3% dự toán năm và tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước.
Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng Chín đạt 117,69 tỷ USD, tăng 7,3% so với tháng trước và tăng 42,4% so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt, cán cân thương mại hàng hóa tháng Chín đã xuất siêu trở lại sau chín tháng liên tiếp nhập siêu, với mức xuất siêu 1,27 tỷ USD.
Tính chung chín tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 24,5%; nhập khẩu tăng 36,7%[6]. Cán cân thương mại hàng hóa chín tháng nhập siêu 19,42 tỷ USD.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Chín đạt 59,48 tỷ USD, tăng 8,5% so với tháng trước và tăng 39,1% so với cùng kỳ năm trước.
Trong quý III/2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 167,85 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước và tăng 17,0% so với quý II/2026. Tính chung chín tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 434,30 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 83,89 tỷ USD, tăng 7,5%, chiếm 19,3% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 350,41 tỷ USD, tăng 29,4%, chiếm 80,7%.
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu chín tháng năm 2026, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 392,79 tỷ USD, chiếm 90,4%; nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 30,0 tỷ USD, chiếm 6,9%; nhóm hàng thủy sản đạt 9,10 tỷ USD, chiếm 2,1%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt 2,41 tỷ USD, chiếm 0,6%.
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Chín đạt 58,21 tỷ USD, tăng 6,0% so với tháng trước và tăng 45,8%, so với cùng kỳ năm trước. Trong quý III/2026, kim ngạch nhập khẩu đạt 170,33 tỷ USD, tăng 42,2% so với cùng kỳ năm trước và tăng 8,8% so với quý II/2026.
Tính chung chín tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 453,72 tỷ USD, tăng 36,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 118,17 tỷ USD, tăng 23,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 335,55 tỷ USD, tăng 42,0%.
Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu chín tháng năm 2026, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 426,92 tỷ USD, chiếm 94,1%, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 58,3%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 35,8%. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng đạt 26,80 tỷ USD, chiếm 5,9%.
Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa chín tháng năm 2026, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 140,0 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 187,34 tỷ USD.
Theo số liệu sơ bộ, cán cân thương mại hàng hóa tháng Chín xuất siêu 1,27 tỷ USD. Tính chung chín tháng năm 2026, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 19,42 tỷ USD[7] (cùng kỳ năm trước xuất siêu 16,87 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 34,28 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 14,86 tỷ USD.
Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ quý III/2026 ước đạt 8,71 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước và tăng 6,0% so với quý trước; kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước đạt 11,82 tỷ USD, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,3% so với quý trước.
Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ chín tháng năm 2026 ước đạt 26,10 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 13,06 tỷ USD (chiếm 50,0% tổng kim ngạch), tăng 17,4%; dịch vụ vận tải đạt 7,81 tỷ USD (chiếm 29,9%), tăng 29,5%.
Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ chín tháng năm 2026 ước đạt 34,31 tỷ USD (trong đó phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm của hàng hóa nhập khẩu là 14,39 tỷ USD), tăng 15,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 16,40 tỷ USD (chiếm 47,8% tổng kim ngạch), tăng 35,1%; dịch vụ du lịch đạt 10,85 tỷ USD (chiếm 31,6%), giảm 2,2%.
Nhập siêu dịch vụ chín tháng năm 2026 là 8,21 tỷ USD.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Chín tăng 0,62% so với tháng trước; tăng 4,20% so với tháng 12/2025 và tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân quý III/2026 tăng 4,80% so với quý III/2025. Bình quân chín tháng năm 2026, CPI tăng 4,52% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,26%.
Chỉ số giá vàng tháng Chín tăng 2,38% so với tháng trước; tăng 12,42% so với cùng kỳ năm trước; giảm 4,04% so với tháng 12/2025; bình quân chín tháng năm 2026 tăng 42,67% so với cùng kỳ năm trước.
Chỉ số giá đô la Mỹ tháng Chín giảm 0,69% so với tháng trước; giảm 1,34% so với cùng kỳ năm trước; giảm 1,07% so với tháng 12/2025; bình quân chín tháng năm 2026 tăng 1,01% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung chín tháng năm 2026, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,11% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 4,37%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 4,02%; chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất tăng 5,12%; chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa tăng 2,38%; chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa tăng 2,56%; tỷ giá thương mại hàng hóa giảm 0,17%.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý III/2026 ước đạt 54,1 triệu người, cao hơn 278,4 nghìn người so với quý trước và cao hơn 709,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 53,8 triệu người, cao hơn 697,0 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.
Lao động có việc làm quý III/2026 đạt gần 53,0 triệu người, cao hơn 292,3 nghìn người và cao hơn 706,4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, lao động có việc làm đạt 52,7 triệu người, cao hơn 683,8 nghìn người so với cùng kỳ năm 2025.
Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý III/2026 là 1,31%, thấp hơn 0,31 điểm phần trăm so với quý trước và thấp hơn 0,19 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động là 1,53%, thấp hơn 0,12 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 1,05%; khu vực nông thôn là 1,86%.
Thu nhập bình quân của người lao động quý III/2026 đạt 9,2 triệu đồng/tháng, cao hơn 215,5 nghìn đồng so với quý II/2026 và cao hơn 823,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung chín tháng năm 2026, thu nhập bình quân của người lao động là 9,1 triệu đồng/tháng, cao hơn 752,8 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý III/2026 là 2,22%, tương đương quý trước và cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động chín tháng năm 2026 là 2,22%, tương đương so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực thành thị là 2,55%, khu vực nông thôn là 1,99%.
Theo kết quả Điều tra lao động việc làm, trong quý III/2026, tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập tăng lên và không thay đổi so với cùng kỳ năm 2025 là 96,8%, tăng 0,3 điểm phần trăm so với kỳ báo cáo quý trước và tăng 0,5 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm và không biết là 3,2%.
Công tác bảo đảm an sinh xã hội luôn được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện kịp thời, hiệu quả.
Trong chín tháng năm nay[8], tổng số tiền hỗ trợ an sinh xã hội cho các nhóm đối tượng đạt gần 69,3 nghìn tỷ đồng, trong đó hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội là hơn 3,2 nghìn tỷ đồng; người có công, thân nhân người có công với cách mạng là hơn 33,3 nghìn tỷ đồng; hỗ trợ đột xuất, bất thường phát sinh tại địa phương là hơn 246,6 tỷ đồng. Ngoài ra, bảo hiểm xã hội đã cấp phát gần 35,1 triệu thẻ BHYT, sổ, thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho các đối tượng thụ hưởng.
Tri ân người có công: Tính đến ngày 23/9/2026, “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, các lực lượng đã tìm kiếm, quy tập được 2.803 hài cốt liệt sĩ, trong đó 1.773 hài cốt được tìm thấy trong nước, 174 hài cốt tại Lào và 856 hài cốt tại Cam-pu-chia.
Y tế: Tính chung từ đầu năm đến nay, cả nước có hơn 94,2 nghìn người mắc bệnh sốt xuất huyết (14 người tử vong); hơn 74,2 nghìn người mắc tay chân miệng (11 người tử vong); 5.143 người sốt phát ban nghi sởi; 242 người viêm não vi rút (01 người tử vong); 34 người viêm màng não do não mô cầu (05 người tử vong); 54 người tử vong do bệnh dại.
Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng Chín xảy ra 05 vụ làm 382 người bị ngộ độc (02 người tử vong). Tính chung chín tháng năm nay, cả nước xảy ra 62 vụ ngộ độc thực phẩm làm 3.137 người bị ngộ độc (09 người tử vong).
Về kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông (THPT) năm 2026 là năm thứ hai kỳ thi được tổ chức theo phương án 2+2, tiếp tục giữ ổn định về cấu trúc, định dạng đề thi và phương án tổ chức, đồng thời có một số điều chỉnh để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các khâu tổ chức thi. Toàn quốc có 1.223.776 thí sinh đăng ký dự thi, tăng 61.642 thí sinh so với năm 2025
Về tình hình khai giảng năm học mới 2025-2026, các cơ sở giáo dục trên cả nước đồng loại tổ chức Lễ khai giảng theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến; Chủ đề năm học 2026-2027 là “Đổi mới tư duy – Chuyển biến mạnh mẽ – Kết quả thực chất”, với trọng tâm chuyển từ hoàn thiện thể chế sang tổ chức thực hiện, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn, nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ và đánh giá kết quả thông qua sự tiến bộ của người học, hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục và chất lượng nguồn nhân lực.
Về văn hóa, trong tháng Chín và quý III/2026, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật tiếp tục diễn ra sôi động tại nhiều địa phương góp phần quảng bá giá trị văn hóa, di sản và sản phẩm du lịch của các địa phương.
Về hoạt động thể thao thành tích cao, trong tháng Chín, Đoàn Thể thao Việt Nam tham dự Đại hội Thể thao châu Á lần thứ 20 (ASIAD 20) tại Nhật Bản với 498 thành viên, trong đó có 348 vận động viên.
Tính đến 08h00 ngày 02/10/2026, Đoàn Thể thao Việt Nam giành 22 huy chương, gồm 02 Huy chương Vàng môn Karate (nội dung Kata đồng đội nữ) và cầu mây (đôi nữ), 01 Huy chương Bạc môn Wushu (nội dung Tán thủ) và 19 Huy chương Đồng.
Trong tháng Chín (từ ngày 15/8-14/9/2026), trên địa bàn cả nước xảy ra 1.327 vụ tai nạn giao thông, làm 782 người chết và 793 người bị thương. Tính chung chín tháng năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 11.549 vụ tai nạn giao thông, làm 7.166 người chết và 6.720 người bị thương.
So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 16,8%, số người chết giảm 9,4% và số người bị thương giảm 26,3%. Bình quân 1 ngày trong chín tháng năm 2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 42 vụ tai nạn giao thông, làm 26 người chết và 25 người bị thương.
Trong tháng Chín, thiên tai làm 28 người chết và mất tích, 5 người bị thương. Tính chung chín tháng năm 2026, thiên tai làm 80 người chết và mất tích, 96 người bị thương; hơn 81,0 nghìn ha lúa và gần 17,4 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 2.797 con gia súc và 295,7 nghìn con gia cầm bị chết; 10,4 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong chín tháng năm nay ước tính 4.076,5 tỷ đồng, giảm 77,4% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong tháng Chín (từ ngày 26/8-25/9/2026)[9], các cơ quan chức năng phát hiện 1.285 vụ vi phạm môi trường tại 32/34 địa phương[10]. Tính chung chín tháng năm 2026, các cơ quan chức năng phát hiện 14.055 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 11.182 vụ với tổng số tiền phạt hơn 206,6 tỷ đồng, tăng 25,2% so với cùng kỳ năm trước; trên địa bàn cả nước xảy ra 2.255 vụ cháy, nổ, làm 75 người chết và 105 người bị thương, thiệt hại ước tính 673,0 tỷ đồng, gấp gần 2,6 lần cùng kỳ năm trước.
Khái quát lại, trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục biến động phức tạp, khó lường với nhiều yếu tố bất định, kinh tế nước ta trong chín tháng năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng và đạt nhiều kết quả tích cực.
Với sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương và sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, kinh tế nước ta trong chín tháng năm 2026 đạt mức tăng trưởng 9,95%, đây là mức tăng trưởng tích cực, tạo nền tảng quan trọng để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội năm 2026./.
[1] Kỳ báo cáo từ ngày 26/8/2026-25/9/2026.
[2] Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính, nhận ngày 02/10/2026.
[3] Số liệu nhận từ Vụ Ngân sách nhà nước – Bộ Tài chính, số liệu cập nhật đến ngày 30/9/2026.
[4] Kim ngạch xuất khẩu tính theo giá F.O.B và kim ngạch nhập khẩu tính theo giá C.I.F (bao gồm chi phí vận tải, bảo hiểm của hàng nhập khẩu).
[5] Số liệu sơ bộ trị giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa tháng Chín do Cục Hải quan cung cấp ngày 01/10/2026.
[6] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa chín tháng năm 2025 đạt 680,92 tỷ USD, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 348,90 tỷ USD, tăng 16,0%; nhập khẩu đạt 332,03 tỷ USD, tăng 18,8%.
[7] Một số mặt hàng nhập siêu cao: Điện tử, máy tính và linh kiện 65,28 tỷ USD; xăng dầu 8,26 tỷ USD; chất dẻo 7,67 tỷ USD; than các loại 6,80 tỷ USD; dầu thô 5,97 tỷ USD; sản phẩm hóa chất 4,47 tỷ USD; hóa chất 4,35 tỷ USD.
[8] Theo báo cáo của Thống kê tỉnh, thành phố tổng hợp, cập nhật đến ngày 25/9/2026.
[9] Theo báo cáo từ Sở Nông nghiệp và Môi trường, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Thống kê cấp tỉnh tổng hợp.
[10] Có 02 địa phương chưa phát hiện vi phạm môi trường trong tháng Chín gồm: Tuyên Quang và An Giang.