In bài viết

Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý I năm 2026

22:23 - 04/04/2026

(Chinhphu.vn) - Cục Thống kê, Bộ Tài chính công bố báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý I năm 2026.

Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý I năm 2026- Ảnh 1.

 

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2026 ước tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2025 tăng 7,07%). Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,58%, đóng góp 5,60% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,92%, đóng góp 44,08%; khu vực dịch vụ tăng 8,18%, đóng góp 50,32%.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản duy trì tăng trưởng ổn định, sản lượng cây lâu năm đạt khá, chăn nuôi lợn tiếp tục phục hồi, sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng cao nhờ ứng dụng khoa học công nghệ. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp quý I/2026 tăng 3,36% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 4,01% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,22%, đóng góp 0,21%; ngành thủy sản tăng 4,51%, đóng góp 1,38%.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, sản xuất công nghiệp duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, hoạt động xây dựng khởi sắc nhờ đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp quý I/2026 tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2025 tăng 7,63%), đóng góp 38,34% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng 9,73% (quý I/2025 tăng 9,36), đóng góp 32,52%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,54%, đóng góp 3,78%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,58%, đóng góp 0,63%; ngành khai khoáng tăng 5,42%, đóng góp 1,41%. Ngành xây dựng tăng 8,36%, đóng góp 5,74%.

Trong khu vực dịch vụ, nhu cầu tiêu dùng vào dịp Tết Nguyên đán và khách quốc tế đến Việt Nam tăng cao góp phần thúc đẩy tăng trưởng của ngành thương mại và dịch vụ. Đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế quý I năm nay như sau: Ngành bán buôn và bán lẻ tăng 9,62% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp 14,52%; ngành vận tải kho bãi tăng 8,95%, đóng góp 6,95%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,70%, đóng góp 5,09%; ngành thông tin và truyền thông tăng 7,65%, đóng góp 4,21%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 7,49%, đóng góp 2,89%.

Về cơ cấu nền kinh tế quý I/2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,89%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,15%; khu vực dịch vụ chiếm 43,45%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,51%[1].

Về sử dụng GDP quý I/2026, tiêu dùng cuối cùng tăng 8,45% so với cùng kỳ năm trước, tích lũy tài sản tăng 7,18%, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 19,85%, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 24,27%.

Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý I năm 2026- Ảnh 2.

 

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

– Lúa đông xuân: Tính đến ngày 20/3/2026, cả nước gieo cấy được 2.915,2 nghìn ha lúa đông xuân, giảm 37,3 nghìn ha so với vụ đông xuân năm 2025. Trong đó, vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.240,7 nghìn ha, giảm 24,8 nghìn ha; diện tích thu hoạch đạt 466,8 nghìn ha, chiếm 37,6% diện tích xuống giống và giảm 28,4 nghìn ha; năng suất ước đạt 73,5 tạ/ha, tăng 0,7 tạ/ha; sản lượng ước đạt 9,1 triệu tấn, giảm 99,3 nghìn tấn.

– Lúa mùa: Kết thúc vụ lúa mùa năm 2025-2026, vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo trồng được 182,3 nghìn ha, giảm 9,4 nghìn ha so với vụ lúa mùa năm trước; năng suất ước đạt 53,5 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha; sản lượng lúa mùa ước đạt 975,3 nghìn tấn, giảm 34,5 nghìn tấn.

– Cây hàng năm: Tính đến ngày 20/3/2026, tiến độ gieo trồng một số cây rau màu vụ đông xuân như rau đậu các loại tăng so với cùng kỳ năm trước; diện tích ngô, lạc giảm chủ yếu do hiệu quả kinh tế không cao.

– Cây lâu năm: Sản lượng cây lâu năm quý I/2026 đạt khá, giá các loại nông sản chủ lực duy trì ở mức cao đã khuyến khích người dân mở rộng quy mô trồng và đầu tư chăm sóc.

– Chăn nuôi: Chăn nuôi trâu, bò quý I/2026 tiếp tục gặp khó khăn do diện tích đất dành cho chăn nuôi dần thu hẹp, hiệu quả không cao; chăn nuôi lợn tiếp tục xu hướng phục hồi, phát triển ổn định. Tổng số lợn của cả nước ước tính đến thời điểm cuối tháng 3/2026 tăng 2,9% so với cùng thời điểm năm 2025; tổng số gia cầm tăng 3,3%; tổng số bò giảm 1,9%; tổng số trâu giảm 4,8%.

b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước tháng 3/2026 ước đạt 23,9 nghìn ha, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 8,9 triệu cây, tăng 2,9%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.684,2 nghìn m3, tăng 4,1%; diện tích rừng bị thiệt hại là 9,4 ha, giảm 86,4%. Tính chung quý I/2026, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước ước đạt 45,6 nghìn ha, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 19,0 triệu cây, giảm 1,5%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 4.337,8 nghìn m3, tăng 2,6%; diện tích rừng bị thiệt hại là 57,8 ha, giảm 73,2%.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng 3/2026 ước đạt 780,7 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 495,4 nghìn tấn, tăng 6,1%; sản lượng thủy sản khai thác ước đạt 285,3 nghìn tấn, giảm 2,7%. Tính chung quý I/2026, sản lượng thủy sản ước đạt 2.184,0 nghìn tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 1.296,8 nghìn tấn, tăng 5,4%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 887,2 nghìn tấn, tăng 0,2%.

Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý I năm 2026- Ảnh 3.

3. Sản xuất công nghiệp

– Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý I/2026 ước tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2025 tăng 8,3%); trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,7%, đóng góp 7,6 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,8%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,3%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 4,7%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm.

Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở 34 địa phương trên cả nước.

– Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý I/2026 tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2025 (cùng kỳ năm 2025 tăng 5,4%).

– Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 31/3/2026 ước tăng 8,5% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 12,9% so với cùng thời điểm năm trước. Tỷ lệ tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân quý I/2026 là 84,8% (cùng kỳ năm 2025 là 90,0%).

– Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/3/2026 tăng 1,1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 2,4% so với cùng thời điểm năm trước. 

4. Hoạt động của doanh nghiệp

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp

– Trong tháng Ba, cả nước có gần 22,0 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 94,1% so với tháng trước và tăng 40,5% so với cùng kỳ năm trước; hơn 7,9 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 28,3% và giảm 13,3%; 5.059 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 18,8% và tăng 15,2%; 6.304 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 80,5% và tăng 28,7%; 3.818 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 16,0% và tăng 78,7%.

– Tính chung quý I/2026, cả nước có 96,0 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng 31,7% so với cùng kỳ năm trước; bình quân một tháng có 32,0 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là 91,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 16,5% so với cùng kỳ năm trước; bình quân một tháng có 30,6 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong quý I/2026 là hơn 1,3 triệu tỷ đồng, giảm 5,1% so với cùng kỳ năm 2025.

b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Theo kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý I/2026, có 23,8% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh tốt hơn so với quý IV/2025; 46,1% ổn định và 30,1% gặp khó khăn. Dự kiến quý II/2026, 40,8% số doanh nghiệp nhận định xu hướng sẽ tốt lên so với quý I/2026; 37,5% ổn định và 21,7% dự báo khó khăn hơn.

Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý I năm 2026- Ảnh 4.

5. Hoạt động dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành tháng Ba ước đạt 638,6 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 1.902,8 nghìn tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,0%.

Vận tải hành khách tháng 3/2026 ước đạt 539,3 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 2,2% so với tháng trước và luân chuyển 26,8 tỷ lượt khách.km, giảm 5,7%. Tính chung quý I/2026, vận tải hành khách ước đạt 1.649,8 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 84,5 tỷ lượt khách.km, tăng 11,3%.

Vận tải hàng hóa tháng 3/2026 ước đạt 272,5 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 2,9% so với tháng trước và luân chuyển 54,8 tỷ tấn.km, tăng 3,5%. Tính chung quý I/2026, vận tải hàng hóa ước đạt 810,9 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 157,6 tỷ tấn.km, tăng 12,0%.

Doanh thu viễn thông quý I/2026 theo giá hiện hành ước đạt 102,8 nghìn tỷ đồng, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,6%).

Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 3/2026 đạt gần 2,1 triệu lượt người, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 6,76 triệu lượt người, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước và là mức cao nhất của quý I các năm từ trước đến nay. Số lượt người Việt Nam xuất cảnh trong quý I/2026 ước đạt 1,2 triệu lượt người, giảm 55,0% so với cùng kỳ năm trước.

6. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, thị trường chứng khoán

– Tính đến thời điểm 24/3/2026, tổng phương tiện thanh toán tăng 1,04% so với cuối năm 2025; huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 0,44%; tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 2,15%.

– Tổng doanh thu phí bảo hiểm quý I/2026 ước đạt 57.058 tỷ đồng, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Doanh thu phí lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ước đạt 33.073 tỷ đồng, giảm 2,5%; lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 23.985 tỷ đồng, tăng 10,2%.

– Quy mô giao dịch trên thị trường chứng khoán tăng khá, góp phần huy động vốn cho doanh nghiệp. Tính chung quý I/2026, giá trị giao dịch bình quân trên thị trường cổ phiếu đạt 35.043 tỷ đồng/phiên, tăng 19,8% so với bình quân năm 2025; giá trị giao dịch bình quân trên thị trường trái phiếu đạt 21.452 tỷ đồng/phiên, tăng 2,6%; khối lượng giao dịch bình quân trên thị trường chứng khoán phái sinh đạt gần 276,9 nghìn hợp đồng/phiên, tăng 14,2%.

7. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý I/2026 theo giá hiện hành ước đạt 744,7 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước.

– Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 31/3/2026 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 15,20 tỷ USD, tăng 42,90% so với cùng kỳ năm trước.

– Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam quý I/2026 ước đạt 5,41 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong quý I/2026 có 48 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 597,2 triệu USD, gấp 2,6 lần so với cùng kỳ năm trước; có 4 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 22,8 triệu USD, gấp 4,3 lần. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 619,9 triệu USD, gấp 2,6 lần so với cùng kỳ năm trước.

8. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 3/2026 ước đạt 219,3 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước quý I/2026 đạt 829,4 nghìn tỷ đồng, bằng 32,8% dự toán năm và tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 3/2026 ước đạt 207,5 nghìn tỷ đồng. Lũy kế quý I/2026 ước đạt 530,1 nghìn tỷ đồng, bằng 16,8% dự toán năm và tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước.

9. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ[2]

a) Xuất, nhập khẩu hàng hóa[3]

Trong tháng Ba, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 93,55 tỷ USD, tăng 39,2% so với tháng trước và tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 249,50 tỷ USD, tăng 23,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19,1%; nhập khẩu tăng 27,0%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 3,64 tỷ USD.

– Xuất khẩu hàng hóa: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Ba đạt 46,44 tỷ USD, tăng 40,3% so với tháng trước và tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 122,93 tỷ USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 24,47 tỷ USD, giảm 16,6%, chiếm 19,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 98,46 tỷ USD, tăng 33,3%, chiếm 80,1%.

+ Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu quý I/2026, nhóm hàng công nghiệp chế biến đạt 110,52 tỷ USD, chiếm 89,9%

– Nhập khẩu hàng hóa: Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Ba đạt 47,11 tỷ USD, tăng 38,2% so với tháng trước và tăng 27,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2026, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 126,57 tỷ USD, tăng 27,0% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 35,2 tỷ USD, giảm 4,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 91,37 tỷ USD, tăng 45,3%.

+ Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu quý I/2026, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 118,84 tỷ USD, chiếm 93,9%

Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa quý I/2026, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 39,0 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 50,1 tỷ USD.

Theo số liệu sơ bộ, cán cân thương mại hàng hóa tháng Ba nhập siêu 0,67 tỷ USD. Tính chung quý I/2026, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 3,64 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 3,57 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 10,73 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 7,09 tỷ USD.

b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Trong quý I/2026, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước đạt 9,1 tỷ USD, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 4,9 tỷ USD (chiếm 53,8% tổng kim ngạch), tăng 16,7%; dịch vụ vận tải đạt 2,65 tỷ USD (chiếm 29,1%), tăng 29,3%.

Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ quý I/2026 ước đạt 10,78 tỷ USD (trong đó đã tính trong phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm của hàng hóa nhập khẩu là 4,0 tỷ USD), tăng 16,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 4,75 tỷ USD (chiếm 44,1% tổng kim ngạch), tăng 27,2%; dịch vụ du lịch đạt 3,8 tỷ USD (chiếm 35,3%), tăng 11,8%.

Nhập siêu dịch vụ quý I/2026 là 1,68 tỷ USD.

10. Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

a) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

– Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2026 tăng 1,23% so với tháng trước; tăng 2,44% so với tháng 12/2025 và tăng 4,65% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng CPI cao nhất của tháng Ba so với cùng kỳ năm trước trong 5 năm qua. Tính chung quý I/2026, CPI tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 3,63%.

– Chỉ số giá vàng tháng 3/2026 tăng 1,54% so với tháng trước; tăng 82,77% so với cùng kỳ năm trước; tăng 18,81% so với tháng 12/2025; bình quân quý I/2026, chỉ số giá vàng tăng 82,70%.

– Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2026 tăng 0,72% so với tháng trước; tăng 2,25% so với cùng kỳ năm trước; giảm 0,47% so với tháng 12/2025; bình quân quý I/2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,58%.

b) Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý I/2026 tăng so với cùng kỳ năm trước. Ngược lại, chỉ số giá xuất khẩu và chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa quý I/2026 giảm so với cùng kỳ năm 2025. Trong quý I/2026, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,39% so với quý IV/2025 và tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 0,68% và tăng 2,95%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 2,08% và tăng 4,07%; chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 1,44% và tăng 4,76%; chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá tăng 0,31% và giảm 0,18%; chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 0,63% và giảm 1,42%.

11. Một số tình hình xã hội

a) Lao động và việc làm

Tình hình lao động, việc làm quý I/2026 tiếp tục duy trì ổn định. Quy mô lực lượng lao động và số người có việc làm giảm so với quý trước và tăng so với cùng kỳ năm trước, phù hợp với quy luật của quý đầu năm. Thu nhập bình quân tháng của người lao động tăng so với quý trước và cùng kỳ năm trước, góp phần nâng cao đời sống và chất lượng việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm được kiểm soát; tỷ lệ lao động phi chính thức giảm so với cùng kỳ năm trước.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý I/2026 đạt 53,6 triệu người, giảm 232,9 nghìn người so với quý trước và tăng 687,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý I/2026 là 29,6%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.

Lao động có việc làm quý I/2026 ước tính là 52,5 triệu người, giảm 233,4 nghìn người, tương ứng giảm 0,4% so với quý trước và tăng 656,8 nghìn người, tương ứng tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước.

Tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động quý I/2026 là 1,68% (khu vực thành thị là 1,27%; khu vực nông thôn là 1,95%); tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,21% (khu vực thành thị là 2,46%; khu vực nông thôn là 2,04%); tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) quý I/2026 là 8,86%.

Thu nhập bình quân của lao động quý I/2026 là 9,0 triệu đồng/tháng, tăng 329,0 nghìn đồng so với quý IV/2025 và tăng 706 nghìn đồng so với cùng kỳ năm 2025.

b) Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Theo kết quả khảo sát tình hình đời sống của hộ dân cư, tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong quý I/2026 tăng lên so với cùng kỳ năm 2025 là 31,8%.

Công tác an sinh xã hội được các cấp từ Trung ương đến địa phương quan tâm thực hiện kịp thời, thiết thực. Theo báo cáo tổng hợp từ các địa phương, từ đầu năm đến nay (tính đến ngày 25/3/2026), tổng số tiền hỗ trợ an sinh xã hội cho các nhóm là gần 25,0 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 7,0 nghìn tỷ đồng so với quý I/2025. Chi tiết cho từng nhóm đối tượng cụ thể như sau: Hỗ trợ cho người có công và thân nhân của người có công với cách mạng là gần 12,7 nghìn tỷ đồng; hỗ trợ cho đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP là gần 10,4 nghìn tỷ đồng; hỗ trợ cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội là gần 1,6 nghìn tỷ đồng; hỗ trợ bất thường khác phát sinh tại địa phương là gần 366,2 tỷ đồng. Có hơn 32,6 triệu thẻ bảo hiểm y tế/sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát, tặng cho các đối tượng thụ hưởng.

Về hỗ trợ gạo, tính từ đầu năm đến ngày 27/3/2026, Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân 15,3 nghìn tấn gạo, trong đó: Hỗ trợ gần 9,1 nghìn tấn gạo cứu đói nhân dịp Tết Nguyên đán cho 604,6 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ 5,6 nghìn tấn gạo cứu đói giáp hạt cho 372,9 nghìn nhân khẩu; hỗ trợ hơn 604 tấn gạo khắc phục hậu quả thiên tai, mưa lũ cho 40,3 nghìn nhân khẩu.

Về “Chiến dịch Quang Trung”, sau 1,5 tháng triển khai, Chiến dịch đã vượt tiến độ 2 tuần, 34.759 nhà bị hư hỏng đã hoàn thành sửa chữa để người dân trở về ở trước ngày 31/12/2025, toàn bộ 1.597 nhà bị sập, đổ, lũ cuốn trôi đã được xây dựng lại và hoàn thành trước ngày 15/01/2026 để người dân có mái nhà kiên cố, chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và chuẩn bị đón xuân mới[4].

Ngày 19/3/2026, tại 121 xã biên giới trên đất liền thuộc 17 tỉnh, thành phố trên cả nước đã đồng loạt khởi công xây dựng trường nội trú liên cấp. Cùng với 108 trường đã khởi công năm 2025, nâng tổng số lên 229 trường phổ thông nội trú liên cấp, tạo điều kiện phát triển giáo dục toàn diện cho các em học sinh ở 229 xã biên giới đất liền[5].

c) Tình hình dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, ngộ độc thực phẩm

Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong quý I/2026, cả nước có 38,6 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (04 trường hợp tử vong); 22,6 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (04 trường hợp tử vong ); 2.430 trường hợp sốt phát ban nghi sởi; 81 trường hợp viêm não vi rút; 21 trường hợp viêm màng não do não mô cầu; 10 người tử vong do bệnh dại.

Về vệ sinh an toàn thực phẩm, cơ quan chức năng đã phát hiện, xử lý vụ việc thu gom, vận chuyển, giết mổ và tiêu thụ sản phẩm lợn bệnh với quy mô lớn tại một số địa phương, làm sai lệch kết quả kiểm soát giết mổ, tạo điều kiện để động vật, sản phẩm không bảo đảm điều kiện vệ sinh thú y, mất an toàn vệ sinh thực phẩm được đưa ra thị trường.

Về ngộ độc thực phẩm, trong quý I/2026 (từ ngày 19/12/2025 đến 17/3/2026), cả nước xảy ra 20 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 500 người bị ngộ độc (03 người tử vong).

d) Hoạt động văn hóa, thể thao

Trong quý I/2026, hoạt động văn hóa, lễ hội diễn ra sôi nổi trên phạm vi cả nước, tập trung vào nhiều lễ hội truyền thống và lễ hội dân gian đặc trưng vùng miền, cùng các sự kiện văn hóa tiêu biểu như Festival Phở và Tuần lễ Áo dài, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa.

Phong trào thể dục, thể thao quần chúng phát triển rộng khắp, thu hút đông đảo người dân tham gia, gắn với Ngày Thể thao Việt Nam và các hoạt động như Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân.

Thể thao thành tích cao tiếp tục được đẩy mạnh với nhiều giải đấu trong nước và quốc tế, hướng tới các sự kiện lớn của Ngành, đồng thời góp phần lan tỏa tinh thần thể thao và nâng cao vị thế thể thao Việt Nam.

Về thành tích thi đấu quốc tế, đội tuyển bóng đá nữ Việt Nam có những kết quả đan xen tại Asian Cup 2026 diễn ra tại Ô-xtrây-li-a từ ngày 01-21/3.

e) Tai nạn giao thông

Tính chung quý I năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 3.926 vụ tai nạn giao thông, làm 2.407 người chết và 2.352 người bị thương. Bình quân 1 ngày trong quý I/2026, trên địa bàn cả nước xảy ra 44 vụ tai nạn giao thông, làm 27 người chết và 26 người bị thương.

g) Thiệt hại do thiên tai

Trong quý I/2026, thiên tai làm 01 người chết, 10 người bị thương; hơn 2,4 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hại; 446 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hại. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong quý I/2026 ước tính 159,7 tỷ đồng, tăng 76,2% so với cùng kỳ năm 2025.

h) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong quý I/2026 đã phát hiện 5.591 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 4.832 vụ với tổng số tiền phạt là 87,6 tỷ đồng, tăng 24,0% so với cùng kỳ năm trước; trên địa bàn cả nước xảy ra 729 vụ cháy, nổ, làm 26 người chết và 34 người bị thương, thiệt hại ước tính 237,6 tỷ đồng, gấp 4,6 lần cùng kỳ năm trước./.