Cụ thể, việc xác định hậu quả lãng phí không qua trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản được quy định như sau:
Căn cứ vào vụ việc, vụ án hình sự đang giải quyết, khi thấy không cần thiết phải tiến hành trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản thì cơ quan, người tiến hành tố tụng căn cứ quy định của pháp luật, có thể phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, trao đổi, lấy ý kiến của cơ quan chuyên môn có liên quan để xác định hậu quả lãng phí theo các cách thức như sau:
1. Hậu quả lãng phí bằng số tiền thực tế đã sử dụng vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành;
2. Hậu quả lãng phí bằng diện tích thực tế đã xây dựng vượt tiêu chuẩn, định mức, chế độ nhân suất vốn đầu tư.
Ví dụ: Trong quá trình xây dựng Trụ sở Cơ quan B, Chủ đầu tư cố ý xây dựng vượt tiêu chuẩn, định mức trụ sở theo quy định của Chính phủ là 3.000 m2 dẫn đến toàn bộ diện tích 3.000 m2 trên không được đưa vào sử dụng. Suất vốn đầu tư đã được phê duyệt là 15.000.000 đồng/01 m2.
Trong trường hợp này, hậu quả lãng phí sẽ được tính bằng 3.000 m2 x 15.000.000 đồng/01 m2 = 45.000.000.000 đồng;
3. Hậu quả lãng phí bằng số tiền tính hao mòn, khấu hao tài sản cố định theo quy định trong thời gian tài sản không được đưa vào sử dụng do hành vi cố ý, sai phạm của đơn vị quản lý, sử dụng.
Ví dụ: Cơ quan B (đơn vị sự nghiệp công lập) triển khai thực hiện Trạm dừng nghỉ đã khánh thành kỹ thuật, đưa vào hoạt động vào năm 2023, với nguyên giá của tài sản cố định hình thành từ Dự án đầu tư là 300.000.000.000 đồng. Theo quy định, Cơ quan B phải thực hiện chế độ quản lý, tính hao mòn tài sản đối với Trạm dừng nghỉ với tỷ lệ hao mòn 2,5%/năm. Do lỗi cố ý của Cơ quan B, Trạm dừng nghỉ đã ngừng hoạt động từ tháng 01/2024 đến tháng 12/2024.
Theo quy định của pháp luật, số tiền tính hao mòn tài sản là 300.000.000.000 đồng x 2,5%/năm = 7.500.000.000 đồng. Đây được xác định là hậu quả lãng phí;
4. Hậu quả lãng phí bằng số tiền thực tế từ nguồn vốn nhà nước đã đầu tư xây dựng công trình nhân với trung bình lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thấp nhất của các Ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ trong khoảng thời gian công trình, dự án dừng thi công do lỗi cố ý thực hiện các hành vi sai phạm trong quá trình thực hiện Dự án.
Ví dụ: Dự án đầu tư công của Bộ A có tổng mức đầu tư 10.000.000.000.000 đồng, thời gian thực hiện dự án ban đầu từ năm 2014 đến năm 2017 và được gia hạn đến hết năm 2020. Dự án chưa có hồ sơ thiết kế, chưa lập dự toán, chưa đủ điều kiện để triển khai theo quy định pháp luật nhưng Bộ A đã tổ chức đấu thầu lựa chọn Nhà thầu xây lắp và tiến hành thi công. Tổng số tiền từ nguồn vốn Nhà nước đã giải ngân là 5.000.000.000.000 đồng. Sau đó, Dự án đã ngừng thi công trong khoảng thời gian từ 01/01/2021 đến 31/12/2024 do hành vi sai phạm nêu trên.
Hậu quả lãng phí trong trường hợp này được tính trên cơ sở trung bình lãi suất tiền gửi VNĐ có kỳ hạn 01 tháng của 04 Ngân hàng (Vietcombank, Vietinbank, BIDV, Agribank) trong khoảng thời gian ngừng thi công từ ngày 01/01/2021 đến ngày 31/12/2024 trên tổng số tiền 5.000.000.000.000 đồng đã giải ngân.
Số tiền lãng phí là 5.000.000.000.000 đồng x 4 năm x 1,5%/năm (trung bình lãi suất tiền gửi VNĐ có kỳ hạn 01 tháng) = 300.000.000.000 đồng;
5. Hậu quả lãng phí bằng tổng chi phí đã bỏ ra để thi công, xây dựng và chi phí tháo dỡ, phục hồi hiện trạng ban đầu khi công trình đó không đảm bảo mục tiêu đầu tư do lỗi cố ý, vi phạm của Chủ đầu tư trong quá trình triển khai dự án.
Ví dụ: Ủy ban nhân dân tỉnh X là Chủ đầu tư thực hiện Dự án công trình dẫn nước sạch về bản Y. Do lỗi cố ý vi phạm, gian dối trong quá trình khảo sát thực tế, xây dựng báo cáo kinh tế kỹ thuật của Dự án, sau khi hoàn thành công trình không thể kết nối, đưa nước về bản Y theo mục tiêu đầu tư ban đầu dẫn đến phải tháo bỏ toàn bộ công trình. Tổng số tiền thực tế đã đầu tư vào công trình là 500.000.000 đồng; chi phí tháo dỡ công trình là 200.000.000 đồng.
Hậu quả lãng phí được xác định là tổng số tiền đã đầu tư và chi phí tháo dỡ là 500.000.000 đồng + 200.000.000 đồng = 700.000.000 đồng.