Quy định xác định kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng; yêu cầu các tổ chức đảng phải chủ động thực hiện và chấp hành việc kiểm tra, giám sát của cấp có thẩm quyền. Công tác kiểm tra, giám sát phải bảo đảm đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục, thẩm quyền; thực hiện dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác và nghiêm minh.
Đặc biệt, phải chủ động phát hiện sớm, phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục khuyết điểm, vi phạm ngay từ khi mới manh nha; đồng thời bảo vệ cái đúng, người tốt, cán bộ dám đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung. Mọi tổ chức đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, không có ngoại lệ.
Quy định gồm 7 chương, 35 điều, quy định cụ thể về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; thi hành kỷ luật trong Đảng; giải quyết tố cáo, khiếu nại kỷ luật đảng; đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp ủy của cấp ủy viên và đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng theo thẩm quyền.
Về công tác kiểm tra, giám sát, Quy định làm rõ trách nhiệm, thẩm quyền của cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan tham mưu, giúp việc cấp ủy, chi bộ và ủy ban kiểm tra các cấp. Nội dung kiểm tra, giám sát tập trung vào việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thực hiện nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; công tác cán bộ; thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; giải quyết khiếu nại, tố cáo; kê khai, công khai, kiểm soát tài sản, thu nhập; lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chuyển đổi số, cải cách hành chính, cải cách pháp luật và tư pháp.
Quy định cũng nhấn mạnh việc phát hiện dấu hiệu vi phạm thông qua công tác quản lý, kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, phản ánh của Nhân dân, thông tin báo chí đã được kiểm chứng và các phần mềm giám sát, hệ thống cơ sở dữ liệu số.
Đối với Ủy ban kiểm tra các cấp, Quy định quy định cụ thể nguyên tắc tổ chức, chế độ làm việc, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và số lượng ủy viên; đồng thời xác định rõ trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng. Đáng chú ý, ủy ban kiểm tra được quyền kết nối cơ sở dữ liệu của các cơ quan nhà nước trong các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, đăng ký tài sản, đất đai, thuế, thanh tra, kiểm toán, truy tố, xét xử, thi hành án và các cơ sở dữ liệu khác để phục vụ công tác kiểm tra, giám sát theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Về thi hành kỷ luật trong Đảng, Quy định yêu cầu việc xem xét, quyết định kỷ luật phải căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, ảnh hưởng, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ. Việc xử lý kỷ luật phải bảo đảm nghiêm minh, kịp thời, đồng bộ với việc xem xét, xử lý kỷ luật hành chính, đoàn thể hoặc xử lý theo pháp luật; đồng thời gắn với giáo dục, quản lý, giúp tổ chức đảng và đảng viên nhận thức rõ khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa.
Quy định cũng đề cao trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong việc tổ chức nghiên cứu, quán triệt và triển khai thực hiện; giao Ban Bí thư hướng dẫn cụ thể một số nội dung thực hiện Quy định.
Quy định số 225-QĐ/TW có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, thay thế Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Đối với các trường hợp kiểm tra, giám sát đã thông qua dự thảo báo cáo thẩm tra, xác minh trước thời điểm Quy định số 225-QĐ/TW có hiệu lực, việc thực hiện tiếp tục áp dụng theo Quy định số 21-QĐ/TW.











































