Theo dự thảo Nghị định, khách hàng vay vốn tín dụng chính sách xã hội của Nhà nước phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
1. Đối với khách hàng là hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và hộ đồng bào dân tộc thiểu số:
a) Cư trú hợp pháp tại địa phương;
b) Có tên trong danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo do Ủy ban nhân dân xã công bố hoặc có tên trong danh sách hộ thoát nghèo; hộ đồng bào dân tộc thiểu số do Ủy ban nhân dân xã xác nhận;
c) Thành viên đại diện hộ gia đình ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Chính sách xã hội có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của phápluật;
d) Có nhu cầu vay vốn để sử dụng vào mục đích vay vốn của các chương trình tín dụng chính sách.
2. Đối với khách hàng là các đối tượng khác:
a) Cư trú hợp pháp tại địa phương và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật (đối với khách hàng là cá nhân hoặc cá nhân đại diện cho hộ gia đình);
b) Được thành lập, hoạt động hợp pháp tại Việt Nam (đối với khách hàng là doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, hợp tác xã và các tổ chức khác);
c) Có phương án sử dụng vốn vay được Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) thẩm định, đánh giá là có hiệu quả, có khả năng tài chính để trả nợ tại thời điểm Ngân hàng Chính sách xã hội xem xét và quyết định cho vay;
d) Các điều kiện khác đối với từng đối tượng cho vay thực hiện theo quy định pháp luật do cấp có thẩm quyền ban hành.
3. Việc xác thực thông tin khách hàng, tình trạng cư trú, tình trạng hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách khác được ưu tiên thực hiện thông qua khai thác, kết nối và sử dụng dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định của pháp luật.
Bộ Tài chính cho biết, Nghị định số 78/2002/NĐ-CP chưa có quy định nguyên tắc chung về điều kiện cho vay mà chỉ quy định về điều kiện cho vay đối với hộ nghèo; theo đó, điều kiện cho vay tại các chương trình tín dụng chính sách hiện nay chưa có sự thống nhất, dẫn đến sự thiếu nhất quán và phức tạp trong triển khai, làm gia tăng khó khăn trong quản lý. Nội dung này cũng đã được Kiểm toán Nhà nước (KTNN) ghi nhận tại công văn số 99/KTNN-TH ngày 04/7/2025 của Kiểm toán Nhà nước về gửi Báo cáo kiểm toán NHCSXH.
Tại Chỉ thị số 39/CT-TW của Ban Bí thư và Quyết định số 05/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Ban Bí thư và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo: (i) mức độ ưu đãi về lãi suất phân biệt theo các nhóm đối tượng thụ hưởng, sẽ giảm dần và được thay thế bằng các hình thức ưu đãi về quy trình, thủ tục và điều kiện vay vốn; (ii) mức ưu đãi cao nhất dành cho hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi; tiếp đến là hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo; các đối tượng chính sách khác, mức ưu đãi được điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế.
Để triển khai chỉ đạo của Ban Bí thư và Thủ tướng Chính phủ cũng như khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực tế nêu trên, Bộ Tài chính trình Chính phủ quy định những nguyên tắc chung về điều kiện cho vay đối với các đối tượng vay vốn theo hướng quy định mức độ ưu đãi về điều kiện vay vốn cao nhất áp dụng đối với nhóm khách hàng là hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và hộ dân tộc thiểu số (cơ bản không thay đổi so với quy định hiện hành); đối với nhóm khách hàng không thuộc đối tượng khó khăn nêu trên, việc vay vốn để phục vụ các mục tiêu của Nhà nước trong từng thời kỳ (như mục tiêu về việc làm, về xuất khẩu lao động,...), ngoài các ưu đãi về quy trình, thủ tục, tài sản đảm bảo, dự thảo Nghị định bổ sung điều kiện phương án vay vốn của nhóm đối tượng này cần phải được NHCSXH thẩm định, đánh giá là có hiệu quả, có khả năng tài chính để trả nợ để tăng cường hiệu quả tín dụng chính sách của Nhà nước, đảm bảo an toàn cho hoạt động của Ngân hàng.
a) Đối với hộ nghèo và hộ đồng bào dân tộc thiểu số: lãi suất cho vay được xác định hằng năm bằng 65% lãi suất cho vay bình quân của hệ thống ngân hàng thương mại trong nước trong cùng thời kỳ;
b) Đối với các đối tượng chính sách khác: lãi suất cho vay hằng năm do Ngân hàng Chính sách xã hội xem xét, quy định đảm bảo cao hơn mức lãi suất cho vay hộ nghèo và hộ đồng bào dân tộc thiểu số quy định tại điểm a nêu trên và thấp hơn mức lãi suất cho vay bình quân của hệ thống ngân hàng thương mại trong nước trong cùng thời kỳ.
Theo Bộ Tài chính, Nghị định số 78/2002/NĐ-CP quy định lãi suất cho vay ưu đãi cho hộ nghèo do Thủ tướng Chính phủ quyết định cho từng thời kỳ theo đề nghị của Hội đồng quản trị NHCSXH, thống nhất một mức trong phạm vi cả nước, trừ các tổ chức kinh tế thuộc khu vực II, III miền núi và thuộc chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa do Hội đồng quản trị quyết định có phân biệt lãi suất giữa khu vực II và khu vực III.
Thực tế thời gian qua, lãi suất cho vay của NHCSXH đang áp dụng theo từng mục đích vay vốn, không phân biệt theo đối tượng thụ hưởng; đồng thời chưa có quy định khung về nguyên tắc xác định lãi suất dẫn đến có thời điểm lãi suất trên thị trường tăng hoặc giảm mạnh nhưng lãi suất cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác chưa được điều chỉnh kịp thời, thiếu tính linh hoạt, ảnh hướng đến đối tượng vay vốn.
Tại Chỉ thị số 39/CT-TW của Ban Bí thư và Quyết định số 05/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Ban Bí thư và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo: (i) mức độ ưu đãi về lãi suất phân biệt theo các nhóm đối tượng thụ hưởng, sẽ giảm dần và được thay thế bằng các hình thức ưu đãi về quy trình, thủ tục và điều kiện vay vốn; (ii) mức ưu đãi cao nhất dành cho hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi; tiếp đến là hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo; các đối tượng chính sách khác, mức ưu đãi được điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế.
Tại các buổi khảo sát thực tế tại các địa phương vừa qua, một số địa phương (Gia Lai và Tây Ninh) có ý kiến cho rằng cần phải điều chỉnh lãi suất cho vay tại NHCSXH theo hướng linh hoạt, phù hợp với tình hình biến đổi của lãi suất trên thị trường để tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng vay vốn NHCSXH nhất là khách hàng vay vốn là người nghèo, người dân tộc thiểu số…
Do đó, để đảm bảo thống nhất, đồng bộ hệ thống các quy định về tín dụng chính sách xã hội thực hiện qua NHCSXH, phù hợp với chỉ đạo định hướng về lãi suất của Ban Bí Thư tại Chỉ thị số 39-CT/TW và Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 05/QĐ-TTg đồng thời để đảm bảo tăng cường phân cấp phân quyền, linh hoạt, chủ động, kịp thời trong việc điều hành lãi suất cho vay tại NHCSXH và tăng cường tính tự chủ về tài chính cho NHCSXH, Bộ Tài chính trình Chính phủ hoàn thiện lại cơ chế xác định lãi suất cho vay tại NHCSXH theo hướng quy định cụ thể nguyên tắc xác định lãi suất như trên.