Mô hình tăng trưởng kiến tạo năng lực trả lời câu hỏi kinh tế nước ta cần phát triển theo con đường nào để trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, thì điều gì quyết định mô hình đó có thể vận hành hiệu quả trong thực tiễn và tạo ra những năng lực phát triển mới? Câu trả lời nằm ở nền thể chế bao trùm, hiện đại và kiến tạo năng lực.
Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, khó lường, cạnh tranh ngày càng dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo, thể chế không chỉ là công cụ quản lý hay điều hành nền kinh tế, quan trọng hơn, thể chế phải trở thành nền tảng để khơi dậy, kiến tạo và phát huy năng lực của con người, doanh nghiệp và quốc gia. Đây cũng chính là điều kiện quyết định để hiện thực hóa mô hình tăng trưởng mới và khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045.
Lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, sự khác biệt về tài nguyên thiên nhiên, quy mô dân số, vị trí địa lý có thể tạo nên những lợi thế ban đầu. Tuy nhiên, điều quyết định khả năng bứt phá và phát triển bền vững nằm ở chất lượng của thể chế.
Mô hình tăng trưởng đúng sẽ mở ra hướng đi cho nền kinh tế. Nhưng mô hình đó chỉ có thể tạo ra kết quả khi được vận hành trên một nền thể chế phù hợp. Nói cách khác, mô hình tăng trưởng quyết định hướng phát triển, còn thể chế quyết định khả năng hiện thực hóa hướng phát triển đó.
Đối với Việt Nam, sau bốn thập kỷ đổi mới, thể chế đã góp phần quan trọng tạo lập môi trường ổn định, huy động và phát huy các nguồn lực để đất nước đạt được những thành tựu phát triển có ý nghĩa lịch sử.
Tuy nhiên, trong giai đoạn phát triển mới, khi mục tiêu không chỉ là phát triển nhanh mà còn phải bền vững và trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, yêu cầu đối với thể chế cũng phải được nâng lên một tầm cao mới.
Nền thể chế chỉ tạo điều kiện cho tăng trưởng là chưa đủ, điều quan trọng hơn là phải không ngừng kiến tạo những năng lực phát triển mới để nền kinh tế có thể thích ứng với sự thay đổi nhanh của khoa học, công nghệ, của cạnh tranh toàn cầu và những biến động khó lường của kinh tế thế giới. Nhìn từ góc độ đó, giá trị của thể chế không chỉ được đo bằng khả năng quản lý xã hội hay điều hành nền kinh tế, mà còn bằng khả năng chuẩn bị cho tương lai.
Thể chế không trực tiếp tạo ra của cải vật chất, nhưng quyết định khả năng xã hội tạo ra của cải vật chất. Thể chế không trực tiếp tạo ra đổi mới sáng tạo, nhưng quyết định khả năng đổi mới sáng tạo được hình thành và phát triển. Thể chế không trực tiếp tạo nên sức mạnh quốc gia, nhưng quyết định khả năng kiến tạo và phát huy sức mạnh ấy.
Đó cũng chính là lý do vì sao cải cách thể chế cần được nhìn nhận như một chiến lược phát triển lâu dài, chứ không chỉ là yêu cầu hoàn thiện bộ máy hay cải cách thủ tục hành chính.
Trong giai đoạn phát triển mới, chất lượng thể chế sẽ quyết định chất lượng tăng trưởng. Nền thể chế biết kiến tạo năng lực sẽ tạo ra động lực phát triển mới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, mở rộng không gian phát triển cho nhiều thế hệ mai sau.

Thực tiễn phát triển của thế giới cho thấy, thể chế cũng không ngừng phát triển cùng với trình độ phát triển của nền kinh tế và yêu cầu của từng thời kỳ.
Trong giai đoạn trước, mục tiêu chủ yếu của thể chế nước ta là duy trì trật tự, bảo đảm kỷ cương và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Khi nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, thể chế tiếp tục được hoàn thiện để tạo lập môi trường thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh và huy động các nguồn lực cho tăng trưởng.
Ngày nay, trước những biến đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ, của kinh tế số, trí tuệ nhân tạo và cạnh tranh toàn cầu, yêu cầu đối với thể chế tiếp tục được nâng lên.
Thể chế quản lý chủ yếu hướng tới mục tiêu bảo đảm trật tự, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và thực thi pháp luật. Thể chế kiến tạo phát triển hướng tới mục tiêu tạo lập môi trường thuận lợi để huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho tăng trưởng.
Cao hơn một bước, thể chế bao trùm, hiện đại và kiến tạo năng lực hướng tới mục tiêu tạo dựng những năng lực phát triển mới của con người, doanh nghiệp và quốc gia, coi đó là nền tảng của tăng trưởng nhanh, bền vững trong dài hạn. Đó không phải là sự thay thế cách tiếp cận trước đây, mà là một bước phát triển mới trong tư duy về thể chế.
Nền thể chế bao trùm, hiện đại và kiến tạo năng lực không chỉ là yêu cầu của cải cách thể chế trong giai đoạn mới, mà còn là nền tảng của mô hình tăng trưởng mới.
Bao trùm để mọi người dân và doanh nghiệp đều có cơ hội phát triển, đóng góp và thụ hưởng thành quả phát triển; hiện đại để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ và môi trường cạnh tranh toàn cầu; kiến tạo năng lực để chuyển những cơ hội phát triển thành năng lực của con người, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sức mạnh của quốc gia. Ba yếu tố này không tách rời nhau mà bổ sung cho nhau, tạo thành nền tảng thể chế của một quốc gia phát triển trong thế kỷ XXI.
Theo cách tiếp cận đó, nhiệm vụ của thể chế không chỉ dừng lại ở việc tháo gỡ những rào cản của hiện tại, mà phải chủ động chuẩn bị những điều kiện để đất nước phát triển trong nhiều thập niên tới. Đó cũng chính là bước chuyển quan trọng từ tư duy quản lý sự phát triển sang tư duy kiến tạo năng lực phát triển.
Xây dựng nền thể chế bao trùm, hiện đại và kiến tạo năng lực không chỉ là yêu cầu của cải cách thể chế, mà là lựa chọn chiến lược để hiện thực hóa mô hình tăng trưởng mới và khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045.

Mục tiêu của mô hình tăng trưởng mới nhằm không ngừng kiến tạo và phát huy năng lực nội sinh của đất nước, khi đó nhiệm vụ quan trọng nhất của thể chế trong giai đoạn phát triển mới là tạo dựng những năng lực chiến lược để con người, doanh nghiệp và quốc gia không chỉ đáp ứng yêu cầu của hiện tại mà còn đủ khả năng nắm bắt những cơ hội của tương lai.
Giá trị của nền thể chế vì thế không chỉ được đánh giá ở khả năng giải quyết những vấn đề trước mắt, mà còn ở khả năng chuẩn bị cho quá trình phát triển lâu dài của đất nước.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, nền thể chế bao trùm, hiện đại và kiến tạo năng lực cần tập trung kiến tạo năm năng lực chiến lược sau đây.
Thứ nhất, kiến tạo năng lực phát triển con người - nền tảng của mọi chiến lược phát triển. Con người luôn là trung tâm, mục tiêu, đồng thời là động lực của phát triển. Trong kỷ nguyên tri thức và đổi mới sáng tạo, nguồn lực quan trọng nhất của quốc gia không chỉ là vốn, tài nguyên hay công nghệ, mà là con người có năng lực học tập suốt đời, khả năng sáng tạo, năng lực thích ứng và tinh thần cống hiến.
Vì vậy, thể chế trước hết phải hướng tới việc tạo lập môi trường để mỗi người dân đều có cơ hội phát triển năng lực của mình, được học tập, đổi mới sáng tạo, cống hiến trên cơ sở năng lực, phẩm chất và khát vọng vươn lên.
Đặc biệt, thể chế cần tạo động lực cho một cuộc đổi mới mạnh mẽ hệ thống giáo dục và đào tạo theo hướng phát triển năng lực, tư duy độc lập, khả năng sáng tạo và kỹ năng thích ứng, thay vì chủ yếu truyền thụ kiến thức. Giáo dục không chỉ có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho nền kinh tế hôm nay, mà phải chuẩn bị những công dân có đủ năng lực để làm chủ những thay đổi của nhiều thập niên tới.
Một quốc gia chỉ có thể phát triển nhanh, bền vững khi phát triển của mỗi con người trở thành một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển quốc gia.
Thứ hai, kiến tạo năng lực phát triển doanh nghiệp - động lực trực tiếp của tăng trưởng. Doanh nghiệp là chủ thể tạo ra của cải vật chất, việc làm, đổi mới công nghệ và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Bởi vậy, nhiệm vụ của thể chế không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động, quan trọng hơn là giúp hình thành đội ngũ doanh nghiệp trong nước có năng lực đổi mới sáng tạo, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, đủ sức cạnh tranh trong môi trường quốc tế.
Nền thể chế kiến tạo năng lực phải khuyến khích doanh nghiệp đầu tư dài hạn, nghiên cứu và phát triển, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng suất lao động, xây dựng thương hiệu. Đồng thời, phải bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và ổn định để doanh nghiệp yên tâm đầu tư cho tương lai.
Khi doanh nghiệp phát triển bằng năng suất, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nền kinh tế sẽ có được động lực tăng trưởng bền vững hơn
Thứ ba, kiến tạo năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo - động lực của tăng trưởng trong thế kỷ XXI. Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia ngày càng được quyết định bởi năng lực tạo ra tri thức mới, làm chủ công nghệ mới, chuyển nhanh các kết quả nghiên cứu thành giá trị kinh tế và xã hội.
Do đó, thể chế cần tạo lập hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thông thoáng, khuyến khích nghiên cứu, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, trường đại học và các viện nghiên cứu; đồng thời tạo điều kiện để các công nghệ mới nhanh chóng được ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh và quản trị quốc gia.
Quan trọng hơn, thể chế phải tạo dựng môi trường với đổi mới sáng tạo trở thành nhu cầu tự thân của toàn xã hội, chứ không chỉ là nhiệm vụ của một số tổ chức, ngành hay lĩnh vực.
Thứ tư, kiến tạo năng lực phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển. Trong điều kiện nguồn lực luôn có giới hạn, chất lượng phát triển phụ thuộc rất lớn vào khả năng phân bổ nguồn lực đến đúng nơi có thể tạo ra giá trị gia tăng và năng suất cao nhất.
Vì vậy, thể chế phải bảo đảm mọi nguồn lực, từ vốn, đất đai, lao động, dữ liệu đến khoa học công nghệ được vận hành theo tín hiệu thị trường, trong khuôn khổ pháp luật minh bạch và dưới sự điều tiết hiệu quả của Nhà nước.
Nền thể chế tốt không chỉ huy động được nhiều nguồn lực hơn, mà còn giúp sử dụng hiệu quả hơn từng nguồn lực của quốc gia.
Thứ năm, kiến tạo năng lực thích ứng và chống chịu trước những biến động của thế giới. Thế giới trong những thập niên tới sẽ tiếp tục đối mặt với những biến động khó dự báo về địa chính trị, kinh tế, công nghệ, khí hậu, dịch bệnh và an ninh phi truyền thống.
Trong bối cảnh đó, nền thể chế hiện đại không chỉ tạo điều kiện cho phát triển trong điều kiện bình thường, mà phải giúp quốc gia đủ năng lực ứng phó khi xuất hiện những cú sốc từ bên ngoài.
Điều này đòi hỏi thể chế phải nâng cao năng lực dự báo chiến lược, hoàn thiện cơ chế cảnh báo sớm, tăng cường khả năng phối hợp chính sách, nâng cao chất lượng quản trị rủi ro và xây dựng cơ chế phản ứng chính sách linh hoạt, nhất quán.
Khả năng thích ứng và chống chịu không chỉ giúp giảm thiểu tổn thất trước những biến động bất lợi, mà còn tạo điều kiện để biến thách thức thành cơ hội, củng cố sức mạnh nội sinh và nâng cao vị thế của nền kinh tế trong môi trường cạnh tranh toàn cầu.
Năm năng lực chiến lược đề cập ở trên không tồn tại độc lập mà gắn kết chặt chẽ, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau. Thể chế càng tạo dựng tốt các năng lực này thì năng lực nội sinh của quốc gia càng được củng cố, mô hình tăng trưởng mới càng có nền tảng vững chắc để vận hành hiệu quả và khát vọng phát triển đến năm 2045 càng có điều kiện để trở thành hiện thực.
Nền thể chế bao trùm, hiện đại và kiến tạo năng lực không chỉ tạo lập môi trường cho phát triển, mà còn chủ động kiến tạo những năng lực chiến lược của con người, doanh nghiệp và quốc gia. Đó chính là giá trị cốt lõi và cũng là thước đo cao nhất của chất lượng thể chế trong giai đoạn phát triển mới.
Nền thể chế dù được thiết kế tiến bộ đến đâu cũng sẽ không tự tạo ra tăng trưởng, năng suất hay sức cạnh tranh nếu không được tổ chức thực thi hiệu quả. Lịch sử phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, khoảng cách giữa chủ trương và kết quả phát triển thường không nằm ở tầm nhìn chiến lược, mà nằm ở năng lực quản trị và tổ chức thực hiện.
Đối với Việt Nam, yêu cầu xây dựng nền thể chế bao trùm, hiện đại và kiến tạo năng lực cần được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với đổi mới quản trị quốc gia và nâng cao năng lực thực thi ở tất cả các cấp.
Thể chế tạo ra khuôn khổ. Quản trị tạo ra phương thức vận hành. Thực thi tạo ra kết quả. Ba yếu tố này không thể tách rời mà tạo thành một chỉnh thể thống nhất của quá trình phát triển.
Chủ trương đúng sẽ chỉ phát huy đầy đủ giá trị khi được thể chế hóa kịp thời, được tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng bộ và được giám sát bằng những tiêu chí minh bạch, lấy hiệu quả phát triển và sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo.
Ngược lại, nếu khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn ngày càng lớn thì ngay cả những chủ trương đúng cũng khó tạo ra kết quả như mong muốn.
Trong bối cảnh cạnh tranh quốc gia ngày càng quyết liệt, thời gian sẽ trở thành nguồn lực phát triển đặc biệt. Mỗi chính sách được thực thi sớm và hiệu quả không chỉ tạo ra kết quả kinh tế mà còn tạo dựng niềm tin xã hội, khuyến khích đổi mới sáng tạo, mở rộng không gian phát triển cho đất nước.
Vì vậy, cải cách thể chế không nên chỉ nhìn nhận là hoàn thiện hệ thống pháp luật hay đổi mới bộ máy quản lý, mà cần được coi là chiến lược đầu tư cho tương lai. Đầu tư cho thể chế chính là đầu tư cho năng lực nhát triển của quốc gia.
Giá trị của thể chế không chỉ nằm ở chất lượng của các quy định, mà còn ở khả năng được chuyển hóa thành năng lực quản trị và kết quả phát triển trong thực tiễn. Đó mới là thước đo cuối cùng của một nền thể chế kiến tạo.
Khát vọng trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đòi hỏi Việt Nam không chỉ lựa chọn đúng mô hình tăng trưởng mà còn phải xây dựng được nền thể chế đủ năng lực dẫn dắt và đồng hành cùng quá trình phát triển.
Nền thể chế bao trùm, hiện đại và kiến tạo năng lực sẽ không chỉ tháo gỡ những điểm nghẽn của hiện tại, quan trọng hơn là tạo dựng những năng lực mới cho con người, doanh nghiệp và quốc gia.
Đó là nền tảng để đổi mới sáng tạo trở thành động lực, để nguồn lực được phân bổ hiệu quả hơn, để nền kinh tế nâng cao khả năng thích ứng trước những biến động của thế giới và để khát vọng phát triển được chuyển hóa thành kết quả cụ thể.
Tuy nhiên, thể chế mới chỉ tạo ra tiềm năng phát triển. Tiềm năng đó chỉ trở thành thành quả phát triển khi được hiện thực hóa bằng một nền quản trị hiện đại và năng lực thực thi hiệu quả.
Mỗi quyết sách đúng hôm nay, cùng với một nền quản trị hiện đại và thực thi hiệu quả, sẽ tạo ra những thành quả phát triển trong nhiều năm sau. Ngược lại, một chủ trương đúng nhưng chậm được thể chế hóa hoặc thực thi không hiệu quả có thể làm giảm hiệu lực của chính sách và làm mất đi những cơ hội phát triển quý giá của đất nước.
Đó cũng là lý do vì sao cải cách thể chế và đổi mới quản trị quốc gia phải được nhìn nhận như hai mặt thống nhất của cùng một quá trình phát triển.
Mục tiêu cuối cùng của mọi cải cách thể chế không chỉ nhằm xây dựng hệ thống pháp luật hoàn thiện hơn hay bộ máy quản lý hiệu quả hơn, mà là không ngừng kiến tạo và phát huy năng lực của con người, doanh nghiệp và quốc gia, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Đó cũng chính là con đường để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hùng cường vào năm 2045.
Cũng từ đây, đặt ra yêu cầu làm thế nào để những tư tưởng đúng, thể chế tiến bộ và những quyết sách chiến lược được chuyển hóa thành kết quả trong thực tiễn?
Lời giải không chỉ nằm ở chất lượng của thể chế, mà còn ở chất lượng của quản trị quốc gia và năng lực thực thi. Đây sẽ là nội dung cần được làm rõ trong quá trình xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, lấy hiệu quả thực thi làm thước đo, lấy kiến tạo năng lực làm định hướng, lấy phát triển của đất nước, hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất./.
Nguyễn Bích Lâm
Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê