In bài viết

KINH TẾ TƯ NHÂN: TỪ ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG ĐẾN NỀN TẢNG SỨC MẠNH CẠNH TRANH QUỐC GIA

10:44 - 06/07/2026

(Chinhphu.vn) - Muốn xây dựng một nền kinh tế tự chủ, tự cường, có sức cạnh tranh quốc tế, Việt Nam cần một khu vực kinh tế tư nhân đủ lớn, đủ mạnh, đủ khả năng vươn ra khu vực và thế giới.

KINH TẾ TƯ NHÂN: TỪ ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG ĐẾN NỀN TẢNG SỨC MẠNH CẠNH TRANH QUỐC GIA- Ảnh 1.

Sau 4 thập kỷ đổi mới, khu vực kinh tế tư nhân đã có bước phát triển mạnh mẽ, trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế, đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng, tạo việc làm, huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, yêu cầu đặt ra không chỉ là phát triển kinh tế tư nhân về số lượng mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Muốn xây dựng một nền kinh tế tự chủ, tự cường, có sức cạnh tranh quốc tế, Việt Nam cần một khu vực kinh tế tư nhân đủ lớn, đủ mạnh, đủ khả năng vươn ra khu vực và thế giới.

Thay đổi tư duy phát triển về kinh tế tư nhân

Một trong những thành tựu quan trọng của quá trình đổi mới là sự thay đổi sâu sắc trong nhận thức và tư duy phát triển đối với khu vực kinh tế tư nhân.

Từ chỗ chỉ được nhìn nhận như một khu vực kinh tế bổ sung, hoạt động trong phạm vi hạn chế, kinh tế tư nhân ngày nay đã được khẳng định là một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường.

Sự thay đổi đó không chỉ thể hiện trong các chủ trương, nghị quyết của Đảng mà còn được cụ thể hóa trong hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách và môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng thông thoáng hơn.

Thực tiễn phát triển qua bốn thập kỷ cho thấy, ở đâu có môi trường kinh doanh thuận lợi, ở đó khu vực kinh tế tư nhân phát triển năng động, tạo ra việc làm, thu hút đầu tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế.

Hiện nay, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 50% GDP, tạo ra phần lớn việc làm, ngày càng giữ vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế. Nhiều doanh nghiệp tư nhân đã vươn lên trở thành những doanh nghiệp lớn, tham gia vào các ngành kinh tế có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn trước.

Tuy nhiên, nếu nhìn vào yêu cầu phát triển của giai đoạn tới, những kết quả đạt được mới chỉ là bước khởi đầu. Hiện nay, nền kinh tế không chỉ cần có thêm nhiều doanh nghiệp sản xuất mà còn phải hình thành được khu vực kinh tế tư nhân có năng lực cạnh tranh quốc tế, có khả năng dẫn dắt đổi mới sáng tạo và trở thành lực lượng nòng cốt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Đó cũng là lý do vì sao vấn đề phát triển kinh tế tư nhân đang được đặt trong một tầm nhìn mới, không chỉ là phát triển một khu vực kinh tế mà là xây dựng nền tảng cho sức mạnh cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn phát triển mới.

Chúng ta cần nhìn nhận và thống nhất quan điểm kinh tế tư nhân không chỉ là một khu vực kinh tế; sự lớn mạnh của kinh tế tư nhân là điều kiện để Việt Nam xây dựng một nền kinh tế tự chủ, sáng tạo, có vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Vì sao kinh tế tư nhân phải trở thành động lực quan trọng nhất của mô hình tăng trưởng mới?

Trong nhiều năm qua, tăng trưởng kinh tế được hình thành bởi nhiều động lực khác nhau như đầu tư công, xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tiêu dùng trong nước. Những động lực này tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn hiện nay.

Tuy nhiên, thực tiễn phát triển của thế giới cho thấy không một quốc gia nào có thể duy trì tăng trưởng cao trong dài hạn nếu không xây dựng được khu vực doanh nghiệp trong nước đủ mạnh.

Đầu tư công có thể tạo dựng kết cấu hạ tầng và dẫn dắt phát triển. FDI có thể bổ sung vốn, công nghệ và mở rộng thị trường. Nhưng chỉ khu vực doanh nghiệp trong nước mới có thể tạo ra nền tảng bền vững cho năng lực cạnh tranh quốc gia.

Một nền kinh tế muốn phát triển nhanh, bền vững cần có khả năng tự tạo ra giá trị gia tăng, làm chủ công nghệ, xây dựng thương hiệu và tham gia vào các khâu có giá trị cao trong chuỗi giá trị toàn cầu. Những mục tiêu đó không thể đạt được nếu khu vực doanh nghiệp trong nước phát triển yếu, quy mô nhỏ, phụ thuộc quá lớn vào các nguồn lực bên ngoài.

Trong bối cảnh thế giới đang bước vào giai đoạn cạnh tranh mới dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu, vai trò của khu vực kinh tế tư nhân càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Khác với khu vực nhà nước, doanh nghiệp tư nhân có khả năng thích ứng nhanh với thay đổi của thị trường, nhạy bén trong việc nắm bắt cơ hội kinh doanh, có động lực mạnh mẽ trong đổi mới sáng tạo. Đây chính là các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế hiện đại.

Đặc biệt, kinh tế tư nhân là khu vực có khả năng huy động, phân bổ nguồn lực xã hội một cách linh hoạt và hiệu quả. Khi môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, nguồn lực trong dân sẽ được chuyển hóa thành vốn đầu tư, thành doanh nghiệp, thành công nghệ, thành các sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao.

Nói cách khác, sự phát triển của kinh tế tư nhân không chỉ góp phần mở rộng quy mô nền kinh tế mà còn quyết định chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đối với Việt Nam, yêu cầu phát triển trong giai đoạn tới không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn mà còn phải nâng cao chất lượng tăng trưởng, giảm phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài, tăng cường sức chống chịu của nền kinh tế trước những biến động toàn cầu.

Muốn thực hiện các mục tiêu đó, kinh tế tư nhân phải trở thành động lực quan trọng nhất của mô hình tăng trưởng mới.

Cần nhìn nhận một thực tế, sức mạnh thực sự của một nền kinh tế không đo bằng quy mô vốn đầu tư công hay lượng vốn FDI thu hút được, mà được đo bằng năng lực của chính các doanh nghiệp trong nước; bằng khả năng làm chủ công nghệ, đổi mới sáng tạo và cạnh tranh trên thị trường thế giới.

KINH TẾ TƯ NHÂN: TỪ ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG ĐẾN NỀN TẢNG SỨC MẠNH CẠNH TRANH QUỐC GIA- Ảnh 2.

Không có quốc gia phát triển nào thiếu những doanh nghiệp tư nhân mạnh

Lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho thấy một thực tế có tính quy luật: Không có quốc gia nào trở thành nền kinh tế phát triển, có năng lực cạnh tranh toàn cầu mà không xây dựng được khu vực doanh nghiệp trong nước lớn mạnh.

Nhà nước đóng vai trò kiến tạo phát triển, xây dựng thể chế và đầu tư hạ tầng; đầu tư nước ngoài có thể bổ sung vốn, công nghệ và mở rộng thị trường; nhưng lực lượng tạo nên sự năng động, sức sống lâu dài của nền kinh tế luôn là cộng đồng doanh nghiệp trong nước.

Chính các doanh nghiệp trong nước mới là chủ thể kinh tế trực tiếp tạo ra của cải vật chất, đổi mới sáng tạo, xây dựng thương hiệu quốc gia, nâng cao vị thế cạnh tranh của nền kinh tế.

Nhìn vào các nền kinh tế thành công ở châu Á có thể thấy rất rõ điều này.

Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã vươn lên trở thành cường quốc kinh tế nhờ sự lớn mạnh của các tập đoàn công nghiệp và công nghệ tư nhân như Toyota, Sony, Panasonic, Mitsubishi hay Hitachi... Đây không chỉ là những doanh nghiệp thành công mà còn là biểu tượng cho năng lực công nghệ, trình độ quản trị, sức cạnh tranh của nền kinh tế Nhật Bản.

Hàn Quốc cũng có hành trình tương tự. Từ một quốc gia nghèo tài nguyên, chịu nhiều tổn thất sau chiến tranh, Hàn Quốc đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới nhờ xây dựng được các tập đoàn tư nhân có năng lực cạnh tranh toàn cầu như Samsung, Hyundai, LG… Thành công của các tập đoàn này đã góp phần quan trọng đưa Hàn Quốc từ một quốc gia nhận viện trợ trở thành quốc gia xuất khẩu công nghệ và vốn đầu tư.

Tại Đông Nam Á, Singapore mặc dù có quy mô nhỏ nhưng vẫn hình thành được nhiều doanh nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế trong lĩnh vực logistics, tài chính, hàng hải, bất động sản và công nghệ. Chính các doanh nghiệp này đã góp phần đưa Singapore trở thành một trong những trung tâm kinh tế và tài chính hàng đầu thế giới.

Trường hợp của Trung Quốc cũng mang lại nhiều bài học có giá trị đối với Việt Nam.

Khi bắt đầu cải cách và mở cửa năm 1978, Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam: Xuất phát điểm thấp, cơ cấu kinh tế lạc hậu, năng suất lao động thấp và nhu cầu thu hút mạnh mẽ nguồn lực từ bên ngoài để phục vụ phát triển.

Trong giai đoạn đầu, Trung Quốc tập trung thu hút đầu tư nước ngoài, mở rộng xuất khẩu và tận dụng lợi thế lao động chi phí thấp. Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc sớm nhận ra rằng một nền kinh tế không thể trở nên hùng mạnh nếu chỉ dựa vào vốn đầu tư nước ngoài hoặc gia công cho các tập đoàn đa quốc gia.

Vì vậy, cùng với quá trình mở cửa, Trung Quốc đặc biệt chú trọng phát triển các doanh nghiệp trong nước, nhất là khu vực doanh nghiệp tư nhân. Thông qua cải cách thể chế, phát triển thị trường vốn, hỗ trợ đổi mới sáng tạo và khuyến khích cạnh tranh, Trung Quốc từng bước hình thành thế hệ doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn và năng lực cạnh tranh quốc tế.

Ngày nay, Huawei, Tencent, Alibaba, BYD, Xiaomi hay CATL không chỉ là những doanh nghiệp thành công của Trung Quốc mà đã trở thành những tập đoàn có ảnh hưởng trên phạm vị toàn cầu. Các doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ, xây dựng thương hiệu quốc gia và nâng cao vị thế cạnh tranh của nền kinh tế Trung Quốc.

Điều đáng chú ý là sự phát triển của các doanh nghiệp này không diễn ra một cách tự nhiên mà là kết quả của sự kết hợp giữa khát vọng vươn lên của doanh nghiệp và môi trường thể chế ngày càng thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và cạnh tranh.

Bài học rút ra là rất rõ ràng: Thu hút đầu tư nước ngoài là cần thiết, nhưng phát triển doanh nghiệp trong nước mới là yếu tố quyết định sức mạnh dài hạn của nền kinh tế.

Đối với Việt Nam, sau nhiều năm hội nhập sâu rộng, khu vực FDI đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế. Tuy nhiên, nếu không xây dựng được khu vực doanh nghiệp trong nước đủ mạnh, nền kinh tế sẽ khó nâng cao năng lực tự chủ, khó tham gia sâu vào các khâu có giá trị gia tăng cao và khó hình thành những thương hiệu quốc gia có sức cạnh tranh toàn cầu.

Do đó, phát triển kinh tế tư nhân không chỉ là yêu cầu của tăng trưởng kinh tế mà còn là yêu cầu của chiến lược phát triển quốc gia trong dài hạn.

KINH TẾ TƯ NHÂN: TỪ ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG ĐẾN NỀN TẢNG SỨC MẠNH CẠNH TRANH QUỐC GIA- Ảnh 3.

Từ phát triển kinh tế tư nhân đến kiến tạo các tập đoàn kinh tế Việt Nam tầm khu vực và toàn cầu

Nếu mục tiêu của giai đoạn trước là phát triển doanh nghiệp về số lượng, thì mục tiêu của giai đoạn tới phải là nâng cao chất lượng, kiến tạo những doanh nghiệp có quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh quốc tế.

Hiện nay, nền kinh tế nước ta đã có một số doanh nghiệp tư nhân lớn hoạt động trong nhiều lĩnh vực như công nghiệp, công nghệ, hạ tầng, logistics, bán lẻ, hàng không, nông nghiệp và dịch vụ. Đây là những tín hiệu tích cực cho thấy khu vực kinh tế tư nhân đang từng bước trưởng thành, có khả năng đảm nhận những nhiệm vụ phát triển lớn hơn.

Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển của đất nước và so với các nền kinh tế trong khu vực, số lượng doanh nghiệp Việt có khả năng cạnh tranh ở quy mô khu vực và toàn cầu vẫn còn rất khiêm tốn.

Một trong những nguyên nhân quan trọng là hệ sinh thái phát triển doanh nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế. Thị trường vốn chưa thực sự phát triển tương xứng với nhu cầu của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, liên kết giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học còn lỏng lẻo; năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ còn hạn chế; chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của nền kinh tế số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn trước mắt mà phải xây dựng một hệ sinh thái phát triển mới, tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nươc lớn lên, đổi mới sáng tạo và vươn ra thị trường quốc tế.

Điều này đòi hỏi một sự chuyển đổi quan trọng trong tư duy chính sách từ tư duy hỗ trợ doanh nghiệp sang tư duy kiến tạo năng lực cạnh tranh.

Nhà nước không thể làm thay doanh nghiệp, nhưng Nhà nước có thể tạo ra môi trường thuận lợi để doanh nghiệp phát huy tối đa tiềm năng phát triển.

Đó là một hệ thống thể chế minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo cao. Một môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Một thị trường vốn phát triển. Một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo năng động. Một nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển mới.

Đặc biệt, trong bối cảnh khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc và năng lực cạnh tranh toàn cầu, Việt Nam cần tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân tham gia mạnh hơn vào các lĩnh vực công nghệ cao, kinh tế số, bán dẫn, năng lượng mới, logistics hiện đại và các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao.

Mục tiêu cuối cùng không chỉ là có thêm nhiều doanh nghiệp lớn, mà là hình thành được những tập đoàn kinh tế có khả năng cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới; tạo dựng và nuôi dưỡng những doanh nghiệp có thể làm chủ công nghệ, xây dựng thương hiệu toàn cầu, dẫn dắt đổi mới sáng tạo và trở thành lực lượng nòng cốt trong quá trình hiện đại hóa đất nước.

Quá trình phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, khi một nền kinh tế bước sang giai đoạn phát triển cao hơn, sự xuất hiện của các tập đoàn kinh tế mạnh không chỉ phản ánh sự trưởng thành của khu vực doanh nghiệp mà còn phản ánh trình độ phát triển của cả nền kinh tế.

Đối với Việt Nam, hành trình xây dựng các tập đoàn kinh tế tư nhân tầm khu vực và toàn cầu không chỉ là câu chuyện của doanh nghiệp mà còn là câu chuyện của khát vọng phát triển quốc gia. Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong thế kỷ XXI sẽ được quyết định ngày càng nhiều bởi năng lực của chính các doanh nghiệp trong nước trên thị trường quốc tế.

KINH TẾ TƯ NHÂN: TỪ ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG ĐẾN NỀN TẢNG SỨC MẠNH CẠNH TRANH QUỐC GIA- Ảnh 7.

Thời cơ hình thành một thế hệ mới các tập đoàn kinh tế Việt Nam

Thế giới đang bước vào giai đoạn chuyển đổi sâu sắc chưa từng có dưới tác động của trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, công nghệ bán dẫn, dữ liệu lớn và tái cấu trúc các chuỗi cung ứng toàn cầu. Những chuyển đổi này không chỉ làm thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh mà còn định hình lại trật tự cạnh tranh giữa các quốc gia và doanh nghiệp.

Trong bối cảnh đó, lợi thế cạnh tranh không còn chủ yếu dựa vào tài nguyên thiên nhiên, lao động giá rẻ mà ngày càng phụ thuộc vào năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng làm chủ công nghệ, năng lực tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Đây vừa là thách thức nhưng cũng là cơ hội lớn đối với Việt Nam.

Với quy mô thị trường trên 100 triệu dân, vị trí địa kinh tế thuận lợi, độ mở kinh tế thuộc nhóm cao trên thế giới, lực lượng lao động trẻ, năng động cùng quyết tâm mạnh mẽ trong cải cách thể chế và phát triển khoa học công nghệ, Việt Nam đang hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để hình thành một thế hệ doanh nghiệp mới có năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Đặc biệt, Bộ Chính trị ban hành nhiều chủ trương lớn về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế tư nhân đã tạo nền tảng quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các ngành công nghệ cao, các lĩnh vực dẫn dắt tăng trưởng trong tương lai.

Nếu như lịch sử phát triển kinh tế nước ta trong 40 năm đổi mới chủ yếu là câu chuyện mở cửa, hội nhập và thu hút các tập đoàn đa quốc gia đến đầu tư, sản xuất kinh doanh tại Việt Nam, thì thập niên 2026-2035 cần trở thành giai đoạn kiến tạo những tập đoàn kinh tế Việt Nam có khả năng cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới.

Đó không chỉ là yêu cầu của phát triển mà còn là yêu cầu của quá trình nâng cao năng lực nội sinh, xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự cường và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hùng cường vào năm 2045.

Sự ra đời của những tập đoàn kinh tế Việt Nam mang tầm khu vực và toàn cầu sẽ là minh chứng rõ nét cho sự trưởng thành của nền kinh tế và vị thế mới của Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử để hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia thịnh vượng. Để đạt được mục tiêu đó, đất nước không chỉ cần duy trì tốc độ tăng trưởng cao mà quan trọng hơn là phải xây dựng được những nền tảng vững chắc cho tăng trưởng dài hạn, nâng cao năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh quốc gia.

Thực tiễn phát triển của các nền kinh tế thành công trên thế giới cho thấy, không có quốc gia nào trở nên hùng mạnh chỉ dựa vào nguồn lực bên ngoài. Sức mạnh kinh tế quốc gia cuối cùng vẫn được quyết định bởi năng lực nội sinh, chất lượng thể chế, trình độ khoa học công nghệ và đặc biệt là sức mạnh của cộng đồng doanh nghiệp trong nước.

Đối với Việt Nam, phát triển kinh tế tư nhân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là yêu cầu chiến lược của quá trình phát triển đất nước. Khu vực kinh tế tư nhân năng động, sáng tạo, có năng lực cạnh tranh quốc tế sẽ là nền tảng để nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế, tăng cường khả năng chống chịu trước các cú sốc bên ngoài và tạo dựng các động lực tăng trưởng mới cho tương lai.

Từ góc độ đó, mục tiêu của chính sách không nên dừng lại ở việc gia tăng số lượng doanh nghiệp hay tháo gỡ khó khăn trước mắt, mà phải hướng tới kiến tạo hệ sinh thái phát triển có chủ đích hiện đại, để các doanh nghiệp trong nước có điều kiện lớn lên, đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ và vươn ra thị trường thế giới.

Thế kỷ XX là thời kỳ đất nước giành độc lập, thống nhất non sông và tiến hành công cuộc đổi mới. Nửa đầu thế kỷ XXI sẽ là giai đoạn quyết định vị thế phát triển của Việt Nam trong nền kinh tế toàn cầu.

Muốn hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hùng cường vào năm 2045, Việt Nam phải xây dựng được khu vực kinh tế tư nhân hùng mạnh và thế hệ các tập đoàn kinh tế Việt Nam có năng lực cạnh tranh quốc tế. Đó không chỉ là yêu cầu của tăng trưởng kinh tế, mà còn là con đường để nâng cao sức mạnh quốc gia, khẳng định vị thế Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới./.

Nguyễn Bích Lâm

Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê