
Hai đối tượng Nghĩa và Kim Anh tại Cơ quan điều tra. Ảnh CAND
Ngày 2/11, Công an tỉnh Đắk Lắk cho biết, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra (Công an tỉnh) đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt tạm giam Trần Thị Kim Anh (41 tuổi, trú tại phường Thành Nhất, tỉnh Đắk Lắk) và Trần Đại Nghĩa (40 tuổi, trú tại thành phố Đà Nẵng) để điều tra về hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 290, Bộ luật Hình sự. Các quyết định nêu trên đã được Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp phê chuẩn - TTXVN đưa tin.
Theo điều tra ban đầu, Kim Anh là nhân viên chăm sóc khách hàng ưu tiên tại một chi nhánh ngân hàng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
Lợi dụng vị trí công tác và sự tin tưởng của khách hàng, đối tượng đã cầm điện thoại của một số khách hàng rồi hướng dẫn khách đăng nhập ứng dụng ngân hàng điện tử, sau đó bí mật thao tác chuyển quyền sở hữu các sổ tiết kiệm trực tuyến sang cho Nghĩa.
Hai đối tượng liên lạc, trao đổi việc chuyển nhượng thông qua các ứng dụng Zalo và Telegram.
Bước đầu, Kim Anh khai nhận từ tháng 7 – 9/2026 đã cùng Nghĩa thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền gửi tiết kiệm của 5 khách hàng, với tổng số tiền gần 32 tỷ đồng.
Hiện, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an tỉnh Đắk Lắk đang tiếp tục mở rộng điều tra, xác minh dòng tiền và làm rõ các tình tiết liên quan để xử lý theo quy định của pháp luật.
Qua vụ việc, Công an tỉnh Đắk Lắk khuyến cáo người dân không giao điện thoại đang đăng nhập ứng dụng ngân hàng cho người khác tự ý thao tác; tuyệt đối bảo mật mật khẩu, mã OTP và trực tiếp kiểm tra nội dung trước khi xác nhận mọi giao dịch, nhằm tránh bị lợi dụng chiếm đoạt tài sản.
Điều 290 văn bản hợp nhất Bộ luật Hình sự quy định tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như sau:
1. Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong những hành vi sau đây, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;
b) Làm, tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ;
c) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;
d) Lừa đảo trong thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp hoặc giao dịch chứng khoán qua mạng nhằmchiếm đoạt tài sản;
đ) Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Có tính chất chuyên nghiệp;
d) Số lượng thẻ giả từ 50 thẻ đến dưới 200 thẻ;
đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
e) Gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
c) Số lượng thẻ giả từ 200 thẻ đến dưới 500 thẻ.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Gây thiệt hại 500.000.000 đồng trở lên;
c) Số lượng thẻ giả 500 thẻ trở lên.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.