Sáng 30/6, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị.
Cùng dự Hội nghị có các Ủy viên Bộ Chính trị: Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham dự Hội nghị tại điểm cầu Trung ương - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Tham dự Hội nghị tại điểm cầu Trung ương và điểm cầu tại các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Trung ương Đảng; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương; lãnh đạo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam, một số tập đoàn, doanh nghiệp FDI và tập đoàn, doanh nghiệp của nhà nước, tư nhân; các đồng chí Bí thư, Phó Bí thư, Ủy viên Ban Thường vụ, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ các tỉnh ủy, thành ủy; lãnh đạo các ban, sở, ngành, tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh; các Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ cấp xã, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy cấp xã, lãnh đạo các phòng, ban, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp cấp xã.
Hội nghị được kết nối với gần 35.000 điểm cầu ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã, cơ quan, đơn vị, quân khu, quân chủng, quân đoàn trên toàn quốc với gần 2,1 triệu đại biểu tham dự Hội nghị tại các điểm cầu. Hội nghị được truyền hình trực tiếp trên các kênh, sóng của Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam.
Mở đầu Hội nghị, các đại biểu xem phim "40 năm thu hút đầu tư nước ngoài"; nghe đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ truyền đạt nội dung cơ bản Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; nghe tham luận của đại biểu đại diện các ban, bộ, ngành, địa phương.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Kính thưa Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm!
Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam!
Thưa các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Lãnh đạo các Ban, Bộ, ngành Trung ương và các địa phương!
Thưa quý vị đại biểu, khách quý, đại diện các Hiệp hội doanh nghiệp, cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân trong và ngoài nước!
Thưa các đồng chí dự Hội nghị tại Hội trường Diên Hồng và các điểm cầu trong cả nước!
Thực hiện Chương trình Hội nghị toàn quốc quán triệt Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, được sự phân công của Ban Tổ chức Hội nghị, thay mặt Đảng ủy Chính phủ, tôi xin báo cáo những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết nhằm thống nhất nhận thức và định hướng tổ chức thực hiện trong toàn hệ thống chính trị.
Kính thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm,
Kính thưa các đồng chí và quý vị đại biểu,
Gần 40 năm qua, chủ trương mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài là một quyết sách chiến lược đúng đắn của Đảng, góp phần quan trọng huy động nguồn lực quốc tế cho phát triển, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở rộng hội nhập và nâng cao vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế thế giới.
Bước sang giai đoạn phát triển mới, bối cảnh quốc tế và trong nước đã có nhiều thay đổi sâu sắc. Cạnh tranh chiến lược, sự phát triển đột phá của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh cùng sự dịch chuyển của các chuỗi cung ứng và dòng vốn toàn cầu đang đặt ra những yêu cầu mới đối với mô hình phát triển của đất nước.
Trong bối cảnh đó, phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không thể chỉ dừng lại ở mục tiêu thu hút nhiều hơn nguồn vốn, mà phải hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức lan tỏa của các dòng vốn quốc tế; kết hợp chặt chẽ nguồn lực bên ngoài với nội lực của nền kinh tế để nâng cao năng lực sản xuất, năng lực đổi mới sáng tạo, năng lực quản trị và năng lực cạnh tranh quốc gia, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Trên tinh thần đó, tôi xin tập trung báo cáo 04 nội dung trọng tâm của Nghị quyết, gồm: (i) bối cảnh và sự cần thiết ban hành Nghị quyết; (ii) những quan điểm chỉ đạo và các điểm đổi mới cốt lõi; (iii) mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm; (iv) những yêu cầu đặt ra đối với toàn hệ thống chính trị trong tổ chức thực hiện.

Kính thưa các đồng chí và quý vị đại biểu,
Để quán triệt đúng tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW, trước hết cần thống nhất nhận thức về bối cảnh và yêu cầu đặt ra đối với phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn mới. Có thể khái quát thành 03 vấn đề lớn:
Thứ nhất, sau gần 40 năm đổi mới, chủ trương mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển đất nước.
Việt Nam đã trở thành điểm đến đầu tư hấp dẫn của khu vực, thu hút gần 550 tỷ USD vốn đăng ký, với hơn 46 nghìn dự án còn hiệu lực, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển xuất khẩu, tạo việc làm, nâng cao năng lực quản trị và vị thế của Việt Nam trong nền kinh tế thế giới.
Có thể khẳng định, chủ trương thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng trong gần bốn thập kỷ qua là hoàn toàn đúng đắn và đạt được những kết quả rất quan trọng.
Thứ hai, mô hình phát triển hiện nay cũng đã bộc lộ những giới hạn. Chất lượng và sức lan tỏa của một bộ phận dự án còn thấp; liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước chưa chặt chẽ; chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp hỗ trợ, thị trường vốn và đầu tư gián tiếp chưa tương xứng với tiềm năng.
Điều đó cho thấy, trong giai đoạn tới, yêu cầu không chỉ là thu hút nhiều vốn hơn, mà là thu hút vốn chất lượng cao hơn, công nghệ cao hơn, giá trị gia tăng lớn hơn và tạo sức lan tỏa mạnh hơn đối với nền kinh tế.
Thứ ba, bối cảnh phát triển của đất nước và thế giới đang thay đổi sâu sắc. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, cùng sự tái cấu trúc các chuỗi cung ứng và dòng vốn quốc tế đang mở ra cả thời cơ và thách thức mới.
Để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, Việt Nam cần một tư duy phát triển mới đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Chính từ yêu cầu đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW. Đây không chỉ là Nghị quyết điều chỉnh đơn thuần về thu hút đầu tư nước ngoài, mà là Nghị quyết về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn phát triển mới của đất nước; đánh dấu bước chuyển quan trọng từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển hệ sinh thái kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiện đại, hiệu quả và bền vững, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng.
Có thể khẳng định: "nếu gần bốn mươi năm qua, nhiệm vụ trọng tâm là mở cửa để thu hút các nguồn lực quốc tế, thì trong giai đoạn mới, nhiệm vụ trọng tâm là phát huy hiệu quả các nguồn lực đó để cùng với nội lực của đất nước kiến tạo những năng lực phát triển mới của quốc gia".
Kính thưa các đồng chí và quý vị đại biểu,
Nếu Phần I giúp chúng ta làm rõ vì sao Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW, thì nội dung tiếp theo cần quán triệt là những quan điểm chỉ đạo và những điểm đổi mới cốt lõi của Nghị quyết.
(1) Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, là kênh tiếp nhận vốn, công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần mở rộng thị trường; được Nhà nước khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác.
(2) Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả, năng lực tự chủ chiến lược, sức cạnh tranh của nền kinh tế, mở rộng mạng lưới thị trường, tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng toàn cầu.
(3) Chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng,… làm tiêu chí chủ yếu.
(4) Phát triển đồng bộ, thống nhất hệ sinh thái đầu tư nước ngoài, gắn với chiến lược phát triển doanh nghiệp trong nước, phát triển thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do...
(5) Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư nước ngoài.
(6) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiến tạo của Nhà nước; nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều phối quốc gia; lấy kết quả đóng góp thực chất làm thước đo chủ yếu trong thu hút, quản lý và sử dụng đầu tư nước ngoài.
Thứ nhất, chuyển từ tư duy thu hút đầu tư nước ngoài sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết tiếp cận toàn diện hơn, bao quát cả đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn và các thiết chế tài chính quốc tế; coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế, phát triển hài hòa với khu vực kinh tế trong nước để phục vụ mục tiêu phát triển quốc gia.
Thứ hai, chuyển từ coi trọng quy mô vốn sang coi trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Trọng tâm không còn là thu hút nhiều dự án hơn, mà là lựa chọn các dự án có công nghệ tiên tiến, đổi mới sáng tạo, quản trị hiện đại, có khả năng lan tỏa và đóng góp thiết thực vào nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Thứ ba, chuyển từ ưu đãi theo đầu vào sang ưu đãi theo kết quả. Chính sách ưu đãi được đổi mới theo hướng gắn với việc thực hiện các cam kết về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực, liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Thứ tư, chuyển từ phát triển FDI đơn lẻ sang phát triển đồng bộ hệ sinh thái các dòng vốn quốc tế. Đây là điểm mới nổi bật của Nghị quyết khi đặt đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế và các không gian phát triển mới (như khu thương mại tự do, các đặc khu kinh tế,...) trong một chỉnh thể thống nhất nhằm nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực.
Thứ năm, chuyển từ quản lý đầu tư sang kiến tạo môi trường đầu tư và phát triển. Nhà nước tập trung hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, phát triển hạ tầng, nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo để tạo môi trường thuận lợi cho các nguồn lực trong nước và quốc tế cùng phát triển.
Thứ sáu, chuyển từ cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương sang điều phối phát triển ở tầm quốc gia. Nghị quyết yêu cầu tăng cường liên kết vùng, liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài với khu vực kinh tế trong nước, phát huy vai trò của các cực tăng trưởng, đổi mới sáng tạo để nâng cao hiệu quả phát triển chung của nền kinh tế.
Sáu quan điểm chỉ đạo với các điểm đổi mới trên cho thấy nếu trước đây trọng tâm là thu hút các nguồn vốn quốc tế, thì trong giai đoạn mới, mục tiêu cao hơn là phát huy hiệu quả các nguồn lực đó để cùng với nội lực của đất nước kiến tạo những năng lực phát triển mới, nâng cao năng lực tự chủ, năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của nền kinh tế.
Trên cơ sở đó, Nghị quyết đã xác định hệ thống mục tiêu phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
Kính thưa các đồng chí và quý vị đại biểu,
Nghị quyết số 10-NQ/TW đã xác định rõ mục tiêu phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gồm cả mục tiêu tổng quát cũng như mục tiêu cụ thể đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Các mục tiêu của Nghị quyết không chỉ là những chỉ tiêu về thu hút đầu tư, mà hướng tới mục tiêu cao hơn là nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Theo đó, Nghị quyết đặt mục tiêu tổng quát là đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao cho đầu tư phát triển. Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan toả với các khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu; góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tăng cường năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia.
(i) Thu hút 200-300 tỷ USD vốn FDI đăng ký, trong đó vốn thực hiện đạt 150-200 tỷ USD.
(ii) Nâng cao chất lượng dòng vốn với 75% vốn đăng ký mới đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm năng về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại.
(iii) Tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 40-50%. Có khoảng 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
(iv) Nâng hạng thị trường chứng khoán lên thị trường mới nổi trước năm 2030, tạo nền tảng thu hút mạnh mẽ hơn các dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế.
Mục tiêu đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển hiệu quả, bền vững, gắn kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân; Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất, dịch vụ, đổi mới sáng tạo và điều hành khu vực của nhiều tập đoàn đa quốc gia, qua đó nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng góp khoảng 30% GDP.
Kính thưa các đồng chí và quý vị đại biểu,
Có thể khái quát mục tiêu của Nghị quyết bằng một thông điệp: "thành công trong giai đoạn mới không được đo chủ yếu bằng số lượng dự án hay quy mô vốn thu hút, mà bằng chất lượng các dòng vốn, năng lực công nghệ, mức độ đổi mới sáng tạo, liên kết với doanh nghiệp trong nước và những đóng góp thực chất đối với sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước".
Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, Nghị quyết đã xác định hệ thống các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm.
Kính thưa các đồng chí và quý vị đại biểu,
Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 10-NQ/TW xác định hệ thống nhiệm vụ, giải pháp toàn diện, có thể khái quát thành 07 nhóm đột phá:
Thứ nhất, đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển, coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế và là động lực quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Khắc phục tình trạng các địa phương cạnh tranh thu hút đầu tư chạy theo số lượng; kiên quyết không đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh xã hội và an ninh kinh tế để đổi lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Thứ hai, đột phá về thể chế, tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và có sức cạnh tranh quốc tế; đổi mới chính sách ưu đãi theo hướng gắn với hiệu quả hoạt động và các kết quả thực hiện các cam kết của dự án. Hình thành cơ chế lựa chọn, hỗ trợ, quản lý nhà đầu tư chiến lược.
Áp dụng quy trình thủ tục đầu tư đặc biệt và cơ chế ưu đãi cho các dự án công nghệ chiến lược có quy mô lớn, tác động liên vùng, có tiềm năng dẫn dắt chuỗi cung ứng; dự án công nghệ cao có cam kết chuyển giao công nghệ.
Thí điểm mô hình thể chế vượt trội tại một số khu vực. Thực hiện quản trị đầu tư trên nền tảng số, dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo.
Không áp dụng hồi tố theo hướng xử lý bất lợi cho doanh nghiệp, trừ trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.
Ngay tại Phiên họp Chính phủ về xây dựng pháp luật tháng 6/2026 vừa qua, Chính phủ đã giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, đề xuất trình Chính phủ báo cáo Quốc hội về việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo trình tự, thủ tục rút gọn nhằm thể chế hóa kịp thời các giải pháp chính sách tại Nghị quyết số 10-NQ/TW.
Thứ ba, phát triển đồng bộ nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng, nhất là: Xây dựng chương trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu của các ngành, lĩnh vực ưu tiên.
Có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích việc sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cấp và từng bước giao nhiệm vụ kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế, vận hành chuỗi cung ứng cho người Việt Nam.
Thu hút nhân tài, trọng dụng chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân có trình độ cao đến làm việc tại Việt Nam.
Ưu tiên các hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng, hạ tầng số và dữ liệu, tạo nền tảng thu hút các dự án công nghệ cao và nâng cao chất lượng các dòng vốn đầu tư.
Thứ tư, định hướng thu hút đầu tư thế hệ mới, đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư theo hướng chủ động, có trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên xúc tiến, thu hút đầu tư một số lĩnh vực cốt lõi, các dự án, nhà đầu tư có công nghệ nền tảng, các dự án công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, trung tâm nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các ngành có giá trị gia tăng cao.
Tiếp cận, vận động, đàm phán và đồng hành với nhà đầu tư chiến lược, dự án chiến lược. Đối với các địa phương còn khó khăn, thu hút đầu tư phải phù hợp với thực tế, nâng dần chất lượng, không hình thành mặt bằng ưu đãi thấp để cạnh tranh thu hút đầu tư.
Thứ năm, nâng cao hiệu quả lan tỏa của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp Việt Nam, phát triển công nghiệp hỗ trợ, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, qua đó nâng cao năng lực của doanh nghiệp trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Cho phép doanh nghiệp khấu hao nhanh đối với tài sản số và tài sản xanh.
Thứ sáu, phát triển đồng bộ đầu tư gián tiếp nước ngoài và thị trường tài chính, đẩy mạnh nâng hạng thị trường chứng khoán, phát triển thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do và các thiết chế tài chính hiện đại để nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực. Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài, hoàn thiện hạ tầng giao dịch, các công cụ phòng ngừa rủi ro và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư.
Thứ bảy, nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan liên quan trong phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tăng cường điều phối ở tầm quốc gia, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý đầu tư, nâng cao năng lực dự báo, giám sát và bảo đảm môi trường đầu tư minh bạch, ổn định, an toàn.
Tổ chức thực hiện Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đối với cả Trung ương và địa phương.
Tăng cường giám sát việc thực hiện cam kết của nhà đầu tư; kịp thời xử lý vi phạm, thu hồi ưu đãi hoặc áp dụng biện pháp phù hợp đối với trường hợp không thực hiện đúng cam kết. Tôn vinh, khen thưởng kịp thời đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài có đóng góp thực chất, dài hạn, tích cực cho các mục tiêu phát triển của đất nước.
Kính thưa các đồng chí và quý vị đại biểu,
Bảy nhóm nhiệm vụ trên tạo thành một chương trình hành động thống nhất, trong đó: đổi mới nhận thức là tiền đề; hoàn thiện thể chế là khâu đột phá; nhân lực và hạ tầng là nền tảng; thu hút đầu tư thế hệ mới là động lực; liên kết và đổi mới sáng tạo là mục tiêu; phát triển thị trường vốn là điều kiện huy động nguồn lực; quản trị quốc gia hiện đại là yếu tố bảo đảm cho tổ chức thực hiện thành công.
Để các nhiệm vụ này sớm đi vào cuộc sống và tạo chuyển biến thực chất, điều quyết định là tổ chức thực hiện Nghị quyết với sự vào cuộc đồng bộ của toàn hệ thống chính trị.
Kính thưa các đồng chí và quý vị đại biểu,
Nghị quyết số 10-NQ/TW đã xác định rõ quan điểm, mục tiêu và các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Tuy nhiên, thành công của Nghị quyết không chỉ phụ thuộc vào chất lượng của văn bản, mà quan trọng hơn là quyết tâm chính trị và hiệu quả tổ chức thực hiện.
Đối với Đảng ủy Quốc hội, cần khẩn trương thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Bộ Chính trị; rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tăng cường giám sát việc thực hiện theo quy định.
Đối với Đảng ủy Chính phủ, các đảng ủy trực thuộc Trung ương, các bộ, ngành, địa phương, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các cơ quan liên quan, cần khẩn trương cụ thể hóa Nghị quyết thành chương trình, kế hoạch hành động với lộ trình, nhiệm vụ và trách nhiệm rõ ràng; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát để bảo đảm Nghị quyết được triển khai đồng bộ, thống nhất và hiệu quả.
Trong đó, tập trung hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, chủ động tháo gỡ các điểm nghẽn về hạ tầng, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; đồng thời tăng cường điều phối ở tầm quốc gia, thí điểm một số chính sách mới và bảo đảm thống nhất trong tổ chức thực hiện.
Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tạo sự thống nhất về nhận thức và đồng thuận trong toàn xã hội.
Đối với các hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp, cần phát huy vai trò đồng hành cùng Nhà nước trong hoàn thiện chính sách, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy liên kết, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và thực hiện đầy đủ trách nhiệm xã hội, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết.
Kính thưa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm,
Kính thưa các đồng chí và quý vị đại biểu,
Có thể khẳng định, Nghị quyết số 10-NQ/TW đã mở ra một giai đoạn phát triển mới đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Thành công của Nghị quyết đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị với tinh thần thống nhất nhận thức, thống nhất hành động và quyết tâm thực hiện.
Chúng tôi tin tưởng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sự chỉ đạo quyết liệt của Quốc hội, Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ của các cấp, các ngành, địa phương cùng sự đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong và ngoài nước, Nghị quyết số 10-NQ/TW sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống, góp phần tạo bước phát triển mới cho đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.
Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí!

Các đại biểu tham dự tại điểm cầu Trung tâm - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Đồng chí Nguyễn Văn Được, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh tham luận nội dung "Đẩy mạnh triển khai Trung tâm tài chính quốc tế, tạo không gian phát triển mới để thu hút dòng vốn chất lượng cao, thế hệ mới".
Theo Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 10-NQ/TW có ý nghĩa chiến lược đối với giai đoạn phát triển mới của đất nước, thể hiện tư duy đổi mới mạnh mẽ của Đảng về kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; đã chuyển dịch căn bản từ tư duy "thu hút vốn thuần túy" sang "nâng cao chất lượng, hiệu quả, lấy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia làm thước đo".
Là địa bàn trọng điểm về thu hút FDI, Thành phố Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc trách nhiệm tiên phong trong hiện thực hóa Nghị quyết của Bộ Chính trị. Tính đến nay, Thành phố Hồ Chí Minh có 20.259 dự án FDI, với tổng vốn gần 142 tỷ USD từ 152 quốc gia, vùng lãnh thổ và trong nửa đầu năm 2026, Thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút thành công hơn 6,8 tỷ USD vốn FDI, đạt 62% kế hoạch năm.
Khu vực FDI chiếm khoảng 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và hơn 50% kim ngạch xuất khẩu; và là động lực quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất lao động và hội nhập quốc tế của Thành phố.
Tuy nhiên, những dư địa phát triển dựa trên thâm dụng lao động, đất đai và ưu đãi thuế truyền thống đã chạm trần. Các quốc gia ngày càng chuyển sang cạnh tranh về thể chế, chất lượng môi trường kinh doanh và năng lực đổi mới sáng tạo, nếu không tạo ra một không gian phát triển mới, Thành phố sẽ rất khó đón được làn sóng đầu tư chiến lược của giai đoạn tới.
Từ thực tiễn đó, lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất ba vấn đề liên quan đến việc triển khai Trung tâm tài chính quốc tế để thu hút dòng vốn chất lượng cao và thế hệ mới.
Thứ nhất, chuyển mạnh từ tư duy "thu hút dự án" sang "kiến tạo hệ sinh thái" để thu hút dòng vốn chất lượng cao
Thế giới đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc sâu sắc chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị và chuỗi tài chính toàn cầu. Theo các tổ chức quốc tế: dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu những năm gần đây có xu hướng suy giảm về quy mô nhưng gia tăng mạnh tính chọn lọc; vốn đầu tư ngày càng tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao, tài chính xanh, kinh tế số, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng sạch và đổi mới sáng tạo.
FDI thế hệ mới không còn tìm kiếm nơi có chi phí thấp nhất, mà lựa chọn nơi có thể chế minh bạch, thị trường vốn phát triển, nguồn nhân lực chất lượng cao, khả năng bảo vệ tài sản, môi trường đổi mới sáng tạo và năng lực kết nối với mạng lưới tài chính quốc tế.
Cạnh tranh thu hút FDI trong giai đoạn mới không còn là cạnh tranh giữa các dự án, mà là cạnh tranh giữa các hệ sinh thái phát triển; không chỉ là ưu đãi đầu tư, mà trước hết là năng lực kiến tạo thể chế. Đó cũng chính là tinh thần cốt lõi mà Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra và cũng là yêu cầu khách quan đối với Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Đồng chí Nguyễn Văn Được, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh tham luận nội dung "Đẩy mạnh triển khai Trung tâm tài chính quốc tế, tạo không gian phát triển mới để thu hút dòng vốn chất lượng cao, thế hệ mới" - Ảnh: Quang Định
Thứ hai, phát triển Trung tâm tài chính quốc tế chính là giải pháp chiến lược để hiện thực hóa phương thức thu hút FDI mới của Việt Nam
Trong giai đoạn 2026-2035, Việt Nam cần khoảng 1.500-1.600 tỷ USD vốn đầu tư toàn xã hội để thực hiện các mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, trong khi nguồn lực ngân sách chỉ có thể đáp ứng khoảng 20% nhu cầu. Hệ thống tài chính hiện nay vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng, chiếm khoảng 57% tổng nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế; quy mô các quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, quản lý tài sản và các định chế đầu tư dài hạn còn khiêm tốn so với nhiều quốc gia trong khu vực (chỉ chiếm khoảng 6% GDP).
Riêng Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2026 cần huy động trên 1 triệu tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội, trong đó khoảng 7,8 tỷ USD từ khu vực nước ngoài để bảo đảm mục tiêu tăng trưởng hai con số. Điều đó đặt ra yêu cầu phải hình thành một thiết chế tài chính hiện đại có khả năng huy động, phân bổ và dẫn dắt các dòng vốn quốc tế.
Do đó, thông qua Trung tâm tài chính quốc tế sẽ giải quyết 03 vấn đề:
(1) Là nơi đặt đại bản doanh của các quỹ đầu tư toàn cầu, ngân hàng đầu tư, các công ty quản lý tài sản và các trung tâm tài chính công nghệ. Đây chính là những chủ thể có khả năng điều phối, dẫn dắt dòng vốn dài hạn vào các hạ tầng chiến lược, năng lượng tái tạo và công nghệ cao của Việt Nam.
(2) Tiếp nhận "phần giá trị vô hình" của FDI: Đi cùng với dòng vốn là công nghệ tài chính, năng lực quản trị tiên tiến, chuẩn mực minh bạch quốc tế, hệ thống dữ liệu, mạng lưới chuyên gia và khả năng kết nối với các chuỗi giá trị toàn cầu. Đây mới là nguồn lực có ý nghĩa quyết định để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong dài hạn.
(3) IFC sẽ mở ra cơ hội mới cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận trực tiếp các nguồn vốn toàn cầu với chi phí hợp lý, đa dạng hóa các công cụ huy động vốn, thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp quy mô khu vực và từng bước đưa doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Bí thư Thành ủy TPHCM Trần Lưu Quang và Phó Bí thư Thành ủy Nguyễn Phước Lộc dự hội nghị tại điểm cầu TPHCM - Ảnh: Quang Định
Thứ ba, Thành phố Hồ Chí Minh cam kết tiên phong triển khai Trung tâm tài chính quốc tế với tinh thần phụng sự lợi ích quốc gia và phát triển vì cả nước
Thành phố nhận thức sâu sắc rằng, việc Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ giao Thành phố xây dựng và tổ chức triển khai Trung tâm tài chính quốc tế vừa là niềm tin, vừa là trách nhiệm rất lớn.
Thành phố Hồ Chí Minh xác định đây không phải là dự án của riêng Thành phố, mà là một thiết chế tài chính quốc gia, phục vụ sự phát triển của cả nền kinh tế, là cầu nối để các địa phương, các doanh nghiệp Việt Nam và các ngành kinh tế chiến lược tiếp cận hiệu quả hơn với các dòng vốn quốc tế.
Thành phố sẽ tập trung xây dựng môi trường đầu tư đạt chuẩn quốc tế; đẩy mạnh cải cách thể chế, cải cách hành chính, phát triển hạ tầng số, nguồn nhân lực chất lượng cao; chủ động phối hợp với các bộ, ngành để triển khai các cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, bảo đảm Trung tâm tài chính quốc tế vận hành theo các chuẩn mực quốc tế nhưng phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam.
Đồng thời, Thành phố rất mong tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo của Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ và sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành để sớm hoàn thiện các cơ chế vượt trội, đủ mạnh, đủ linh hoạt và đủ sức cạnh tranh với các trung tâm tài chính trong khu vực.
"Nghị quyết số 10-NQ/TW đã mở ra một tư duy mới. Chúng tôi tin tưởng rằng, với sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, sự đồng hành của Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành, việc xây dựng thành công Trung tâm tài chính quốc tế sẽ không chỉ tạo ra một cực tăng trưởng mới cho Thành phố Hồ Chí Minh mà còn mở rộng không gian phát triển của cả nền kinh tế, nâng tầm vị thế Việt Nam trên bản đồ tài chính và đầu tư quốc tế, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững và thịnh vượng trong kỷ nguyên mới", Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Được nhấn mạnh.

Đồng chí Vũ Đại Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, trình bày tham luận về "Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tạo nền tảng thu hút đầu tư vào lĩnh vực khoa học công nghệ, nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số" - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Tham luận nội dung "Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tạo nền tảng thu hút đầu tư vào lĩnh vực khoa học công nghệ, nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số", đồng chí Vũ Đại Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, nhấn mạnh:
Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08 tháng 6 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được ban hành trong thời điểm rất quan trọng. Dòng vốn đầu tư nước ngoài trên thế giới đang chuyển dịch mạnh vào các lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các ngành công nghiệp chiến lược.
Các tập đoàn toàn cầu ngày càng coi chất lượng nguồn nhân lực, năng lực nghiên cứu, khả năng đổi mới sáng tạo và mức độ hoàn thiện của hệ sinh thái công nghệ là những tiêu chí quan trọng hàng đầu khi lựa chọn địa điểm đầu tư.
Nghị quyết số 10 thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; chuyển từ mục tiêu thu hút vốn đơn thuần sang thu hút có chọn lọc, lấy chất lượng, công nghệ, đổi mới sáng tạo, quản trị hiện đại và hiệu quả cao lan tỏa làm tiêu chí chủ yếu; qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn phát triển mới.
Đối với Hà Nội, việc quán triệt và triển khai Nghị quyết số 10 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, hành chính quốc gia; đồng thời là trung tâm lớn về kinh tế, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Hà Nội xác định phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của Thành phố mà còn góp phần xây dựng nền tảng nhân lực, tri thức và đổi mới sáng tạo cho vùng Thủ đô và cả nước; qua đó khẳng định vai trò tiên phong của Thủ đô trong triển khai các chủ trương lớn của Đảng về khoa học, công nghệ và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Lợi thế lớn nhất của Hà Nội không chỉ là quy mô thị trường, vị trí địa kinh tế hay hệ thống kết cấu hạ tầng đang được đầu tư mạnh mẽ, mà là khả năng hội tụ đầy đủ các cấu phần của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo: từ đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, thử nghiệm công nghệ, phát triển doanh nghiệp đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Thời gian qua, Thành phố đã chủ động triển khai các chủ trương của Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW, Luật Thủ đô và các định hướng lớn trong Quy hoạch Thủ đô. Hà Nội đã tập trung hoàn thiện cơ chế chính sách, đẩy mạnh chuyển đổi số, cải thiện môi trường đầu tư, phát triển hạ tầng đô thị, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số, từng bước hình thành các không gian phát triển mới cho khoa học công nghệ, công nghiệp công nghệ cao và kinh tế số.
Đặc biệt, Hội nghị công bố Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm và xúc tiến đầu tư năm 2026 được Thành phố tổ chức ngày 29 tháng 6 đã cho thấy niềm tin, sự quan tâm và kỳ vọng lớn của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư trong nước và quốc tế đối với Hà Nội.
Sự tham gia, trao đổi và cam kết đồng hành của nhiều tập đoàn, doanh nghiệp công nghệ lớn như NVIDIA, Samsung, FPT, CMC và nhiều đối tác trong, ngoài nước là minh chứng sinh động cho thấy Hà Nội đang có cơ hội rất lớn để trở thành điểm đến của dòng vốn đầu tư chất lượng cao.
Qua tiếp xúc, trao đổi với các nhà đầu tư, Thành phố nhận thấy điều các doanh nghiệp công nghệ quan tâm không chỉ là hạ tầng, mặt bằng hay chính sách ưu đãi, mà là khả năng tiếp cận nguồn nhân lực chất lượng cao, môi trường nghiên cứu phát triển, năng lực kết nối với trường đại học, viện nghiên cứu và khả năng triển khai các mô hình mới.
Đồng thời, các nhà đầu tư cũng dành quan tâm về khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu phát triển và chuyển đổi số. Liên kết giữa Nhà nước, nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp đã có chuyển biến nhưng chưa trở thành cơ chế vận hành thường xuyên, thực chất.
Hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh và đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong một số lĩnh vực chiến lược chưa tương xứng với tiềm năng của Thủ đô.

Đại diện các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham dự Hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Từ thực tiễn đó, trong thời gian tới, TP. Hà Nội sẽ tập trung một số nhóm giải pháp trọng tâm nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Thành phố:
Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành lợi thế cạnh tranh cốt lõi trong thu hút FDI thế hệ mới.
Quan điểm của Hà Nội là chính sách phát triển nhân lực chất lượng cao không chỉ dừng ở thu hút và đãi ngộ, mà phải tạo dựng môi trường để người tài nghiên cứu, sáng tạo, hợp tác quốc tế và phát triển lâu dài. Thành phố sẽ tăng cường cơ chế đặt hàng nhiệm vụ khoa học công nghệ, giao nhiệm vụ cho các nhóm nghiên cứu mạnh, hỗ trợ chuyên gia tham gia giải quyết các vấn đề lớn của Thủ đô.
Thứ hai, đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu của doanh nghiệp FDI và các ngành công nghệ chiến lược.
Hà Nội sẽ thúc đẩy mạnh hơn mô hình liên kết thực chất giữa Nhà nước, nhà trường, viện nghiên cứu và doanh nghiệp; chuyển từ đào tạo theo khả năng cung ứng của cơ sở đào tạo sang đào tạo theo nhu cầu của thị trường, của doanh nghiệp và của các ngành công nghệ tương lai.
Thành phố khuyến khích doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp công nghệ và các tập đoàn lớn tham gia xây dựng chương trình đào tạo, đặt hàng đào tạo, tổ chức thực tập, đào tạo lại, bồi dưỡng kỹ năng và tiếp nhận nhân lực sau đào tạo.
Thứ ba, phát triển hệ sinh thái nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo theo mô hình mạng lưới mở, tạo nền tảng thu hút các trung tâm R&D và các dự án FDI công nghệ cao.
Hà Nội xác định nguồn nhân lực chất lượng cao chỉ có thể phát triển bền vững khi được đặt trong một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo năng động và có khả năng kết nối quốc tế.
Để hiện thực hóa mục tiêu đó, Hà Nội sẽ phát huy hiệu quả các cơ chế đặc thù của Luật Thủ đô, Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quy hoạch Thủ đô, từng bước hình thành mạng lưới kết nối giữa các trường đại học, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm, doanh nghiệp công nghệ và các trung tâm đổi mới sáng tạo; tạo nền tảng phát triển hệ sinh thái nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo mang tầm quốc gia, từng bước vươn ra khu vực.
Thành phố sẽ tập trung xây dựng và phát triển các trung tâm nghiên cứu phát triển, phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm đổi mới sáng tạo, không gian thử nghiệm công nghệ, trung tâm dữ liệu và hạ tầng số hiện đại; đồng thời hình thành các cơ chế liên kết chặt chẽ giữa trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước.
Hà Nội sẽ khuyến khích các tập đoàn công nghệ đầu tư cho nghiên cứu phát triển, cùng xây dựng phòng thí nghiệm, đào tạo nhân lực và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; đồng thời phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo và doanh nghiệp khoa học công nghệ.

Các đại biểu tham dự Hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Thứ tư, phát triển mạnh nguồn nhân lực số, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và phát triển kinh tế số.
Hà Nội sẽ tiếp tục triển khai đồng bộ các chương trình phát triển kỹ năng số cho người lao động, nâng cao năng lực ứng dụng dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, an toàn thông tin và quản trị số trong khu vực công cũng như khu vực doanh nghiệp.
Thành phố sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong giáo dục, đào tạo, quản trị nhân lực và cung cấp dịch vụ công; tạo điều kiện để người lao động có cơ hội học tập suốt đời, cập nhật tri thức và thích ứng nhanh với yêu cầu của nền kinh tế số.
Thứ năm, xây dựng Hà Nội trở thành nơi hội tụ nhân tài, công nghệ và đổi mới sáng tạo của khu vực.
Thành phố sẽ triển khai hiệu quả Luật Thủ đô, cụ thể hóa Quy hoạch Thủ đô và các cơ chế đặc thù để hình thành những không gian phát triển mới dành cho giáo dục đại học, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, công nghệ cao và kinh tế số; phát triển hệ thống hạ tầng đồng bộ, các dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa chất lượng cao và môi trường sống an toàn, hiện đại, có khả năng kết nối quốc tế.
Mục tiêu của Hà Nội là xây dựng một môi trường phát triển mà ở đó các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, chuyên gia và nhà đầu tư có thể cùng hợp tác, sáng tạo và phát triển lâu dài; qua đó hình thành các cực tăng trưởng mới dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Hà Nội nhận thức sâu sắc rằng, trong kỷ nguyên phát triển mới, nguồn nhân lực chất lượng cao chính là "hạ tầng mềm" quan trọng nhất của mỗi quốc gia và mỗi địa phương.
Với vị thế và trách nhiệm của Thủ đô, Hà Nội cam kết tiếp tục tiên phong triển khai hiệu quả Nghị quyết số 10-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị; xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm hội tụ nhân tài, nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo của cả nước, đóng góp thiết thực vào mục tiêu đưa Việt Nam trở thành điểm đến của các dòng vốn đầu tư chất lượng cao và các ngành công nghiệp chiến lược trong kỷ nguyên phát triển mới.

Đồng chí Hồ Kỳ Minh, Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Đà Nẵng tham luận nội dung “Giải pháp thu hút dòng vốn chất lượng cao gắn với phát triển khu thương mại tự do tạo động lực tăng trưởng vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung” - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Đại diện lãnh đạo thành phố Đà Nẵng, đồng chí Hồ Kỳ Minh, Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Đà Nẵng trình bày tham luận về "Giải pháp thu hút dòng vốn chất lượng cao gắn với phát triển khu thương mại tự do tạo động lực tăng trưởng vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung".
Đồng chí Hồ Kỳ Minh cho biết: Thành phố Đà Nẵng sau hợp nhất có quy mô rộng, lớn với nhiều dư địa phát triển và cơ chế ưu đãi phát triển.
Thành phố có diện tích khoảng 11.860 km², dân số trên 3 triệu người; sở hữu hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, bao gồm hai sân bay quốc tế là Sân bay quốc tế Đà Nẵng và Sân bay quốc tế Chu Lai phục vụ cả hành khách và vận tải hàng hóa; hệ thống cảng biển nước sâu với Cảng Tiên Sa, Cảng Liên Chiểu đang được đầu tư trở thành cảng cửa ngõ quốc tế và Cảng Chu Lai, hình thành chuỗi logistics liên hoàn gắn với cao tốc Bắc – Nam, Hành lang kinh tế Đông – Tây và các tuyến hàng hải quốc tế.
Thành phố đồng thời sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa và du lịch đặc sắc với 03 Di sản Văn hóa Thế giới được UNESCO ghi danh gồm Đô thị cổ Hội An, Khu đền tháp Mỹ Sơn và Ma Nhai Ngũ Hành Sơn, cùng hệ sinh thái đa dạng với bán đảo Sơn Trà, Cù lao Chàm, hệ thống bãi biển đẹp và vùng núi, rừng rộng lớn.
Với vị trí chiến lược ở trung tâm miền Trung, quy mô mới sau hợp nhất cùng hệ thống đường cao tốc, quốc lộ kết hợp với hệ thống sân bay, cảng biển và logistics ngày càng hoàn thiện, Đà Nẵng hội tụ đầy đủ các điều kiện để trở thành cực tăng trưởng quốc gia, trung tâm tài chính quốc tế, trung tâm đổi mới sáng tạo, logistics, thương mại và dịch vụ chất lượng cao của khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố Đà Nẵng đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút dòng vốn chất lượng cao gắn với phát triển Khu thương mại tự do, góp phần tạo động lực tăng trưởng mới cho vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung.
Thứ nhất, phát triển Khu thương mại tự do theo mô hình thế hệ mới để thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao.
Khu Thương mại tự do Đà Nẵng là mô hình khu thương mại tự do đầu tiên được thí điểm tại Việt Nam theo Quyết định số 1142/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; gồm 07 khu chức năng, quy mô khoảng 1.881 ha, tập trung trên địa bàn thành phố Đà Nẵng (cũ); được quy hoạch gắn với Cảng Liên Chiểu, Khu công nghệ cao và Trung tâm tài chính quốc tế. Đây được kỳ vọng sẽ trở thành động lực tăng trưởng mới của thành phố và là trung tâm logistics, thương mại quốc tế và đổi mới sáng tạo của khu vực.
Khu Thương mại tự do được định hướng phát triển theo ba nhóm chức năng chính gồm: khu sản xuất và logistics; khu thương mại - dịch vụ; khu công nghiệp công nghệ số, nghiên cứu phát triển và đổi mới sáng tạo.
Mô hình này hướng tới thu hút các ngành công nghệ cao, bán dẫn, logistics quốc tế, thương mại điện tử xuyên biên giới, tài chính, fintech, trung tâm dữ liệu, trung chuyển hàng hóa và dịch vụ giá trị gia tăng.
Đến nay, thành phố đã cấp quyết định chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư đối với các nhà đầu tư hạ tầng tại các vị trí số 2, 3, 4 và 5 thuộc Khu thương mại tự do Đà Nẵng. Các nhà đầu tư đang phối hợp với thành phố hoàn thiện các thủ tục cần thiết theo quy định để sớm triển khai các dự án hạ tầng và đưa Khu thương mại tự do sớm đi vào hoạt động.
Trong thời gian tới, thành phố định hướng tiếp tục nghiên cứu mở rộng không gian phát triển Khu thương mại tự do về phía Nam nhằm khai thác hiệu quả quỹ đất, tăng cường kết nối với hệ thống cảng biển Chu Lai – Kỳ Hà, sân bay Chu Lai, Khu Kinh tế mở Chu Lai và mạng lưới giao thông chiến lược.
Trong giai đoạn 2026-2030, ưu tiên bổ sung 02 vị trí: Khu vực Cảng Container Liên Chiểu với quy mô khoảng 172 ha và Khu vực tiếp giáp sân bay Chu Lai quy mô khoảng 223 ha, phục vụ logistics hàng không, kho ngoại quan.
Thứ hai, chuyển mạnh từ thu hút đầu tư theo số lượng sang lựa chọn nhà đầu tư chiến lược và các ngành có giá trị gia tăng cao.
Thành phố Đà Nẵng luôn xác định khu vực đầu tư nước ngoài là một động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thành phố đã tập trung cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, đẩy mạnh cải cách hành chính, xúc tiến đầu tư có trọng tâm, trọng điểm và triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách đặc thù do Trung ương ban hành.
Giai đoạn 2021–2025, thành phố thu hút hơn 2,07 tỷ USD vốn FDI; lũy kế đến nay có 1.133 dự án với tổng vốn đăng ký khoảng 10,94 tỷ USD. Riêng 6 tháng đầu năm 2026, Thành phố thu hút gần 358 triệu USD, tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước; các dự án tập trung chủ yếu vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ thông tin, thương mại và dịch vụ.
Tuy nhiên, kết quả thu hút FDI vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới; chưa thu hút được nhiều dự án quy mô lớn, có tính dẫn dắt, tạo đột phá về công nghệ và liên kết chuỗi giá trị; năng lực tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, mức độ liên kết giữa khu vực FDI với doanh nghiệp nội địa chưa cao.
Do đó, trong thời gian tới, thành phố Đà Nẵng đổi mới mạnh mẽ mô hình thu hút đầu tư theo hướng lựa chọn dòng vốn FDI chất lượng cao, lấy đổi mới sáng tạo, công nghệ cao và giá trị gia tăng làm trọng tâm, gắn với phát triển Khu thương mại tự do và Trung tâm tài chính quốc tế.
Cụ thể, xây dựng danh mục dự án trọng điểm cần thu hút; ưu tiên thu hút các dự án thuộc các lĩnh vực bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghệ môi trường, năng lượng sạch, logistics thông minh, dịch vụ tài chính quốc tế và kinh tế số.
Đổi mới hình thức xúc tiến đầu tư tại các thị trường trọng điểm như Mỹ, Nhật Bản, EU… Ưu tiên các hình thức tiếp xúc, làm việc trực tiếp với các nhà đầu tư quan tâm là Tập đoàn xuyên quốc gia; nhất là các doanh nghiệp trong danh sách Fortune 500 hoặc các Tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới.
Đồng thời, việc lựa chọn nhà đầu tư không chỉ căn cứ vào quy mô vốn mà tập trung đánh giá năng lực công nghệ, năng lực quản trị, khả năng nghiên cứu phát triển, mức độ chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, sử dụng năng lượng xanh và khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại điểm cầu thành phố Đà Nẵng - Ảnh: VGP/Nhật Anh
Thứ ba, xây dựng hệ sinh thái đầu tư đồng bộ để giảm chi phí và nâng cao sức cạnh tranh của môi trường đầu tư
Thành phố Đà Nẵng tập trung phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng giao thông, logistics, hạ tầng số, năng lượng, hải quan thông minh, chính quyền số và các dịch vụ công chất lượng cao; đồng thời gắn kết chặt chẽ giữa Khu thương mại tự do với Khu công nghệ cao, Trung tâm đổi mới sáng tạo, Cảng Liên Chiểu, sân bay quốc tế và Trung tâm tài chính quốc tế.
Song song với đó, Thành phố ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp với các trường đại học, viện nghiên cứu nhằm đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghệ cao và các tập đoàn đa quốc gia.
Thứ tư, phát huy vai trò của Trung tâm tài chính quốc tế trong thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Khu thương mại tự do
Trong quá trình triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW, sự kết hợp giữa Khu thương mại tự do với Trung tâm tài chính quốc tế là lợi thế đặc biệt của Đà Nẵng trong giai đoạn tới.
Triển khai thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị; chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của các bộ, ngành trung ương, thành phố Đà Nẵng đã chỉ đạo Cơ quan điều hành Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng (VIFC-DN) lựa chọn, triển khai một số sản phẩm dịch vụ tài chính giúp khơi thông và đa dạng hoá kênh dẫn vốn vào nền kinh tế gắn với nhu cầu của thành phố như: nhu cầu vốn cho các công trình hạ tầng trọng điểm, Khu Thương mại tự do, Khu công nghệ cao. Hiện nay, Cơ quan điều hành VIFC-DN đã và đang phối hợp với các đối tác, định chế tài chính quốc tế lớn triển khai 03 nhóm sản phẩm trọng tâm, ưu tiên phát triển tại VIFC-DN, bao gồm:
(1) Phát triển hạ tầng kết nối thị trường vốn quốc tế (VIFC Connect): Nghiên cứu xây dựng cơ chế kết nối thị trường vốn quốc tế theo mô hình Bond Connect của Hong Kong (Trung Quốc) nhằm hình thành hạ tầng tài chính hiện đại phục vụ huy động vốn xuyên biên giới.
Thông qua cơ chế này, các doanh nghiệp trong Khu Thương mại tự do và các địa phương có dự án trọng điểm có thể tiếp cận trực tiếp các nhà đầu tư, tổ chức quốc tế để phát hành trái phiếu và các sản phẩm tài chính khác; từng bước hình thành hệ thống giao dịch, lưu ký và thanh toán đạt chuẩn quốc tế, tạo nền tảng thu hút dòng vốn đầu tư dài hạn vào Việt Nam.
(2) Nhóm sản phẩm mã hóa tài sản thực: Đây là một xu hướng mới trên thế giới, sử dụng công nghệ chuỗi khối (blockchain) để xác thực đối với các tài sản bất động sản, dự án hạ tầng, năng lượng, hàng hóa…thành các chứng chỉ số được phát hành, lưu trữ, và chuyển giao trên nền tảng chuỗi khối nhằm huy động vốn trong và ngoài nước, đặc biệt là từ các quỹ đầu tư từ nước ngoài để đầu tư các dự án hạ tầng trọng điểm, các dự án có quy mô vốn lớn…
(3) Thu hút nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng phi ngân hàng nước ngoài (công ty tài chính, quỹ đầu tư…) nhằm cung cấp nguồn vốn phục vụ đầu tư phát triển của thành phố và các địa phương khác, phục vụ cho khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thông qua cơ chế này, các tập đoàn kinh tế tư nhân có điều kiện tiếp cận các nguồn vốn quy mô lớn để đầu tư phát triển hạ tầng chiến lược như cảng biển, sân bay, năng lượng, giao thông và logistics.
Bên cạnh 03 nhóm sản phẩm cốt lõi, Cơ quan điều hành VIFC-DN đã và đang trao đổi, làm việc cùng các công ty chứng khoán quốc tế, các định chế tài chính đáp ứng nhu cầu của thành phố Đà Nẵng trong việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương để huy động vốn phục vụ các dự án hạ tầng trọng điểm của thành phố như: tuyến đường đô thị tốc độ cao phía Đông thành phố quy mô 27.000 tỷ kết nối từ Sân bay quốc tế Đà Nẵng đến Sân bay Chu Lai; đường sắt đô thị, ưu tiên trước mắt là đoạn Đà Nẵng – Hội An quy mô 95.00 tỷ, …
Thứ năm, phát huy vai trò dẫn dắt liên kết vùng, tạo không gian phát triển chung cho khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung.
Một trong những điểm nổi bật của Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị là vượt ra khỏi tư duy phát triển dựa trên địa giới hành chính truyền thống để hướng tới tổ chức không gian phát triển theo các hệ sinh thái kinh tế liên kết; thu hút đầu tư sẽ gắn với việc hình thành các cực tăng trưởng chuyên sâu, các vùng phát triển chuyên biệt dựa trên lợi thế địa kinh tế, hạ tầng, nguồn nhân lực, khả năng kết nối chuỗi giá trị của từng khu vực.
Theo đó, thành phố Đà Nẵng chú trọng hợp tác, liên kết các địa phương trong vùng để xây dựng chuỗi giá trị và "phân vai" liên kết vùng.
Đà Nẵng sẽ tập trung phát triển các chức năng trung tâm về logistics quốc tế, tài chính, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu phát triển và dịch vụ chất lượng cao; trong khi các địa phương trong vùng phát huy lợi thế về công nghiệp, sản xuất, công nghiệp hỗ trợ, năng lượng và kinh tế biển.
Thông qua hệ thống cảng biển, sân bay, các tuyến cao tốc và Hành lang kinh tế Đông - Tây, Đà Nẵng sẽ đóng vai trò là cửa ngõ kết nối vùng với thị trường quốc tế, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh chung của toàn khu vực.
Việc phát triển theo mô hình liên kết vùng sẽ tạo quy mô thị trường lớn hơn, nâng cao hiệu quả sử dụng hạ tầng, hạn chế cạnh tranh bằng ưu đãi đầu tư và tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế.
Để thực hiện hiệu quả các giải pháp, mục nêu trên, thành phố Đà Nẵng đề nghị Trung ương tiếp tục quan tâm hoàn thiện khung pháp lý cho Khu thương mại tự do và Trung tâm tài chính quốc tế; bổ sung nhà máy điện LPG Hoà Ninh vào Quy hoạch điện VIII; nghiên cứu cho phép thí điểm một số cơ chế, chính sách vượt trội về đổi mới sáng tạo, tài chính số, công nghệ mới, quản trị hiện đại; tăng cường phân cấp, phân quyền trong quản lý đầu tư, đất đai, hải quan và lao động chất lượng cao; đồng thời xây dựng cơ chế điều phối phát triển vùng nhằm phát huy hiệu quả liên kết giữa các địa phương.
Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư toàn cầu ngày càng gay gắt, ưu đãi thuế hay chi phí nhân công rẻ không còn là yếu tố quyết định mà phụ thuộc vào chất lượng thể chế, năng lực đổi mới sáng tạo, khả năng kết nối chuỗi giá trị toàn cầu và sự phát triển đồng bộ của hệ sinh thái đầu tư.
Thành phố Đà Nẵng đã xác định và quyết tâm phát triển Khu thương mại tự do gắn với Trung tâm tài chính quốc tế, đổi mới sáng tạo, phát triển đô thị đáng sống cùng với liên kết vùng là hướng đi chiến lược để thu hút dòng vốn chất lượng cao nhằm xây dựng thành phố trở thành cực tăng trưởng của miền Trung và cả nước; góp phần hiện thực hóa các mục tiêu mà Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra.

Ông Takuya Sahashi, Phó Chủ tịch Tập đoàn Mitsubishi Corporation tại Việt Nam đánh giá cao định hướng chính sách rõ ràng của Nghị quyết số 10-NQ/TW trong việc thu hút đầu tư nước ngoài chất lượng cao, thúc đẩy các ngành công nghệ cao và đổi mới sáng tạo - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Tham luận về "Vai trò của Doanh nghiệp FDI trong phát triển công nghệ cao, chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng nội địa", ông Takuya Sahashi, Phó Chủ tịch Tập đoàn Mitsubishi Corporation tại Việt Nam, đánh giá cao định hướng chính sách rõ ràng của Nghị quyết trong việc thu hút đầu tư nước ngoài chất lượng cao, thúc đẩy các ngành công nghệ cao và đổi mới sáng tạo, đồng thời tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp trong nước.
Đồng thời, Phó Chủ tịch Tập đoàn Mitsubishi Corporation tại Việt Nam đồng tình với tầm nhìn cho rằng sự phát triển kinh tế của Việt Nam không nên chỉ dựa vào việc thu hút đầu tư nước ngoài mà còn phải tạo điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu.
Thông qua quá trình tham gia này, các công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại và các tiêu chuẩn quốc tế sẽ từng bước được lan tỏa vào khu vực doanh nghiệp trong nước, tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ và nâng cao nền tảng công nghiệp nói chung.
Theo ông Takuya Sahashi, các doanh nghiệp Nhật Bản đã đóng góp vào sự phát triển công nghiệp của Việt Nam trong hơn ba thập kỷ qua. Nhật Bản đã đầu tư đáng kể vào các lĩnh vực sản xuất như thiết bị vận tải, điện tử và máy móc công nghiệp, tạo việc làm và hỗ trợ xuất khẩu.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Nhật Bản luôn chú trọng phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ và phát triển các nhà cung ứng. Nhờ vậy, tỉ lệ nội địa hóa đã không ngừng được nâng lên theo thời gian.
Để triển khai thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết số 10-NQ/TW, ông Takuya Sahashi cho rằng vẫn còn một số thách thức cần vượt qua. Đó là năng lực kỹ thuật và chất lượng của các nhà cung ứng trong nước cần tiếp tục được nâng cao. Các ngành công nghiệp thượng nguồn, bao gồm ngành vật liệu và linh kiện then chốt vẫn còn kém phát triển, dẫn đến sự phụ thuộc kéo dài vào nhập khẩu.
Mặc dù đã có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận do thủ tục phức tạp hoặc chưa phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp…
Việc giải quyết những vấn đề này có ý nghĩa thiết yếu trong việc tăng cường mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.
Dựa trên kinh nghiệm thực tiễn, ông Takuya Sahashi nhấn mạnh một số khuyến nghị trọng tâm, phù hợp với tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW. Trong đó nhấn mạnh cần sự hỗ trợ có trọng tâm đối với các doanh nghiệp trong nước có tiềm năng cao thay vì chỉ chú trọng đến số lượng; cần xác định các doanh nghiệp Việt Nam có tiềm năng phát triển cao và dành cho họ các chính sách hỗ trợ có trọng tâm.
Việc tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp FDI có thể giúp hình thành và phát triển các nhà cung ứng nòng cốt, có năng lực cạnh tranh.
Đồng thời tăng cường kết nối doanh nghiệp và nâng cao khả năng tiếp cận thông tin. Việc hoàn thiện các cơ chế nhằm nhận diện và giới thiệu các nhà cung ứng trong nước có năng lực là hết sức quan trọng. Mở rộng cơ sở dữ liệu nhà cung ứng, các triển lãm và nền tảng kết nối doanh nghiệp thông qua sự phối hợp giữa Chính phủ và các tổ chức doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các liên kết chặt chẽ hơn.
Cùng với đó là phát triển các ngành công nghiệp thượng nguồn. Việc phát triển có chiến lược các ngành vật liệu và linh kiện là yếu tố thiết yếu nhằm gia tăng giá trị gia tăng trong nước và nâng cao khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng. Đây cũng là nền tảng quan trọng để thu hút các dòng vốn FDI chất lượng cao và công nghệ cao.
Ông Takuya Sahashi cũng khuyến nghị cần nâng cao khả năng tiếp cận các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các chương trình hỗ trợ cần được thiết kế đơn giản hơn, linh hoạt hơn và dễ tiếp cận hơn để doanh nghiệp có thể sử dụng khi cần thiết.
Cuối cùng, việc tăng cường đào tạo nghề, thúc đẩy hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp cũng như nâng cao kỹ năng thực hành là hết sức cần thiết để tăng cường năng lực tiếp nhận và hấp thụ công nghệ chuyển giao.
Việc tạo dựng mối liên kết chặt chẽ hơn giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam thông qua việc nâng cao năng suất, tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn và phát triển một cơ cấu công nghiệp có khả năng chống chịu tốt hơn và tự chủ hơn. Đồng thời, điều này cũng sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu của các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam.
"Các doanh nghiệp Nhật Bản cam kết tiếp tục đóng góp vào sự phát triển của Việt Nam thông qua đầu tư, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực. Chúng tôi mong muốn tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Việt Nam và tất cả các bên liên quan nhằm hiện thực hóa tầm nhìn được đề ra trong Nghị quyết số 10-NQ/TW", ông Takuya Sahashi phát biểu.

Ông Dominic Scriven, Chủ tịch Dragon Capital, trao đổi online về "Giải pháp phát triển thị trường vốn để khuyến khích dòng vốn nước ngoài có chất lượng"
Trao đổi online về "Giải pháp phát triển thị trường vốn để khuyến khích dòng vốn nước ngoài có chất lượng", ông Dominic Scriven, Chủ tịch Dragon Capital chúc mừng Việt Nam về việc ban hành Nghị quyết mới liên quan đến vai trò của vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế.
Theo quan điểm của Dragon Capital, đây là một Nghị quyết có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với cộng đồng nhà đầu tư quốc tế. Nghị quyết đã khẳng định rõ rằng khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận không tách rời của nền kinh tế quốc gia Việt Nam. Điều đó thể hiện cam kết đối xử bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, tạo dựng niềm tin và là thông điệp rất tích cực đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Điểm thứ hai, Nghị quyết nhấn mạnh rằng thu hút đầu tư không chỉ hướng đến quy mô vốn, mà còn chú trọng chất lượng của dòng vốn. Điều đó bao gồm công nghệ tiên tiến, đội ngũ chuyên gia, năng lực quản trị hiện đại và các chuẩn mực quản trị quốc tế. Đây là định hướng rất đúng đắn, giúp nâng cao chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế.
Thứ ba, Nghị quyết khẳng định rõ quan điểm phát triển bền vững: thu hút đầu tư nước ngoài không được đánh đổi môi trường, tài nguyên thiên nhiên hay hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam. Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với định hướng này.
Ông Dominic Scriven bày tỏ phấn khởi khi Nghị quyết xác định thị trường vốn và các nhà đầu tư trên thị trường vốn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thu hút và phát huy hiệu quả của nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Nhân dịp này, đại diện lãnh đạo Dragon Capital kiến nghị một số nội dung.
Trước hết, để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng nhanh của Việt Nam, một trong những thách thức lớn không chỉ là quy mô nguồn vốn mà còn là chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Hiện nay, Kho bạc Nhà nước có thể phát hành trái phiếu kỳ hạn dài với lãi suất khoảng 4% mỗi năm. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp nếu phát hành trái phiếu kỳ hạn ba năm vẫn phải chấp nhận mức lãi suất từ 10–12% mỗi năm, còn kỳ hạn năm năm gần như rất khó thực hiện. Khoảng chênh lệch này là quá lớn. Theo góc nhìn của Dragon Capital, cần có những giải pháp nhằm từng bước thu hẹp chi phí vốn cho khu vực doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham dự Hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Kiến nghị thứ nhất là Chính phủ nghiên cứu cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp FDI giữ lại lợi nhuận tại Việt Nam thay vì chuyển toàn bộ ra nước ngoài. Một giải pháp có thể xem xét là xây dựng cơ chế lãi suất phù hợp đối với các khoản tiền gửi bằng đô la Mỹ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại hệ thống ngân hàng Việt Nam. Điều này sẽ góp phần bổ sung nguồn vốn ngoại tệ ổn định cho nền kinh tế.
Kiến nghị thứ hai là tiếp tục đẩy nhanh tiến trình nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam, hướng tới mục tiêu trở thành thị trường mới nổi trước năm 2030.
Dragon Capital đánh giá cao những nỗ lực của Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong việc triển khai hệ thống CCP. Bên cạnh đó, Dragon Capital kiến nghị Chính phủ tiếp tục nghiên cứu hai nội dung quan trọng.
Thứ nhất, xem xét nới lỏng hoặc điều chỉnh các quy định về giới hạn tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đối với những ngành nghề và doanh nghiệp không thuộc lĩnh vực trọng yếu liên quan đến an ninh quốc gia.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện cơ chế giao dịch ngoại hối nhằm tạo thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia thị trường vốn Việt Nam.
Kiến nghị thứ ba liên quan đến điều kiện niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Dragon Capital hoàn toàn đồng tình với quy định doanh nghiệp đang thua lỗ không đủ điều kiện niêm yết. Tuy nhiên, quy định không cho phép doanh nghiệp có lỗ lũy kế được niêm yết đang tạo ra rào cản đáng kể đối với nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh tế số và trí tuệ nhân tạo. Đây là những doanh nghiệp thường phải trải qua giai đoạn đầu tư dài, chấp nhận lỗ trong thời kỳ đầu trước khi tạo ra lợi nhuận. Dragon Capital kiến nghị nghiên cứu điều chỉnh quy định này theo hướng phù hợp hơn với đặc thù của các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.
Kiến nghị thứ tư là tiếp tục thúc đẩy phát triển các trung tâm tài chính tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
Theo phân tích của Dragon Capital, trong khuôn khổ các trung tâm tài chính này, Việt Nam có cơ hội xây dựng cơ chế phát hành riêng lẻ chuyên biệt dành cho các nhà đầu tư tổ chức chuyên nghiệp quốc tế. Đây sẽ là một kênh huy động vốn rất hiệu quả cho nền kinh tế.
Kiến nghị cuối cùng là đẩy mạnh phát triển hệ thống các nhà đầu tư tổ chức trong nước. Đây sẽ là nền tảng quan trọng giúp thị trường vốn Việt Nam phát triển ổn định, bền vững và giảm phụ thuộc vào dòng vốn ngắn hạn.
Lãnh đạo Dragon Capital cam kết sẽ tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam trong quá trình phát triển thị trường vốn.
Dragon Capital sẽ tiếp tục làm cầu nối giữa các nguồn vốn quốc tế và thị trường vốn Việt Nam; tiếp tục đồng hành cùng Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong quá trình nâng hạng thị trường chứng khoán; tiếp tục ưu tiên đầu tư vào các doanh nghiệp có chất lượng cao, quản trị minh bạch, quản trị rủi ro hiệu quả và tuân thủ các tiêu chuẩn ESG về môi trường, xã hội và quản trị.
Đồng thời, Dragon Capital cam kết tích cực hỗ trợ phát triển hệ thống các nhà đầu tư tổ chức trong nước, góp phần xây dựng một thị trường vốn Việt Nam ngày càng sâu rộng, hiện đại và bền vững.

Ông Micheal Kokalari, Chuyên gia kinh tế, Quỹ đầu tư VinaCapital, tham luận nội dung "Giải pháp thu hút các quỹ đầu tư để khuyến khích dòng vốn nước ngoài dài hạn, ổn định" - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Ông Micheal Kokalari, Chuyên gia kinh tế, Quỹ đầu tư VinaCapital, tham luận nội dung "Giải pháp thu hút các quỹ đầu tư để khuyến khích dòng vốn nước ngoài dài hạn, ổn định".
Theo ông Micheal Kokalari, ngày nay, Việt Nam đã trở thành một điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế. VinaCapital tin rằng Nghị quyết 10, với định hướng tăng cường sự liên kết giữa khu vực doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, sẽ tạo ra những lợi thế cạnh tranh lớn hơn cho nền kinh tế, đồng thời nâng cao hơn nữa sức hấp dẫn của Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư toàn cầu.
Nhân dịp này, VinaCapital đề xuất một số khuyến nghị nhằm giúp Việt Nam tiếp tục thu hút hiệu quả dòng vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn tới.
Khuyến nghị đầu tiên là Việt Nam cần tiếp tục theo đuổi các chương trình phát triển hạ tầng quy mô lớn và đầy tham vọng. Đây là nền tảng quan trọng để duy trì tốc độ tăng trưởng dài hạn. Tuy nhiên, các dự án hạ tầng đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn, và đây chính là lĩnh vực mà VinaCapital cũng như các nhà đầu tư quốc tế có thể đồng hành, hỗ trợ Việt Nam huy động nguồn vốn dài hạn.
Đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, việc tận dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài để phát triển cơ sở hạ tầng là điều hoàn toàn bình thường và đã được nhiều quốc gia áp dụng thành công. Ngay cả Hoa Kỳ trong thế kỷ XIX cũng đã huy động nguồn vốn quốc tế, đặc biệt từ Luân Đôn, để xây dựng hệ thống đường sắt và phát triển hạ tầng quốc gia.
Trong hơn 20 năm hoạt động tại Việt Nam, VinaCapital đã xây dựng được mạng lưới sâu rộng với các trung tâm tài chính lớn trên thế giới như Luân Đôn, New York, Singapore và nhiều thị trường khác. Điều đó giúp chúng tôi có cơ hội tiếp xúc thường xuyên với các nhà đầu tư toàn cầu, hiểu rõ nhu cầu, kỳ vọng cũng như mức độ quan tâm ngày càng lớn của họ đối với thị trường Việt Nam.
Từ góc độ đó, VinaCapital đề xuất 4 khuyến nghị.
Thứ nhất, Việt Nam cần ưu tiên hoàn thành mục tiêu được MSCI nâng hạng lên thị trường mới nổi, sau khi đã được FTSE Russell nâng hạng trong thời gian qua. Đây sẽ là bước ngoặt quan trọng giúp thu hút dòng vốn đầu tư thụ động và chủ động quy mô lớn từ các quỹ quốc tế.
Thứ hai, Việt Nam cần sớm đạt được xếp hạng tín nhiệm ở mức đầu tư (Investment Grade) từ các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế như S&P, Moody's hoặc Fitch. Cùng với đó là đẩy nhanh việc đưa Trung tâm Tài chính quốc tế của Việt Nam đi vào hoạt động, qua đó tạo thêm một kênh quan trọng để thu hút dòng vốn quốc tế.
Thứ ba, Việt Nam cần thúc đẩy mạnh mẽ hơn quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, các đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) cũng như các hình thức huy động vốn khác. Điều này sẽ giúp mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng hàng hóa trên thị trường vốn, từ đó thu hút thêm nhiều nhà đầu tư quốc tế.
Thứ tư, để đáp ứng đầy đủ các tiêu chí nâng hạng của MSCI, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện một số nội dung quan trọng. Trước hết là sớm triển khai cơ chế đối tác bù trừ trung tâm (CCP). Bên cạnh đó, cần cho phép triển khai các công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá đối với hoạt động đầu tư gián tiếp, tiếp tục xem xét nới lỏng các giới hạn về sở hữu nước ngoài ở những lĩnh vực phù hợp, đồng thời nâng cao hơn nữa các tiêu chuẩn về minh bạch thông tin và quản trị doanh nghiệp.
Ông Micheal Kokalari khẳng định rằng hiện nay có rất nhiều quỹ đầu tư quốc tế với quy mô lên tới hàng trăm tỷ đô la Mỹ đang theo dõi rất sát thị trường Việt Nam. Khi những điều kiện nêu trên được hoàn thiện và Việt Nam chính thức được MSCI nâng hạng, VinaCapital tin rằng sẽ có một lượng vốn rất lớn được giải ngân vào thị trường Việt Nam.
Ông Micheal Kokalari cho biết ông có tình cảm rất sâu sắc đối với Việt Nam - đất nước ông đã gắn bó và sinh sống suốt hơn 20 năm qua. Ông Micheal Kokalari bày tỏ vinh dự khi được đồng hành cùng quá trình phát triển của Việt Nam trong chặng đường vừa qua và hy vọng sẽ tiếp tục được chứng kiến những thành tựu lớn hơn nữa của đất nước trong 20 năm tới.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo Hội nghị - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao sự chuẩn bị công phu của các cơ quan trong quá trình xây dựng Nghị quyết; ghi nhận những ý kiến tâm huyết, trách nhiệm tại Hội nghị hôm nay và sự quan tâm theo dõi Hội nghị của đông đảo cán bộ, đảng viên, cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư và Nhân dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị các cấp, các ngành, các địa phương tập trung quán triệt và tổ chức thực hiện tốt 08 nhiệm vụ trọng tâm.
Thứ nhất, phải thống nhất nhận thức, đổi mới mạnh mẽ tư duy về đầu tư nước ngoài. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng hợp tác, cạnh tranh lành mạnh và phát triển với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế hợp tác. Chúng ta tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có năng lực, công nghệ, trách nhiệm và cam kết lâu dài đầu tư, kinh doanh thành công tại Việt Nam. Đồng thời, phải sàng lọc chặt chẽ, không tiếp nhận các dự án công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng, sử dụng đất kém hiệu quả, có nguy cơ gây ô nhiễm, chuyển giá, trốn thuế, lẩn tránh xuất xứ hoặc gây rủi ro đối với quốc phòng, an ninh, dữ liệu và hạ tầng trọng yếu.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế theo hướng ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo và phù hợp với thông lệ quốc tế. Các bộ, ngành phải rà soát, đồng bộ hóa các quy định liên quan đến đầu tư, kinh doanh và thị trường. Kiên quyết xử lý tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thủ tục rườm rà và cách hiểu không thống nhất giữa các cơ quan, địa phương. Không để nhà đầu tư phải đi qua quá nhiều cửa, mất quá nhiều thời gian và chi phí để triển khai một dự án hợp pháp. Các cơ quan nhà nước phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại và phục vụ doanh nghiệp. Không chỉ giải quyết thủ tục nhanh hơn, mà phải giúp nhà đầu tư dự báo được chính sách, nhìn rõ triển vọng và yên tâm đầu tư dài hạn.
Thứ ba, bỏ tư duy ưu đãi đầu vào, thay bằng hỗ trợ dựa trên kết quả đầu ra, gắn với mức độ thực hiện cam kết. Những dự án có công nghệ tiên tiến, đầu tư nghiên cứu phát triển, đóng góp cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đào tạo lao động Việt Nam, sử dụng nhà cung ứng trong nước, chuyển giao công nghệ, tiết kiệm đất đai, năng lượng và giảm phát thải phải được hỗ trợ tương xứng. Ngược lại, dự án chậm triển khai, sử dụng đất lãng phí, gây ô nhiễm, chuyển giá, vi phạm pháp luật hoặc không thực hiện đúng cam kết phải bị xử lý nghiêm. Tùy theo mức độ vi phạm, nếu cần thiết thì thu hồi ưu đãi, thu hồi đất hoặc chấm dứt dự án.
Thứ tư, phát triển mạnh hệ sinh thái công nghiệp trong nước và liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam. Đây là nhiệm vụ trung tâm của Nghị quyết. Các bộ, ngành, địa phương không chỉ mời gọi các tập đoàn nước ngoài mà phải đồng thời nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam để trở thành nhà cung ứng của họ. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu về nhà cung ứng, tăng cường kết nối FDI với doanh nghiệp trong nước, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cấp quản trị, tiêu chuẩn kỹ thuật, năng lực tài chính, truy xuất nguồn gốc, sở hữu trí tuệ và chuyển đổi số. Doanh nghiệp FDI cần công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, lộ trình nội địa hóa và cơ hội hợp tác. Các tập đoàn lớn đầu tư tại Việt Nam phải đồng hành phát triển công nghiệp hỗ trợ, đào tạo nhà cung ứng, chia sẻ tiêu chuẩn, chuyển giao tri thức và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị các cấp, các ngành, các địa phương tập trung quán triệt và tổ chức thực hiện tốt 08 nhiệm vụ trọng tâm
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện quyết định. Không có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia, kỹ thuật viên và nhà quản trị giỏi thì không thể thu hút, giữ chân các dự án công nghệ cao, cũng không thể chuyển từ gia công, lắp ráp sang thiết kế, nghiên cứu, sản xuất sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Các địa phương có Khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao phải chủ động liên kết với các cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu và doanh nghiệp để đào tạo theo nhu cầu của ngành, cụm liên kết và các dự án chiến lược. Phải tạo điều kiện để người Việt Nam từng bước đảm nhận các vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế và vận hành chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp FDI.
Thứ sáu, đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng chiến lược và hạ tầng phục vụ nền kinh tế mới. Muốn thu hút các dự án lớn, công nghệ cao, trung tâm dữ liệu, trung tâm nghiên cứu, trung tâm tài chính, khu thương mại tự do hay nhà máy hiện đại, phải có điện ổn định, năng lượng sạch, cảng biển, sân bay, đường cao tốc, đường sắt, hạ tầng số, khu công nghiệp sinh thái và môi trường sống tốt cho chuyên gia, người lao động. Phải coi hạ tầng là nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia. Các địa phương không thể tiếp tục phát triển Khu công nghiệp manh mún, dàn trải, thiếu kết nối, thiếu nhà ở công nhân, dịch vụ xã hội, đào tạo nghề, thiếu liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Thứ bảy, đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư. Không tiếp cận tràn lan mà gặp gỡ có mục tiêu, chuẩn bị kỹ làm việc với từng tập đoàn hoặc một nhóm tập đoàn, quỹ đầu tư, đối tác chiến lược. (Xác định rõ đối tác cần mời, ngành cần thu hút, địa điểm dự án và các điều kiện cần chuẩn bị về đất đai, điện, hạ tầng, nhân lực, chính sách và nhà cung ứng). Phải đồng hành với nhà đầu tư từ khi tìm hiểu đến triển khai, vận hành và mở rộng. Hỗ trợ sau cấp phép, tháo gỡ vướng mắc cho dự án hiện hữu, tạo điều kiện, khuyến khích để nhà đầu tư mở rộng đầu tư, giữ lại lợi nhuận tái đầu tư thay vì chuyển về nước.
Cần cơ cấu lại và nâng cao năng lực cơ quan xúc tiến đầu tư ở cả Trung ương và địa phương.
Thứ tám, phát triển thị trường vốn hiện đại để thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp dài hạn, ổn định và có trách nhiệm. Nghị quyết 10 không chỉ đặt vấn đề về FDI mà còn yêu cầu phát triển thị trường vốn, nâng hạng thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do. Việt Nam không chỉ là nơi đặt nhà máy mà phải trở thành nơi huy động, phân bổ vốn và cung cấp các dịch vụ tài chính, công nghệ, đổi mới sáng tạo cho khu vực. Quá trình này phải gắn với an ninh tài chính, an toàn hệ thống, minh bạch thông tin, bảo vệ nhà đầu tư và kiểm soát rủi ro về dòng vốn, rửa tiền, đầu cơ, thao túng thị trường.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong, ngoài nước phát huy cao nhất tinh thần trách nhiệm, đổi mới, sáng tạo, quyết tâm đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: Chúng ta bước vào giai đoạn phát triển thế hệ mới với một tâm thế mới. Việt Nam không thu hút đầu tư bằng mọi giá mà phải là quốc gia có chiến lược, có lựa chọn, có năng lực sàng lọc và đồng hành với các nhà đầu tư tốt để cùng tạo ra giá trị mới. Chúng ta hoan nghênh các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam làm ăn lâu dài, tuân thủ pháp luật, tôn trọng lợi ích chính đáng của người lao động, cộng đồng và đất nước, cùng chia sẻ công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển doanh nghiệp trong nước và nâng cao vị thế Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Tinh thần của Nghị quyết 10 rất rõ: thu hút đầu tư nước ngoài không phải để thay thế nội lực mà để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ; không chỉ để tăng trưởng nhanh mà để phát triển bền vững, bao trùm và có chất lượng cao.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư trong, ngoài nước phát huy cao nhất tinh thần trách nhiệm, đổi mới, sáng tạo, quyết tâm đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống, biến chủ trương đúng đắn thành những dự án tốt, doanh nghiệp mạnh, chuỗi giá trị mới, việc làm chất lượng cao và năng lực mới cho đất nước.
Đó là cách thiết thực nhất để tiếp tục viết nên một chương mới của công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển; đưa Việt Nam tiến nhanh, tiến vững chắc trên con đường trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị "về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài".
Nghị quyết số 10-NQ/TW nêu rõ: Sau gần 40 năm đổi mới và mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã không ngừng phát triển, không chỉ bổ sung nguồn lực đầu tư quan trọng, mà còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực, mở rộng thị trường xuất khẩu, từng bước đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, tiếp nhận công nghệ, phương thức quản trị tiên tiến.
Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả thu hút, quản lý, sử dụng đầu tư nước ngoài chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đáp ứng được những yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới của đất nước.
Tỷ lệ dự án thâm dụng lao động, tài nguyên, đất đai, năng lượng, gia công, lắp ráp còn cao; tỷ lệ nội địa hóa, giá trị tăng thêm hình thành ở Việt Nam còn thấp; liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước chưa cao, chuyển giao công nghệ còn hạn chế; còn hiện tượng cạnh tranh thu hút đầu tư theo số lượng ở một số địa phương.
Dòng vốn đầu tư gián tiếp còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng thị trường. Hoạt động góp vốn, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp của các quỹ đầu tư, định chế tài chính toàn cầu, nhà đầu tư nước ngoài còn hạn chế, quản lý thiếu chặt chẽ.
Trong bối cảnh Việt Nam đang xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, việc thu hút và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước.
Bộ Chính trị yêu cầu tập trung quán triệt, thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nội dung sau:
1. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, không chỉ góp phần bổ sung vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giúp mở rộng thị trường; được Nhà nước khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác theo quy định của pháp luật.
2. Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả, năng lực tự chủ chiến lược, sức cạnh tranh của nền kinh tế, mở rộng mạng lưới thị trường, tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng toàn cầu; đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
3. Chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng,… làm tiêu chí chủ yếu; chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết, bao gồm quản trị cả vòng đời dự án và kết nối với doanh nghiệp trong nước.
4. Phát triển đồng bộ, thống nhất hệ sinh thái đầu tư nước ngoài, gắn với chiến lược phát triển doanh nghiệp trong nước, phát triển thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo, hạ tầng logistics, dữ liệu, năng lượng; khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài hình thành trụ sở khu vực và các trung tâm điều hành, nghiên cứu, thiết kế, dịch vụ của khu vực.
5. Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư nước ngoài; bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định, nhất quán, chi phí tuân thủ thấp, có khả năng dự báo cao, phù hợp với thông lệ quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh trong khu vực và toàn cầu.
Bảo đảm cơ chế đối thoại, tiếp nhận, xử lý kịp thời kiến nghị, khiếu nại trên nguyên tắc hài hòa lợi ích giữa các bên; xử lý tranh chấp đầu tư theo quy định của pháp luật; khuyến khích các bên tự hòa giải, thông qua cơ chế hòa giải thương mại và trọng tài thương mại.
6. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiến tạo của Nhà nước; nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều phối quốc gia; phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương trên cơ sở thống nhất chiến lược, quy hoạch, tiêu chí, cơ chế giám sát; lấy kết quả đóng góp thực chất làm thước đo chủ yếu trong thu hút, quản lý và sử dụng đầu tư nước ngoài.
Đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao cho đầu tư phát triển.
Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan tỏa với các khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu; góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tăng cường năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia; tạo động lực quan trọng thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045.
- Phấn đấu đưa Việt Nam thuộc nhóm dẫn đầu ASEAN về môi trường đầu tư kinh doanh, năng lực cạnh tranh, đổi mới sáng tạo, chất lượng dịch vụ công và năng lực tiếp nhận các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao.
- Giai đoạn 2026-2030: Thu hút vốn đầu tư nước ngoài đăng ký khoảng 200-300 tỷ USD (40-50 tỷ USD/năm); vốn thực hiện khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD/năm).
- 75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại; số lượng tập đoàn đa quốc gia trong danh sách Fortune 500 có hoạt động đầu tư tại Việt Nam tăng 30%; thu hút các tập đoàn đa quốc gia đầu tư các trung tâm nghiên cứu, thiết kế, đổi mới sáng tạo, dữ liệu, trụ sở khu vực, trung tâm điều hành, trung tâm ngân quỹ, trung tâm mua sắm, trung tâm dịch vụ dùng chung, trong đó có ít nhất 3 tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, văn phòng, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam; thu hút các doanh nghiệp nước ngoài, bao gồm cả doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng có công nghệ lõi, công nghệ chuyên biệt, có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
- Tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt từ 45-50%; phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có khoảng từ 500-1.000 nhà cung ứng cấp I.
- Tỷ trọng lao động qua đào tạo trong cơ cấu sử dụng lao động đạt khoảng 80%; nâng cao rõ rệt tỷ lệ người Việt Nam đảm nhiệm vị trí kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế, vận hành, chuỗi cung ứng trong các dự án đầu tư nước ngoài chất lượng cao.
- Tỷ lệ khu công nghiệp sinh thái, bao gồm chuyển đổi và thành lập mới chiếm khoảng 10% tổng số khu công nghiệp trên cả nước.
- Phấn đấu trước năm 2030, thị trường chứng khoán được tổ chức xếp hạng thị trường MSCI nâng hạng.
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển hiệu quả, bền vững, gắn kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất, dịch vụ, đổi mới sáng tạo, điều hành khu vực có sức cạnh tranh cao ở châu Á, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; thị trường vốn phát triển hiện đại, minh bạch, an toàn, tiệm cận thông lệ quốc tế.
Phấn đấu đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đóng góp khoảng 30% GDP của đất nước; góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành không tách rời của nền kinh tế; là một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế; là nguồn cung ứng vốn chất lượng cao, công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, tiêu chuẩn quốc tế; là cầu nối mở rộng thị trường và tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu; là kênh truyền thông, quảng bá hình ảnh, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần tích cực vào gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.
- Chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại, điều hành theo kết quả; khắc phục tình trạng các địa phương cạnh tranh thu hút đầu tư chạy theo số lượng; kiên quyết không đánh đổi môi trường, tài nguyên, an sinh xã hội và an ninh kinh tế để đổi lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
- Khuyến khích doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nâng cao trách nhiệm, tăng cường liên kết, chia sẻ tri thức, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp trong nước, đồng hành lâu dài với nền kinh tế Việt Nam.
- Hoàn thiện đồng bộ, thống nhất hệ thống pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo cao, đặc biệt trong các lĩnh vực đầu tư, doanh nghiệp, đất đai, quy hoạch, xây dựng, thuế, hải quan, thương mại, cạnh tranh, ngoại hối, chứng khoán, sở hữu trí tuệ, dữ liệu, lao động, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; kịp thời tháo gỡ chồng chéo, mâu thuẫn, điểm nghẽn trong tổ chức thực hiện.
- Đổi mới cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, chuyển dần từ ưu đãi truyền thống sang cơ chế hỗ trợ gắn với hiệu quả hoạt động của dự án; xây dựng cơ chế hậu kiểm, thu hồi ưu đãi, hỗ trợ nếu không thực hiện theo cam kết; ưu tiên các dự án có cam kết tự nguyện và triển khai thực hiện tốt các cam kết về sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường, đóng góp lớn vào đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, đào tạo và sử dụng nhân lực Việt Nam, phát triển nhà cung ứng trong nước, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, hiệu quả sử dụng đất, tài nguyên, năng lượng và tuân thủ pháp luật.
- Hình thành cơ chế lựa chọn, hỗ trợ, quản lý nhà đầu tư chiến lược; xác định một số nhóm lĩnh vực, công nghệ chiến lược ưu tiên thu hút trong từng giai đoạn và có danh mục mở được rà soát, cập nhật định kỳ đối với các lĩnh vực công nghệ, công nghiệp, dịch vụ mới nổi có lợi thế so sánh, lợi thế vị trí và khả năng lan tỏa cao.
Áp dụng quy trình thủ tục đầu tư đặc biệt và cơ chế ưu đãi cho các dự án công nghệ chiến lược có quy mô lớn, tác động liên vùng, có tiềm năng dẫn dắt chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu, dự án công nghệ cao có cam kết chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Việt Nam.
- Thí điểm mô hình thể chế vượt trội tại một số khu vực như: Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, khu kinh tế, khu công nghệ cao, các mô hình đổi mới sáng tạo và các không gian phát triển mới để thu hút dòng vốn chất lượng cao, thế hệ mới, đồng thời bảo đảm kiểm soát rủi ro.
- Cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh và phối hợp liên thông giữa các cơ quan; thực hiện quản trị đầu tư trên nền tảng số, dữ liệu số và trí tuệ nhân tạo; phân cấp, phân quyền đi đôi với chuẩn hóa quy trình, công khai, minh bạch, hậu kiểm hiệu quả; gắn trách nhiệm của cơ quan đầu mối, người đứng đầu về kết quả, hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
- Rà soát, mở rộng việc tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo lộ trình phù hợp trên cơ sở đánh giá đầy đủ, toàn diện các tác động, bảo đảm công khai, minh bạch, áp dụng thống nhất, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư.
Không áp dụng hồi tố theo hướng xử lý bất lợi cho doanh nghiệp, trừ trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.
- Xây dựng chương trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu của các ngành, lĩnh vực ưu tiên, các cụm liên kết ngành, khu công nghiệp, khu công nghệ cao và dự án chiến lược; đẩy mạnh liên kết giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.
- Có chính sách hỗ trợ cho các dự án đào tạo nguồn nhân lực của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài liên kết với các viện, trường, cơ sở đào tạo nghề, doanh nghiệp trong nước, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ chiến lược.
- Có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cấp và từng bước giao nhiệm vụ kỹ thuật, quản lý, nghiên cứu, thiết kế, vận hành chuỗi cung ứng cho người Việt Nam.
- Đổi mới giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho người lao động; ưu tiên các ngành công nghệ, kỹ thuật, dữ liệu, tự động hóa, quản trị sản xuất, logistics, tài chính và các lĩnh vực mới có nhu cầu cao.
Tổ chức lại các cơ sở đào tạo nghề hiện có tại các địa phương để hình thành các trung tâm đào tạo nghề chất lượng cao tại các vùng kinh tế trọng điểm, đáp ứng yêu cầu thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài thế hệ mới.
- Hoàn thiện chính sách thu hút nhân tài, trọng dụng chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân, nhà sáng lập, người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài có trình độ cao đến làm việc, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, điều hành hoạt động tại Việt Nam; tạo điều kiện thuận lợi về cư trú, việc làm, môi trường sống, dịch vụ công và kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; rà soát, cắt giảm tối đa các quy định về giấy phép lao động đối với chuyên gia người nước ngoài, đặc biệt là các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ cao, chuyên gia công tác ngắn ngày.
- Có cơ chế cho phép các địa phương sử dụng ngân sách địa phương để hỗ trợ chi phí cho doanh nghiệp đầu tư nước ngoài triển khai các hoạt động đào tạo lao động tại cơ sở đào tạo của doanh nghiệp ở trong và ngoài nước.
- Đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại gắn với quy hoạch phát triển quốc gia, vùng và địa phương, mở ra các không gian, động lực phát triển mới; ưu tiên các công trình hạ tầng kết nối và trung tâm logistics ở các cảng biển đầu mối, sân bay quốc tế, đường bộ cao tốc, đường sắt cao tốc, đường thủy nội địa và các vùng động lực nhằm đón đầu xu thế dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao.
- Bảo đảm cung ứng đủ và ổn định điện, nước, hạ tầng số, đáp ứng đủ nhu cầu quỹ đất sạch, dịch vụ hỗ trợ cho các dự án chất lượng cao, nhất là các dự án trung tâm nghiên cứu và phát triển, trụ sở khu vực, trung tâm điều hành và các tổ hợp công nghiệp chiến lược.
- Đẩy nhanh chuyển đổi các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao theo hướng sinh thái, thông minh, chuyên ngành, tích hợp hạ tầng sản xuất với hạ tầng dịch vụ logistics, hạ tầng xã hội phục vụ người lao động (nhà ở, y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao). Phát triển hạ tầng theo cụm, ngành chiến lược gắn với không gian phát triển, quy hoạch địa phương, xử lý môi trường.
- Hoàn thiện hạ tầng số và cơ sở dữ liệu quốc gia đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công và kết nối nhà đầu tư; thúc đẩy dùng chung dữ liệu, chuẩn hóa quy trình, giảm giấy tờ, giảm thời gian xử lý, giảm chi phí tuân thủ.
- Xác định một số lĩnh vực cốt lõi cần ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài như: Công nghiệp điện tử, chip bán dẫn và thiết bị số; trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, Internet vạn vật và chuỗi khối; công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến; công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến, công nghiệp xanh; logistics hiện đại, dịch vụ chuỗi cung ứng, dịch vụ tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo và các dịch vụ giá trị gia tăng cao.
Thường xuyên rà soát, cập nhật đối với các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiễn từng giai đoạn phát triển, yêu cầu hội nhập quốc tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia-dân tộc.
Xây dựng cơ chế ưu đãi vượt trội, cạnh tranh, gắn với yêu cầu kết quả thực hiện; quy trình thủ tục đầu tư đặc thù, riêng biệt; cơ chế xử lý các khó khăn, vướng mắc tập trung, nhanh, linh hoạt.
- Ưu tiên thu hút các dự án, nhà đầu tư có công nghệ nền tảng, công nghệ lõi, cam kết triển khai các hoạt động nghiên cứu, thiết kế, hình thành trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm dữ liệu, đầu tư các kho dự trữ năng lượng, dự trữ hàng hóa cho khu vực và quốc tế, xây dựng trụ sở khu vực, trung tâm điều hành, trung tâm ngân quỹ, trung tâm mua sắm, trung tâm dịch vụ dùng chung có khả năng kết nối Việt Nam với mạng sản xuất, mạng dịch vụ và thị trường tài chính khu vực, thế giới.
- Tập trung phát triển một số vùng động lực, hành lang kinh tế, cụm liên kết ngành và các không gian phát triển mới gắn với lợi thế vị trí, đầu mối giao thông, logistics, hạ tầng số, năng lượng, đô thị lớn và liên kết vùng để thu hút đầu tư nước ngoài thế hệ mới.
Đối với các địa phương còn khó khăn, thu hút đầu tư phải phù hợp với điều kiện thực tế, có lộ trình nâng dần chất lượng, không hình thành mặt bằng ưu đãi thấp để cạnh tranh thu hút đầu tư.
- Khuyến khích, yêu cầu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cam kết về công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, phát triển, đào tạo người Việt Nam, tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước, phát triển nhà cung ứng nội địa, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số để được hưởng các ưu đãi đầu tư theo kết quả thực hiện; công bố nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn quản trị và lộ trình nội địa hóa.
- Xây dựng và triển khai chương trình quốc gia phát triển nhà cung ứng trong nước; hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia, nền tảng kết nối nhà cung ứng, cụm liên kết ngành và cơ chế hợp tác dài hạn giữa nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước; hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực quản trị, công nghệ, tiêu chuẩn, tài chính, truy xuất nguồn gốc và khả năng tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam liên doanh, liên kết, mua bán, sáp nhập, từng bước tăng tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần, mua công nghệ, tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trong các ngành công nghệ chiến lược, các doanh nghiệp có công nghệ truyền thống ở nước ngoài, bảo đảm cơ chế hỗ trợ tuân thủ các cam kết quốc tế.
- Khuyến khích đầu tư của các quỹ đầu tư, trung gian tài chính, nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh, liên kết, góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp, dự án trong nước gắn với đầu tư nâng cao công nghệ, quản trị, thị trường và đào tạo lao động Việt Nam; kiểm soát chặt chẽ, không để phát sinh rủi ro đối với quốc phòng, an ninh, an ninh dữ liệu, an toàn hệ thống tài chính và hạ tầng trọng yếu.
- Khuyến khích tổ chức tín dụng hỗ trợ lãi suất, cấp tín dụng ưu đãi để triển khai các dự án có vốn đầu tư nước ngoài xanh, tuần hoàn, tiết kiệm năng lượng, sử dụng tài nguyên bền vững và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG). Cho phép doanh nghiệp khấu hao nhanh đối với tài sản số và tài sản xanh.
- Có cơ chế khuyến khích chuyên gia, cán bộ quản lý, người lao động Việt Nam đã làm việc trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phát huy kinh nghiệm, kỹ năng, mạng lưới để hình thành doanh nghiệp mới, dự án mới, hoạt động đổi mới sáng tạo, qua đó lan tỏa tri thức và phương thức quản trị tiên tiến.
- Đổi mới căn bản công tác xúc tiến đầu tư theo hướng chủ động, có trọng tâm, trọng điểm dựa trên dữ liệu, chuyên nghiệp, thực chất, dài hạn; chuyển từ xúc tiến đầu tư dàn trải sang tiếp cận, vận động, đàm phán và đồng hành với nhà đầu tư chiến lược, dự án chiến lược; coi việc hỗ trợ sau cấp phép, tháo gỡ khó khăn cho dự án hiện hữu và khuyến khích mở rộng dự án chất lượng cao là một trong những nội dung quan trọng của chính sách thu hút đầu tư.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu nhà đầu tư chiến lược, đối tác chiến lược, tập đoàn hàng đầu, định chế tài chính, quỹ đầu tư lớn, trung tâm đổi mới sáng tạo quan trọng và có phương án tiếp cận chuyên biệt theo từng thị trường, từng nhóm ngành và từng địa bàn.
- Xây dựng hình ảnh quốc gia về môi trường đầu tư kinh doanh ổn định, an toàn, minh bạch, cải cách, nhân lực có chất lượng, vị trí chiến lược, hạ tầng ngày càng hoàn thiện và quyết tâm đồng hành cùng nhà đầu tư.
5. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
- Thực hiện phân cấp, phân quyền rõ ràng đi đôi với tăng cường điều phối quốc gia, liên kết vùng, thanh tra, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.
Hoàn thiện cơ chế rà soát, phối hợp thẩm định và quản trị rủi ro đầu tư với các dự án, giao dịch liên quan đến lĩnh vực, địa bàn, doanh nghiệp, công trình, hạ tầng trọng yếu hoặc nhạy cảm; bảo đảm tiêu chí rõ ràng, công khai, minh bạch, đúng thẩm quyền, đúng trình tự, không làm phát sinh rào cản, ách tắc không cần thiết đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh hợp pháp.
- Xây dựng và vận hành Cổng một cửa đầu tư quốc gia theo hướng số hóa toàn trình, liên thông dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương; thực hiện nguyên tắc khai một lần, dùng nhiều lần; nâng cao chất lượng phục vụ nhà đầu tư, doanh nghiệp, chất lượng phân tích, dự báo và điều hành chính sách.
- Tổ chức thực hiện Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đối với cả Trung ương và địa phương; lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đào tạo người Việt Nam, phát triển nhà cung ứng, đóng góp ngân sách nhà nước, bảo vệ môi trường, tuân thủ pháp luật và an ninh kinh tế làm tiêu chí chủ yếu.
- Tăng cường các biện pháp phòng, chống chuyển giá, gian lận thương mại, xuất xứ hàng hóa trên cơ sở kết hợp xác minh kỹ nguồn gốc vốn, chủ sở hữu hưởng lợi cuối cùng và kiểm soát giao dịch có rủi ro cao theo quy định của pháp luật; thực hiện giám định độc lập giá trị vốn góp, máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ trong trường hợp cần thiết.
- Tăng cường giám sát việc thực hiện cam kết của nhà đầu tư; kịp thời xử lý vi phạm, thu hồi ưu đãi hoặc áp dụng biện pháp phù hợp đối với trường hợp không thực hiện đúng cam kết, sử dụng lãng phí đất đai, tài nguyên, năng lượng hoặc gây ảnh hưởng xấu đến môi trường, trật tự, an toàn xã hội.
- Tôn vinh, khen thưởng kịp thời doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài có đóng góp thực chất, dài hạn, tích cực cho các mục tiêu phát triển của đất nước.
- Phát triển thị trường vốn trung và dài hạn theo hướng minh bạch, hiện đại, an toàn, bền vững, giảm sự phụ thuộc vào thị trường tín dụng ngắn hạn; hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu, định chế trung gian; khẩn trương triển khai xây dựng và đưa vào vận hành các Trung tâm tài chính quốc tế, khu vực; đẩy nhanh lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán trên cơ sở cải cách thực chất về khả năng tiếp cận thị trường, chất lượng và sự đa dạng nguồn cung hàng hóa minh bạch thông tin, an toàn hệ thống và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.
- Tăng nguồn cung hàng hóa cho thị trường vốn thông qua đẩy mạnh cổ phần hóa gắn với niêm yết, thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân huy động vốn và niêm yết trên thị trường, nâng cao quản trị công ty và minh bạch thông tin. Thí điểm có kiểm soát việc phát triển các sàn giao dịch tài sản mã hóa.
- Phát triển cơ sở nhà đầu tư theo hướng đa dạng hóa loại hình và nhóm các nhà đầu tư, tập trung nâng cao tỷ trọng nhóm nhà đầu tư tổ chức, nhóm nhà đầu tư chuyên nghiệp, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí bổ sung, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu tư tăng trưởng; khuyến khích dòng vốn nước ngoài dài hạn, ổn định, có trách nhiệm.
- Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài, hoàn thiện hạ tầng giao dịch, thanh toán, bù trừ, lưu ký, các công cụ phòng ngừa rủi ro và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư; tiếp tục cải thiện chất lượng công bố thông tin, chuẩn mực kế toán, quản trị công ty và giám sát thị trường theo hướng tiệm cận thông lệ quốc tế.
- Hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường vốn; nâng cao hiệu quả tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tranh chấp và thực thi nghĩa vụ công bố thông tin, quản trị công ty; đồng thời tăng cường giám sát dòng vốn, ngoại hối, phòng, chống rửa tiền và rủi ro hệ thống.
- Đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phù hợp đặc thù; tăng cường phát triển Đảng, công tác tư tưởng, công tác dân vận, quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức đoàn thể tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, quản lý nhà nước, xúc tiến, hỗ trợ đầu tư; bố trí cán bộ đủ năng lực, bản lĩnh, phẩm chất, tinh thần phục vụ và tư duy hội nhập.
- Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, cộng đồng doanh nghiệp và người lao động trong quá trình xây dựng, thực thi và giám sát chính sách về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
1. Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, hoàn thiện pháp luật về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; tăng cường giám sát việc thực hiện theo quy định.
2. Đảng ủy Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo: Xây dựng Chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết; ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách, pháp luật cần thiết để thực hiện Nghị quyết; xác định một số nhóm ngành, lĩnh vực cốt lõi ưu tiên thu hút trong từng giai đoạn và cơ chế rà soát, cập nhật định kỳ danh mục mở; xây dựng bộ tiêu chí giám sát, chế độ báo cáo, cơ chế sơ kết, tổng kết; tổ chức thí điểm một số cơ chế, chính sách mới, bảo đảm đánh giá độc lập, kịp thời điều chỉnh hoặc chấm dứt thí điểm không hiệu quả, phát sinh rủi ro; bố trí đủ nguồn lực và tổ chức quán triệt ngay sau khi Nghị quyết được ban hành.
3. Đảng ủy các bộ, cơ quan ngang bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương xây dựng kế hoạch hành động với nhiệm vụ, giải pháp, lộ trình phù hợp; phân công cụ thể trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị thực hiện; định kỳ báo cáo kết quả, khó khăn, vướng mắc và kiến nghị xử lý.
4. Đảng ủy Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì, phối hợp các cơ quan liên quan biên soạn tài liệu bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức về nội dung Nghị quyết; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng theo yêu cầu thực tiễn.
5. Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch hướng dẫn, vận động nhân dân thực hiện Nghị quyết; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng pháp luật, cơ chế, chính sách liên quan.
6. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức quán triệt và tăng cường tuyên truyền, phổ biến nội dung Nghị quyết.
7. Đảng ủy Chính phủ chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, các đảng ủy trực thuộc Trung ương và địa phương thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết quả thực hiện Nghị quyết.