In bài viết

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN 6 NGHỊ QUYẾT, CHỈ THỊ CỦA BỘ CHÍNH TRỊ

15:30 - 03/09/2026

(Chinhphu.vn) - Ngày 3/9, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị.

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN 6 NGHỊ QUYẾT, CHỈ THỊ CỦA BỘ CHÍNH TRỊ- Ảnh 1.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Hội nghị - Ảnh: Chinhphu.vn/Nhật Bắc

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị

Sáng 3/9, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước dự Hội nghị tại điểm cầu chính là phòng họp Diên Hồng, Tòa nhà Quốc hội, Hà Nội.

Tham dự Hội nghị có: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm; nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; các nguyên Chủ tịch nước: Nguyễn Minh Triết (điểm cầu TPHCM), Lương Cường; Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng (điểm cầu TPHCM); Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng; các đồng chí nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Trung ương Đảng; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng; các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, cơ quan, đơn vị…

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN 6 NGHỊ QUYẾT, CHỈ THỊ CỦA BỘ CHÍNH TRỊ- Ảnh 3.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị sáng 3/9 - Ảnh: Chinhphu.vn/Nhật Bắc

Sáng 3/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có bài phát biểu quan trọng chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị. Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các đồng chí lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương,

Thưa toàn thể các đồng chí cán bộ, đảng viên và đồng bào cả nước,

Hôm nay, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện 5 Nghị quyết, 1 Chỉ thị của Bộ Chính trị. Qua các chuyên đề, những nội dung cốt lõi, điểm mới và yêu cầu tổ chức thực hiện đã được làm rõ. Tôi đánh giá cao sự chuẩn bị nghiêm túc của các cơ quan và tinh thần trách nhiệm của toàn thể Hội nghị.

Chúng ta triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng trong bối cảnh đất nước có thời cơ lớn, khát vọng lớn và yêu cầu rất cao; thế giới, khu vực biến động nhanh, công nghệ số và biến đổi khí hậu đang định hình lại phương thức phát triển, quản trị. Điều đó đòi hỏi đổi mới mạnh mẽ tư duy lãnh đạo, phương thức tổ chức, năng lực hành động; không thể làm việc theo cách cũ, chậm quyết định, chậm thực thi.

Cả 5 Nghị quyết, 1 Chỉ thị hợp thành một chỉnh thể thống nhất về quan điểm và hành động. Công tác tư tưởng, học tập và thực hành theo Bác, xây dựng đội ngũ cán bộ tạo nền tảng chính trị, tinh thần, đạo đức, sức chiến đấu. Phát triển vùng, du lịch, công tác người Việt Nam ở nước ngoài mở rộng không gian, khơi thông, kết nối nguồn lực. Tất cả cùng hướng tới nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống Nhân dân.

Hội nghị hôm nay không chỉ là quán triệt, mà mở ra giai đoạn quyết định là tổ chức thực hiện. Không được coi học nghị quyết là thủ tục, nghe xong, ban hành kế hoạch là hoàn thành. Giá trị văn kiện phải thể hiện ở khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn, tạo chuyển biến mà Nhân dân cảm nhận được. Từng cấp ủy, cơ quan, địa phương, từng đảng viên phải rõ việc, rõ người, rõ thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn, sản phẩm, trách nhiệm; chuyển nhận thức thành hành động, quyết tâm thành kết quả.

Trên tinh thần đó, tôi đề nghị toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị thực hiện tốt 5 yêu cầu trọng tâm.

Thứ nhất, thống nhất nhận thức, nắm vững điểm mới và mối quan hệ hữu cơ giữa 6 văn kiện; quán triệt đúng từng văn kiện, kết nối đúng, tổ chức thực hiện đồng bộ, tạo sức mạnh tổng hợp, thống nhất.

Quán triệt phải làm rõ vấn đề cần giải quyết, bước chuyển tư duy, yêu cầu hành động. Công tác tư tưởng phải dẫn dắt nhận thức xã hội. Học và làm theo Bác phải chuyển thành thực hành thường xuyên, coi trọng phương pháp Hồ Chí Minh với phương châm "Nghĩ về Bác lòng ta trong sáng hơn". Cán bộ phải được khuyến khích dám làm vì việc chung nhưng chịu kiểm soát quyền lực. Phát triển vùng, du lịch, công tác người Việt Nam ở nước ngoài phải cùng khơi thông, kết nối nguồn lực.

Ngay sau Hội nghị, các cấp ủy, cơ quan, địa phương phải rà soát chương trình thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, các nghị quyết chiến lược và 6 văn kiện hôm nay; tích hợp nhiệm vụ cùng mục tiêu, địa bàn; xử lý chồng chéo, điều phối nguồn lực dùng chung. Việc cần thể chế hóa phải rõ cơ quan, thời hạn, sản phẩm; việc mới, khó phải rõ nguyên tắc, thẩm quyền, phạm vi thí điểm.

Tích hợp không có nghĩa là hòa lẫn; đồng bộ không có nghĩa là đồng nhất. Mỗi văn kiện có mục tiêu, nhiệm vụ, công cụ riêng; nhưng phần giao thoa phải đưa vào kế hoạch chung, phối hợp nguồn lực, kết nối dữ liệu, thống nhất kiểm tra, giám sát. Làm tốt một nhiệm vụ có thể đồng thời góp phần thực hiện nhiều văn kiện, tạo hiệu quả cộng hưởng, khắc phục chồng chéo, phân tán nguồn lực.

Mỗi nhiệm vụ phải rõ mục tiêu, một đầu mối chịu trách nhiệm, thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn, sản phẩm, dữ liệu kiểm chứng; chuyển từ quản lý tiến độ sang quản trị kết quả, không lấy văn bản, hội nghị thay chuyển biến thực tế. Lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích chính đáng của Nhân dân là tiêu chuẩn cao nhất.

Thứ hai, đồng thời hoàn thiện thể chế, phân định thẩm quyền, bảo đảm nguồn lực và quản trị rủi ro; không giao việc trước rồi sau đó mới đi tìm điều kiện thực hiện.

Thể chế phải đi trước một bước, vừa giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, vừa mở đường cho phát triển. Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan phải sửa quy định chồng chéo, lấp khoảng trống pháp lý cản trở đổi mới, liên kết vùng, phát triển du lịch, thu hút nhân tài, phát huy nguồn lực. Vấn đề đã chín, đã rõ, được thực tiễn kiểm nghiệm phải sớm thể chế hóa. Việc vượt thẩm quyền phải báo cáo cùng phương án xử lý, không chỉ nêu khó khăn.

Phân cấp, phân quyền phải đi cùng nhân lực, tài chính, dữ liệu, công nghệ và kiểm soát quyền lực; vận hành theo cơ chế giao quyền, giám sát thực thi, quản trị rủi ro, đánh giá bằng kết quả. Không giao trách nhiệm mà thiếu điều kiện triển khai thực hiện; không phân cấp trên văn bản, giấy tờ nhưng việc gì cũng vẫn phải xin ý kiến. Trung ương tập trung chiến lược, thể chế, nền tảng dùng chung, nguồn lực lớn; cấp tỉnh bảo đảm điều kiện, cấp xã đủ năng lực phục vụ Nhân dân. Dữ liệu phải đúng, đủ, sạch, sống.

Việc mới, khó, chưa có tiền lệ phải thí điểm có kiểm soát, rõ mục tiêu, phạm vi, thời hạn, nguồn lực, giới hạn rủi ro, giám sát, trách nhiệm; theo chu trình thử nghiệm, đánh giá, hoàn thiện, nhân rộng, luật hóa. Trong phân cấp, thí điểm, đổi mới, phải bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung; nhưng bảo vệ không có nghĩa là miễn trách nhiệm. Kiểm soát quyền lực là để đổi mới đúng hướng, không làm tê liệt sáng tạo. Cơ chế bảo vệ phải bao quát các khâu tham mưu, thẩm định, quyết định, tổ chức thực hiện; bảo vệ đúng người, đúng việc; xử lý nghiêm người vụ lợi, né tránh, cố ý trì hoãn hoặc cản trở đổi mới thuộc thẩm quyền.

Thời gian là một nguồn lực phát triển không thể tái tạo. Chậm thể chế hóa, chậm quyết định, chậm tháo gỡ điểm nghẽn là tăng chi phí, mất cơ hội. Việc đã rõ phải làm ngay; vướng mắc phải xử lý từ sớm.

Thứ ba, tạo chuyển biến thực chất về công tác cán bộ, tinh thần tiên phong, trách nhiệm nêu gương và văn hóa thực thi; coi đây là khâu quyết định đưa nghị quyết, chỉ thị vào cuộc sống.

Cán bộ là nhân tố quyết định. Nghị quyết đúng, nguồn lực đủ nhưng cán bộ cầm chừng, né tránh thì công việc vẫn trì trệ. Phải chọn người theo việc, giao việc để thử thách, lấy kết quả để đánh giá, sử dụng, sàng lọc. Hằng năm, mỗi cấp ủy, cơ quan, địa phương phải xác định việc khó, điểm nghẽn; giao người đủ bản lĩnh, năng lực, thẩm quyền, nguồn lực. Phải để người dám nghĩ, dám làm, có sản phẩm thực chất được ghi nhận, bảo vệ, trọng dụng; người né tránh, đùn đẩy, làm việc cầm chừng phải được sàng lọc, thay thế.

Đánh giá cán bộ phải dân chủ, công tâm, khách quan, đa chiều; gắn với vị trí việc làm, sản phẩm, tiến độ, hiệu quả, khả năng tháo gỡ điểm nghẽn, uy tín và tín nhiệm của Nhân dân. Không chỉ nhìn vào hồ sơ đẹp, quá trình an toàn, số lượng sáng kiến; không đánh đồng rủi ro khách quan, sai sót không vụ lợi trong thực hiện công việc đúng chủ trương với hành vi vi phạm để làm thui chột động lực đổi mới.

Nêu gương là một phương thức lãnh đạo. Người đứng đầu phải nêu gương bằng hành động, quyết định, kết quả; không thể yêu cầu cấp dưới đổi mới khi mình sợ trách nhiệm, yêu cầu cán bộ gần dân trong khi mình chỉ biết tình hình qua báo cáo. Phải trực tiếp chỉ đạo việc lớn, việc khó; xuống cơ sở, đối thoại với cán bộ, người dân, doanh nghiệp; làm rõ vướng mắc do thể chế hay con người; quyết định theo thẩm quyền, chịu trách nhiệm đến cùng.

Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, phải tự soi, tự sửa; nêu gương bằng kết quả, hiệu quả công tác. Học Bác phải thể hiện ở bản lĩnh trước khó khăn; đạo đức cần, kiệm, liêm, chính; tinh thần phục vụ Nhân dân; nói đi đôi với làm. Điểm mới của Chỉ thị số 07 là chuyển mạnh sang thực hành thường xuyên, coi trọng phương pháp Hồ Chí Minh: nắm chắc, nghiên cứu kỹ thực tiễn trước khi quyết định; chọn đúng việc trọng tâm; làm việc dân chủ, khoa học; dựa vào dân, lắng nghe dân, chịu sự kiểm tra của dân. Phương pháp ấy phải trở thành năng lực công vụ hằng ngày, thành văn hóa lãnh đạo, văn hóa công vụ, văn hóa ứng xử của cán bộ, đảng viên.

Thứ tư, tổ chức lại không gian và nguồn lực phát triển theo lợi ích tổng thể quốc gia; gắn phát triển vùng, phát triển du lịch với phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài.

Phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, không phải phép cộng các kế hoạch địa phương. Phải chuyển từ không gian hành chính sang không gian phát triển đa tầng, đa cực, theo chức năng, lợi thế, chuỗi giá trị; kết nối đất liền, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, không gian số và các không gian phát triển mới. Mỗi địa phương phải rõ vai trò trong vùng, lợi thế cần tập trung, việc phải liên kết, hạ tầng có sức lan tỏa; không chạy theo cơ cấu giống nhau, nơi nào cũng muốn có cảng biển, sân bay, khu công nghệ cao, trung tâm tài chính... mà không căn cứ lợi thế, hiệu quả. Quy hoạch phải là công cụ tổ chức phát triển.

Với công trình liên vùng, phải chấm dứt tình trạng địa phương nào biết địa phương đó; cùng bàn, cùng quyết định, cùng góp nguồn lực, cùng chịu trách nhiệm, cùng hưởng lợi. Đầu tư công tập trung vào hạ tầng nền tảng, hạ tầng liên vùng, hạ tầng số, khoa học, công nghệ, năng lượng, logistics; không dàn trải. Phát triển vùng phải gắn kinh tế với văn hóa, xã hội, an sinh, môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu, quốc phòng, an ninh; nâng cao tính tự chủ, sức chống chịu của từng vùng và cả nền kinh tế.

Phát triển du lịch phải đặt trong chiến lược phát triển đất nước và không gian kinh tế vùng, trở thành động lực tăng trưởng mới, nâng cao sức mạnh mềm; được tổ chức như một hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, liên ngành, liên vùng. Chuyển mạnh từ số lượng sang chất lượng, giá trị gia tăng, sức cạnh tranh; lấy văn hóa, bản sắc, trải nghiệm làm lợi thế; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh làm động lực. Tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, thị thực, hạ tầng, quản trị điểm đến, nhân lực, dữ liệu, quảng bá; hướng vào phân khúc khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày. Liên kết vùng phải tạo sản phẩm đặc sắc, thương hiệu chung, chuỗi giá trị thực chất. Doanh nghiệp là lực lượng tiên phong, Nhân dân là chủ thể; không đánh đổi di sản, bản sắc, môi trường lấy tăng trưởng trước mắt.

Cộng đồng hơn 6,5 triệu người Việt Nam sinh sống, làm việc, học tập tại hơn 130 quốc gia, vùng lãnh thổ là bộ phận không tách rời của dân tộc, nguồn lực chiến lược, cầu nối với thế giới. Công tác này phải chuyển từ vận động, chăm lo sang đồng hành, kiến tạo cơ chế, kết nối nguồn lực; không kêu gọi chung chung. Mỗi vùng động lực, trung tâm đổi mới sáng tạo, ngành công nghệ chiến lược phải xác định nhu cầu chuyên gia, công nghệ, vốn, mạng lưới, thị trường; bộ, ngành, địa phương, cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp phải có dự án để đồng bào tham gia.

Phải hoàn thiện chính sách, đơn giản hóa thủ tục; xây dựng cơ sở dữ liệu, mạng lưới người Việt Nam toàn cầu; hỗ trợ đồng bào có địa vị pháp lý vững chắc, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, nâng cao hiệu quả bảo hộ công dân; giữ gìn tiếng Việt, bản sắc, cội nguồn; lắng nghe ý kiến xây dựng, kể cả quan điểm khác biệt không phương hại lợi ích quốc gia - dân tộc; xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Phát huy vai trò của đồng bào là "đại sứ văn hóa", "đại sứ hữu nghị", chủ thể thông tin đối ngoại, góp phần nâng cao sức mạnh mềm, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Huy động nguồn lực phải bằng thể chế minh bạch, thái độ cầu thị, kết quả cụ thể.

Thứ năm, đổi mới mạnh mẽ công tác tư tưởng và truyền thông chính sách; siết chặt kỷ luật thực thi; lấy dữ liệu, sản phẩm, chuyển biến thực tế và sự hài lòng của Nhân dân làm căn cứ đánh giá.

Công tác tư tưởng phải quán triệt phương châm "Chủ động - Sắc bén - Thuyết phục - Hiệu quả"; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", lấy "xây" làm gốc, lấy thuyết phục làm phương thức chủ đạo. Phải đi trước mở đường, đi cùng trong tổ chức thực hiện, đi sau tổng kết thực tiễn, củng cố niềm tin; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" từ sớm, từ cơ sở. Đây là việc của toàn Đảng, trước hết là cấp ủy, người đứng đầu; không khoán trắng cho cơ quan chuyên trách. Truyền thông chính sách phải kịp thời, chính xác, dễ hiểu; tăng giải thích, đối thoại, lắng nghe, tạo đồng thuận bằng sự thật, lý lẽ, kết quả thực tiễn.

Phải coi không gian mạng là địa bàn trọng yếu của công tác tư tưởng và là kênh lắng nghe Nhân dân. Phải phân biệt băn khoăn, phản biện, thông tin chưa đầy đủ với tin giả, xuyên tạc, thao túng có tổ chức; không quy chụp ý kiến khác biệt; không để thông tin giả mạo, độc hại, lệch chuẩn dẫn dắt. Mỗi vấn đề lớn phải có đầu mối cung cấp thông tin, xử lý từ sớm. Chú trọng giúp thế hệ trẻ nhận diện, kiểm chứng, tự bảo vệ trước thông tin sai lệch, thao túng tâm lý, cảm xúc. Không để bức xúc thực tế và khoảng trống thông tin làm xói mòn niềm tin.

Phải sử dụng dữ liệu, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo để dự báo, cảnh báo, nhưng không kỹ thuật hóa công tác tư tưởng. Thông tin do công nghệ hỗ trợ phải được kiểm chứng, có người chịu trách nhiệm; công nghệ không thay thế bản lĩnh chính trị, năng lực đối thoại. Sức thuyết phục cao nhất vẫn là chính sách đúng, cán bộ gương mẫu, vấn đề chính đáng của Nhân dân được giải quyết.

Kiểm tra, giám sát phải tiến hành từ đầu, vừa giữ kỷ luật, vừa cảnh báo sớm, tháo gỡ khó khăn; tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm, nguồn lực lớn, vấn đề Nhân dân quan tâm. Phải làm rõ chủ trương đã được thể chế hóa đến đâu, điểm nghẽn nào được tháo gỡ, người dân, doanh nghiệp được hưởng lợi gì; không chờ hậu quả mới kiểm tra, xử lý.

Kết quả phải gắn với đánh giá tổ chức đảng, cán bộ, người đứng đầu; nơi làm tốt phải nhân rộng, nơi trì trệ phải xử lý. Không lấy cuộc họp, văn bản, báo cáo thay kết quả; không đo công tác tư tưởng bằng số tin, bài, mà bằng khả năng phát hiện sớm, giải thích đúng, xử lý nhanh, củng cố niềm tin. Nhiệm vụ chỉ hoàn thành khi có sản phẩm, dữ liệu kiểm chứng, hiệu quả thực tế.

Nhân dân phải được tham gia, thụ hưởng và là người đánh giá cuối cùng. Phát huy giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc, báo chí, Nhân dân; coi phản hồi thực tiễn là kênh kiểm chứng chính sách. Khi vướng mắc phát sinh trên diện rộng, phải xem xét cả trách nhiệm thực hiện và bất cập cơ chế; không quy mọi hạn chế cho cơ sở, không lấy chính sách bao biện cho yếu kém. Giá trị nghị quyết phải thể hiện ở đời sống và niềm tin của Nhân dân.

Tổ chức thực hiện phải đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, phát huy đúng chức năng từng cơ quan. Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra; Đảng ủy Quốc hội thể chế hóa, giám sát; Đảng ủy Chính phủ bố trí nguồn lực, tổ chức thực hiện; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tuyên truyền, vận động, giám sát, phản biện. Địa phương cụ thể hóa sát thực tiễn; người đứng đầu chịu trách nhiệm đến cùng; bảo đảm liên thông giữa lãnh đạo, thể chế hóa, thực hiện, giám sát.

Thưa các đồng chí,

Cả 6 văn kiện cùng hướng tới nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ tiên phong, gương mẫu, dám chịu trách nhiệm; quản trị thông suốt; tổ chức lại không gian phát triển; đưa du lịch thành động lực tăng trưởng, phát huy mọi nguồn lực dân tộc.

Ngay sau Hội nghị, các cấp ủy, cơ quan, địa phương, người đứng đầu phải xác định nhiệm vụ trọng tâm; giao đúng người, đủ thẩm quyền, nguồn lực; rõ sản phẩm, tiến độ, trách nhiệm. Việc đã rõ phải làm ngay; thuộc thẩm quyền phải quyết định; vượt thẩm quyền phải báo cáo cùng phương án xử lý.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy:"Kế hoạch một, biện pháp mười, quyết tâm hai mươi". Cả 6 văn kiện đã rõ chủ trương, mục tiêu; điều quyết định là tổ chức thực hiện và trách nhiệm người đứng đầu. Mỗi văn kiện phải thành việc cụ thể, có người chịu trách nhiệm, được kiểm chứng bằng kết quả; cuối cùng phải làm đất nước mạnh hơn, Nhân dân sống tốt hơn, niềm tin vững chắc hơn.

Dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, tinh thần tiên phong của cán bộ và sức sáng tạo của Nhân dân, tôi tin tưởng 6 văn kiện nhất định đi vào cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên mới.

Xin chân thành cảm ơn các đồng chí./.

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN 6 NGHỊ QUYẾT, CHỈ THỊ CỦA BỘ CHÍNH TRỊ- Ảnh 4.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước dự Hội nghị - Ảnh: Chinhphu.vn/Nhật Bắc

Chuyển từ 'học tập và làm theo' sang 'học tập và thực hành' tư tưởng Hồ Chí Minh

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương truyền đạt chuyên đề toàn khóa "Những nội dung cốt lõi của Chỉ thị 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới" và chuyên đề "Những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 25-NQ-TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới".

Trình bày chuyên đề những nội dung cơ bản của Chỉ thị số 07-CT/TW thông qua Chuyên đề toàn khóa về "Học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới", đồng chí Trịnh Văn Quyết chỉ rõ Chỉ thị số 07-CT/TW ra đời trong bối cảnh thế giới và khu vực biến động nhanh, khó lường; mặt trận tư tưởng mở rộng sang không gian mạng với những phương thức chống phá hoàn toàn mới. Bên cạnh đó, đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới sau Đại hội XIV, với mục tiêu tăng trưởng hai con số và hai mục tiêu chiến lược- đòi hỏi một cách học và một cách làm khác trước.

Ngoài ra, qua 10 năm thực hiện Chỉ thị 05, bên cạnh kết quả quan trọng, phải thẳng thắn thừa nhận: Bệnh hình thức vẫn là căn bệnh lớn nhất - học nhiều mà chuyển biến ít, đăng ký nhiều mà sản phẩm ít, sơ kết tổng kết đều đặn nhưng những việc khó của dân cần được giải quyết cho dân vẫn còn một số việc chưa giải quyết được. Từ đó đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ "học tập và làm theo" sang "học tập và thực hành".

"Nếu Chỉ thị 05 trả lời câu hỏi "học gì và làm theo thế nào" thì Chỉ thị 07, Bộ Chính trị yêu cầu trả lời câu hỏi "thực hành để tạo ra kết quả gì và đo bằng cách nào cho kết quả đó", đồng chí Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh.

Chuyên đề toàn khóa khẳng định: Từ khi Đảng ta ra đời đến nay, tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh luôn là một bộ phận hợp thành trong tổ chức và hoạt động của Đảng, được kiểm nghiệm bằng thực tiễn cách mạng phong phú của dân tộc.

Theo đồng chí Trịnh Văn Quyết, chuyên đề toàn khóa nhấn mạnh điểm mới nổi bật trong Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị là sự bổ sung thành tố "phương pháp Hồ Chí Minh". Đây không đơn thuần là thêm một thành tố, mà là bắc thêm một nhịp cầu - nhịp cầu nối từ nhận thức sang hành động, từ đạo đức sang hiệu quả công việc. 

Trong di sản Hồ Chí Minh, 4 thành tố không tồn tại biệt lập mà là một chỉnh thể vẹn toàn, thống nhất biện chứng, xuyên thấm lẫn nhau, tạo nên hệ giá trị cốt lõi và phương thức hành động mẫu mực của người cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam: Tư tưởng là kim chỉ nam, định hướng cho đạo đức, phương pháp và phong cách; đạo đức là gốc rễ, là nền tảng tinh thần vững chắc để giữ vững định hướng tư tưởng; phương pháp là cách thức, là công cụ khoa học để hiện thực hóa tư tưởng, đạo đức vào đời sống; phong cách là sự biểu hiện sinh động, ổn định, kết tinh toàn bộ tư tưởng, đạo đức, phương pháp của người cán bộ, đảng viên trong thực tiễn hằng ngày.

Nói cách khác: Tư tưởng soi đường, đạo đức giữ gốc, phương pháp mở lối, phong cách nêu gương. Do đó, việc học tập và thực hành đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải triển khai đồng bộ, toàn diện, có hệ thống; kiên quyết khắc phục khuynh hướng phiến diện, xem nhẹ bất kỳ thành tố nào hoặc tách rời nhận thức lý luận với hành động thực tiễn. 

Mục tiêu chiến lược mà Bộ Chính trị xác định rõ trong Chỉ thị số 07-CT/TW khi bước vào giai đoạn phát triển mới là tạo bước chuyển căn bản, mạnh mẽ từ "tư duy làm theo" sang "hành động thực hành" đi vào chiều sâu thực chất; loại bỏ triệt để bệnh hình thức, nói không đi đôi với làm, xu hướng giáo điều, sáo rỗng; xác lập tư duy hành động mới: từ "học điều đúng" sang "học cách làm đúng", từ "noi gương" sang "vận dụng, phát triển sáng tạo".

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN 6 NGHỊ QUYẾT, CHỈ THỊ CỦA BỘ CHÍNH TRỊ- Ảnh 5.

Đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương truyền đạt các chuyên đề tại Hội nghị - Ảnh: Chinhphu.vn/Nhật Bắc

Chuyển trọng tâm từ quản lý thông tin sang dẫn dắt nhận thức xã hội

Truyền đạt chuyên đề về "Những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 25-NQ-TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới", đồng chí Trịnh Văn Quyết cho biết Nghị quyết xác định phương châm xuyên suốt: "Chủ động - Sắc bén - Thuyết phục - Hiệu quả".

 Chủ động là không chờ sự việc xảy ra rồi mới lên tiếng. Sắc bén là đúng, trúng, kịp thời, có luận cứ. Thuyết phục là lấy lý lẽ và sự thật để chinh phục lòng người, không áp đặt. Hiệu quả là đo bằng chuyển biến trong nhận thức và hành động, không đo bằng số lượng văn bản, số buổi hội nghị.

Theo đồng chí Trịnh Văn Quyết, có 4 quan điểm chỉ đạo, trong đó có 3 điểm mới cần quán triệt sâu.

Một là, chuyển trọng tâm từ quản lý thông tin sang dẫn dắt nhận thức xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo đồng thuận xã hội. Đây là chuyển biến về tư duy quan trọng nhất của Nghị quyết. 

Quản lý thông tin là cần thiết, nhưng trong môi trường số hôm nay, chỉ quản lý thôi thì không đủ và cũng không thể; phải chủ động cung cấp thông tin chính thống, công khai, minh bạch, đối thoại và tiếp thu phản biện xã hội.

Hai là, công tác tư tưởng là công việc của toàn Đảng và hệ thống chính trị; cấp ủy và người đứng đầu trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chịu trách nhiệm, không "khoán trắng" cho cơ quan chuyên trách. Đây là vấn đề đã tồn tại từ lâu nay, và Nghị quyết lần này gỡ tồn đọng ấy bằng cơ chế đánh giá, xếp loại và xem xét trách nhiệm.

Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa "xây" và "chống", lấy "xây" làm gốc, lấy "chống" làm nhiệm vụ thường xuyên, lấy thuyết phục làm phương thức chủ đạo; tiến hành đồng bộ trên cả không gian thực và không gian số; giữ vững an ninh tư tưởng trong mọi tình huống.

Cùng với đó, Nghị quyết khẳng định: Con người là trung tâm, đội ngũ cán bộ giữ vai trò then chốt, niềm tin của nhân dân là thước đo cao nhất; nhân dân là chủ thể tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Và một quan điểm rất đáng chú ý: Hiệu quả các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và chính sách an sinh xã hội chính là giải pháp trực tiếp để nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng của Đảng. Nói cách khác, việc làm tốt cho dân là công tác tư tưởng tốt nhất.

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN 6 NGHỊ QUYẾT, CHỈ THỊ CỦA BỘ CHÍNH TRỊ- Ảnh 6.

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương truyền đạt chuyên đề tại Hội nghị - Ảnh: Chinhphu.vn/Nhật Bắc

Những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết 24-NQ/TW

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương truyền đạt chuyên đề về "Những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới".

Theo đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Nghị quyết 24 được ban hành trên cơ sở sơ kết 5 năm thực hiện Kết luận số 14 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung nhưng Nghị quyết lần này có yêu cầu rộng hơn và cao hơn. 

Nếu như trước đây chúng ta nhấn mạnh khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, thì lần này Bộ Chính trị đặt vấn đề từ chính phẩm chất và trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên: Đã là cán bộ, đảng viên thì phải tiên phong, gương mẫu; phải có tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh, việc đặt hai chữ "tiên phong, gương mẫu" ở đầu tên Nghị quyết mang ý nghĩa rất sâu sắc. Tiên phong không chỉ là đi trước trong nhận thức mà phải đi trước trong hành động. 

Gương mẫu không chỉ là chấp hành tốt, giữ mình không sai phạm, mà còn phải dám nhận việc khó, dám quyết việc thuộc thẩm quyền, dám chịu trách nhiệm về quyết định của mình và về kết quả công việc được giao. 

Đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm chính là những biểu hiện cụ thể của tính tiên phong, gương mẫu trong điều kiện mới, trước hết đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu.

Đồng chí Nguyễn Duy Ngọc nêu rõ, Nghị quyết 24 đã có bước chuyển từ khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm sang xác lập tính tiên phong, gương mẫu, trách nhiệm hành động là chuẩn mực của cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới. 

Đây là bước phát triển có ý nghĩa nền tảng. Nghị quyết không chỉ đặt câu hỏi cán bộ nào năng động, sáng tạo để khuyến khích và bảo vệ, mà đặt yêu cầu cao hơn: Người cán bộ trong kỷ nguyên mới phải hành động như thế nào để đáp ứng yêu cầu của Đảng, đất nước và nhân dân? 

Không phải cán bộ nào cũng phải có một sáng kiến lớn, một đề án đột phá. Nhưng cũng không thể chấp nhận sự thụ động, trì trệ, né tránh trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ. Việc thuộc thẩm quyền phải quyết định; việc thuộc trách nhiệm phải xử lý; khó khăn phải chủ động tìm cách tháo gỡ; vượt thẩm quyền phải báo cáo cùng phương án đề xuất. 

Như vậy, từ chỗ "khuyến khích người dám làm", Nghị quyết tiến tới yêu cầu "xây dựng một đội ngũ cán bộ có năng lực và trách nhiệm hành động".

Nghị quyết cũng chuyển từ bảo vệ cán bộ sau khi rủi ro đã xảy ra sang kiến tạo môi trường để cán bộ có thể dấn thân hành động và có trách nhiệm ngay từ đầu. Bảo vệ cán bộ không thể chỉ bắt đầu khi đã xảy ra sai sót, thiệt hại rồi mới xem xét miễn hay giảm trách nhiệm. 

Trước khi yêu cầu cán bộ chịu trách nhiệm, tổ chức phải giao rõ việc, giao đủ quyền, bố trí nguồn lực cần thiết, xác định giới hạn thẩm quyền, nhận diện và quản trị rủi ro, theo dõi, hỗ trợ trong quá trình thực hiện. 

Đây là sự chuyển đổi rất quan trọng: Từ "bảo vệ sau sự việc" sang "bảo vệ bằng thể chế, bằng tổ chức và bằng quản trị rủi ro ngay trong quá trình hành động".

Theo đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Nghị quyết cũng chuyển từ đặt trọng tâm vào trách nhiệm của cá nhân cán bộ sang xác lập trách nhiệm đồng bộ của cán bộ, tổ chức và người đứng đầu. 

Một đề xuất đổi mới thường có nhiều chủ thể tham gia: Người phát hiện vấn đề, người tham mưu, người thẩm định, người quyết định, người phối hợp và người trực tiếp tổ chức thực hiện. 

Nếu chỉ yêu cầu cán bộ dám làm nhưng người có thẩm quyền không dám quyết định; chỉ yêu cầu cấp dưới chịu trách nhiệm nhưng cấp trên không giao quyền, không bố trí nguồn lực, không tháo gỡ và không bảo vệ khi cán bộ hành động đúng thì cơ chế sẽ không thể vận hành. 

Vì vậy, Nghị quyết đặt trách nhiệm rất rõ đối với cấp ủy và người đứng đầu. Người đứng đầu không chỉ là người xem xét, quyết định chủ trương đổi mới, mà phải chủ động tạo điều kiện, lựa chọn việc khó, giao người có năng lực, giao quyền, đồng hành, quản trị rủi ro và chịu trách nhiệm trong phạm vi thẩm quyền của mình. 

Đây là chuyển biến từ "cán bộ phải dám làm" sang "tổ chức phải dám giao việc, dám giao quyền và dám bảo vệ người làm đúng".

Nghị quyết chuyển từ khuyến khích, bảo vệ cán bộ như một cơ chế riêng lẻ trở thành một nội dung xuyên suốt trong công tác cán bộ và quản trị quốc gia hiện đại. Nếu khuyến khích cán bộ dám làm nhưng đánh giá, quy hoạch, bố trí, sử dụng vẫn chưa coi trọng năng lực đổi mới, kết quả giải quyết việc khó và hiệu quả thực thi thì khó tạo động lực. 

Điểm mới của Nghị quyết là gắn trực tiếp tinh thần đổi mới, năng lực hành động và quản trị rủi ro với các khâu của công tác cán bộ; lấy thực tiễn và kết quả thực hiện nhiệm vụ làm căn cứ quan trọng để đánh giá, sử dụng cán bộ.

Đặc biệt, Nghị quyết chuyển từ giải quyết tâm lý "sợ sai, sợ trách nhiệm" sang hình thành một văn hóa hành động, năng lực thực thi mới trong Đảng và hệ thống chính trị. 

Đích đến của Nghị quyết không chỉ là khắc phục tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm của cán bộ. Yêu cầu cao hơn là hình thành một môi trường trong đó chủ động, đổi mới, dấn thân, trách nhiệm, liêm chính và hiệu quả trở thành chuẩn mực; còn trì trệ, né tránh, đùn đẩy không còn là lựa chọn an toàn. 

Đây cũng là yêu cầu góp phần xây dựng Đảng thật sự là đạo đức, là văn minh; xây dựng đội ngũ cán bộ gần dân, trọng dân, vì dân, có năng lực giải quyết các vấn đề của thực tiễn; qua đó củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân và niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN 6 NGHỊ QUYẾT, CHỈ THỊ CỦA BỘ CHÍNH TRỊ- Ảnh 7.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung trình bày chuyên đề: "Những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài" - Ảnh: Chinhphu.vn/Nhật Bắc

Những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 23-NQ/TW

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, sáng 3/9, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung trình bày chuyên đề: "Những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài" (Nghị quyết số 23-NQ/TW).

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung cho biết, trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu phát triển ngày càng cao, công tác người Việt Nam ở nước ngoài cũng đứng trước những yêu cầu và nhiệm vụ mới.

Nghị quyết số 23-NQ/TW xác định 4 quan điểm chỉ đạo và 3 mục tiêu lớn, thể hiện bước phát triển rõ nét về nhận thức và tư duy của Đảng đối với công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Về 4 quan điểm chỉ đạo, Bộ trưởng Lê Hoài Trung cho biết thứ nhất là nâng tầm nhận thức về vị trí, vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.

Nghị quyết số 23-NQ/TW tiếp tục khẳng định, người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, đồng thời xác định là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Đây là bước phát triển quan trọng, đòi hỏi sự chuyển mạnh từ cách tiếp cận cộng đồng chủ yếu dưới góc độ đối tượng của chính sách sang cách tiếp cận coi người Việt Nam ở nước ngoài là chủ thể tham gia, đối tác đồng hành và nguồn lực của quá trình phát triển đất nước.

Thứ hai, Nghị quyết đổi mới về nội hàm và phương thức về công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Nghị quyết nêu yêu cầu "nâng tầm tư duy từ vận động, tập hợp, chăm lo lên thành đồng hành, kiến tạo cơ chế, huy động nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài."

‎Thứ ba, Nghị quyết đặt công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tổng thể khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghị quyết đề cao tinh thần hòa hợp dân tộc, lấy tương đồng để tăng cường đoàn kết, trân trọng, lắng nghe ý kiến đóng góp xây dựng, kể cả những quan điểm khác biệt nhưng không phương hại đến lợi ích quốc gia-dân tộc; xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai.

Cuối cùng, Nghị quyết nêu rõ công tác người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị, được tiến hành thường xuyên, liên tục, toàn diện, đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với điều kiện của từng địa bàn.

Thông tin về 3 mục tiêu lớn của Nghị quyết, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nhấn mạnh mục tiêu, xây dựng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vững mạnh, hội nhập tốt và giữ gìn bản sắc dân tộc. Trong số đó trọng tâm là nâng cao địa vị pháp lý, hỗ trợ hội nhập, ổn định đời sống, giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và phát huy vai trò của cộng đồng như những "đại sứ văn hóa, đất nước và con người Việt Nam."

Song song đó, Nghị quyết khơi dậy mạnh mẽ lòng yêu nước, khát vọng cống hiến và phát huy nguồn lực của kiều bào. Nghị quyết không chỉ coi trọng nguồn lực kinh tế mà còn nhấn mạnh nguồn lực tri thức, khoa học công nghệ, văn hóa, giáo dục, y tế, kinh nghiệm quản trị, mạng lưới quốc tế và uy tín của cộng đồng.

Ba là, hoàn thiện thể chế và hình thành mạng lưới hệ sinh thái kết nối người Việt Nam toàn cầu. Điểm mới ở đây không chỉ là xây dựng mạng lưới để có kết nối mà hướng tới một hệ sinh thái có khả năng liên kết nguồn lực, vận hành bền vững và tạo ra kết quả cụ thể.

7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

Trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo và mục tiêu nêu trên, Nghị quyết xác định 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Đó là, tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng. Công tác người Việt Nam ở nước ngoài phải được lồng ghép vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của các ngành, lĩnh vực, địa phương.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo môi trường thuận lợi để đồng bào nâng cao vị thế và phát huy tiềm năng, thể hiện vai trò kiến tạo của Nhà nước.

Xây dựng cộng đồng đoàn kết, phát triển, tích cực hướng về quê hương. Trọng tâm là hỗ trợ bà con củng cố địa vị pháp lý, nâng cao khả năng hội nhập, giữ gìn bản sắc, tăng cường hoạt động hội đoàn, đẩy mạnh hòa hợp dân tộc; đồng thời nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân, hỗ trợ pháp lý, nhất là trong các tình huống khó khăn khẩn cấp.

Phát huy hiệu quả nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển và bảo vệ Tổ quốc, trong đó có việc kết nối các chuyên gia, trí thức khoa học, doanh nhân, nhà doanh nghiệp trong các lĩnh vực chiến lược; đồng thời mở rộng phương thức đóng góp từ xa thông qua tư vấn, đào tạo, chuyển giao công nghệ, kết nối đầu tư và thị trường.

Phát huy vai trò chủ thể của kiều bào trong thông tin tuyên truyền. Người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin, mà còn có thể trở thành chủ thể lan tỏa thông tin chính xác về Việt Nam, quảng bá hình ảnh đất nước, con người và góp phần tăng cường sức mạnh mềm, uy tín quốc gia.

Kiện toàn tổ chức bộ máy, tăng cường nguồn lực và sự phối hợp. Nghị quyết yêu cầu tổ chức bộ máy tinh gọn nhưng đủ thẩm quyền, vị thế và năng lực điều phối; tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan trong nước và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, giữa trung ương và địa phương; bảo đảm nguồn lực và nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Đồng chí Lê Hoài Trung cho rằng Nghị quyết đã xác định rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp. Vấn đề quyết định là tổ chức thực hiện như thế nào để Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống. Nghị quyết đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan liên quan.

Bộ trưởng Lê Hoài Trung khẳng định, tinh thần cốt lõi của Nghị quyết 23-NQ/TW là nâng tầm vị trí của cộng đồng, đổi mới tư duy và phương thức tổ chức thực hiện. Điểm quan trọng là từng chủ trương phải được chuyển hóa thành trách nhiệm cụ thể, cơ chế cụ thể và sản phẩm cụ thể. Bộ trưởng cũng nhấn mạnh một số việc cần tập trung triển khai ngay sau Hội nghị:

Một là, Bộ Ngoại giao sẽ trình Chính phủ Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 23, xác định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm, tiến độ và nguồn lực của từng cơ quan, địa phương.

Hai là, rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách và quy định pháp luật, tập trung bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài và tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào tham gia vào quá trình phát triển đất nước.

Ba là, xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài, từng bước xác định rõ ở đâu có chuyên gia, năng lực, mạng lưới nào và khả năng kết nối với nhu cầu trong nước.

Bốn là, xây dựng danh mục nhu cầu về chuyên gia, công nghệ, đầu tư và các nguồn lực khác của các bộ, ngành, địa phương, qua đó chuyển từ tư duy "tìm nguồn lực" sang "kết nối nguồn lực với nhu cầu".

Năm là, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện công tác người Việt Nam ở nước ngoài, chuyển từ đánh giá số lượng hoạt động sang đánh giá hiệu quả và những chuyển biến thực chất, có thể đo lường và kiểm chứng.

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN 6 NGHỊ QUYẾT, CHỈ THỊ CỦA BỘ CHÍNH TRỊ- Ảnh 8.

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương đã quán triệt những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 27-NQ/TW - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 27-NQ/TW

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số Nghị quyết, Chỉ thị của Bộ Chính trị, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương đã quán triệt những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về "Phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới".

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị đã nêu 3 quan điểm chỉ đạo được Bộ Chính trị thống nhất tại Nghị quyết số 27, cụ thể:

Thứ nhất, về vai trò phát triển của vùng: phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, tổ chức lại không gian phát triển, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh mới. 

Đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng; chuyển từ chủ yếu dựa vào nguồn lực sẵn có sang kiến tạo, dẫn dắt, khơi thông và kích hoạt mọi nguồn lực; phát huy nội lực là cơ bản, chiến lược, lâu dài, quyết định, kết hợp hiệu quả với ngoại lực, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và có sức chống chịu cao.

Thứ hai, về tổ chức lại không gian phát triển quốc gia, vùng: Tổ chức lại không gian phát triển quốc gia thống nhất trên cơ sở xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, lợi thế, bản sắc và sứ mệnh phát triển của từng vùng trong tổng thể phát triển đất nước. 

Phát huy liên kết, bổ trợ và lan tỏa giữa các vùng, vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, chuỗi đô thị và các trung tâm kinh tế; khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới trong giới hạn sinh thái, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường, khắc phục tư duy cục bộ, phát triển dàn trải, trùng lặp.

Thứ ba, về cơ chế liên kết và điều phối vùng: Xây dựng cơ chế liên kết, điều phối vùng thật sự mạnh, thực chất, hiệu quả là khâu đột phá; bảo đảm đồng bộ, liên thông trong quy hoạch, đầu tư, phát triển hạ tầng, dữ liệu và phân bổ nguồn lực; xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, địa phương, hài hòa lợi ích giữa địa phương, vùng và quốc gia.

Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị cũng cho biết, Nghị quyết đã đề ra mục tiêu và 22 chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 cho từng vùng, phù hợp với tiềm năng, lợi thế so sánh, thực tiễn phát triển và để các vùng đóng góp vào sự phát triển chung của cả nước. 

Định hướng mục tiêu cụ thể cho phát triển từng vùng tại Nghị quyết đã căn cứ vào tiềm năng lợi thế của vùng để phát triển các vùng liên kết chặt chẽ, hữu cơ với nhau và thống nhất thực hiện mục tiêu phát triển chung của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Về tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết nêu rõ: Các vùng phát triển và vận hành theo phương thức của kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế dữ liệu, kinh tế tuần hoàn; có kết cấu hạ tầng đồng bộ, thông minh, xanh, an toàn, có khả năng chống chịu cao, kết nối thông suốt; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính của tăng trưởng và phát triển; liên kết chặt chẽ giữa các địa phương trong vùng và giữa các vùng; xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển; quản trị xã hội trên nền tảng xã hội số hoàn chỉnh; môi trường sinh thái bền vững; quốc phòng, an ninh hiện đại, tự chủ, tự cường, vững mạnh; người dân được hưởng thụ các dịch vụ xã hội chất lượng cao, góp phần xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, một nội dung quan trọng được đồng chí Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh là 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. 

Trong đó, tập trung tổ chức không gian phát triển vùng và thực hiện tốt quy hoạch vùng; hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển vùng; đổi mới mô hình tăng trưởng, hình thành và phát triển các động lực kinh tế mới của vùng; phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, đồng bộ, liên vùng; phát triển hệ thống đô thị hiện đại và các cực tăng trưởng của vùng; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển văn hóa, xã hội và bảo đảm an sinh xã hội toàn diện; bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế; đồng thời xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Xuyên suốt các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu cũng như nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết là yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, khắc phục tư duy cục bộ, phát triển dàn trải; chuyển mạnh từ dựa vào nguồn lực sẵn có sang kiến tạo, dẫn dắt, khơi thông và kích hoạt mọi nguồn lực; tăng cường liên kết để hình thành không gian phát triển mới, tạo sức mạnh tổng hợp cho từng vùng và cả nước. 

Đây không chỉ là yêu cầu đối với tổ chức không gian phát triển mà còn là bước chuyển quan trọng trong tư duy huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ phát triển nhanh, bền vững.

Để những định hướng, mục tiêu và giải pháp của Nghị quyết sớm được cụ thể hóa trong thực tiễn, đồng chí Nguyễn Thanh Nghị chỉ rõ, Nghị quyết số 27-NQ/TW đã phân công nhiệm vụ cụ thể tổ chức thực hiện cho các ban đảng, đảng ủy trực thuộc Trung ương; các tỉnh ủy, thành ủy; Đảng ủy Quốc hội; Đảng ủy Chính phủ; Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương; Ban Tuyên giáo Trung ương; Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN 6 NGHỊ QUYẾT, CHỈ THỊ CỦA BỘ CHÍNH TRỊ- Ảnh 9.

Đồng chí Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà trình bày những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị khóa XIV - Ảnh: Chinhphu.vn/Thu Giang

Nghị quyết số 26-NQ/TW: 5 quan điểm đột phá phát triển du lịch

Tại Hội nghị, đồng chí Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà đã trình bày những nội dung cốt lõi của Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị khóa XIV về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.

Theo đồng chí Phạm Thị Thanh Trà, sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam, ngành du lịch đã có bước phát triển tích cực, khá toàn diện, ngày càng đóng góp rõ nét vào phát triển kinh tế - xã hội, tạo việc làm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa và quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam.

Năm 2025, Việt Nam đón gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế, tăng 20,4% so với năm trước và 137 triệu lượt khách du lịch nội địa. Trong 8 tháng năm 2026, khách quốc tế gần 16 triệu lượt, hướng tới mục tiêu 25 triệu lượt trong cả năm.

Theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới, du lịch Việt Nam đã tăng 16 bậc, từ hạng 75/141 năm 2015, đến năm 2025 lên hạng 59/119. Việt Nam cũng đã vươn từ vị trí thứ 5 lên thứ 3 khu vực ASEAN về đón khách quốc tế (sau Malaysia và Thái Lan).

Năm 2025, tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 1 triệu tỷ đồng, tăng 19% so với năm 2024 và cao hơn gần 38% so với năm 2019.

Du lịch đóng góp trực tiếp gần 8,8% GDP và tạo khoảng 4,41 triệu việc làm, tương đương 8,5% tổng lực lượng lao động.

Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cho rằng những kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế.

Du lịch phát triển chưa thực sự bền vững; nhận thức giữa các ngành, các địa phương chưa đồng đều; liên kết liên ngành, liên vùng còn yếu. Nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng yêu cầu, sản phẩm thiếu tính đa dạng, chiều sâu và giá trị gia tăng…

Đặt mục tiêu du lịch đóng góp 10-12% GDP vào năm 2030

Theo đồng chí Phạm Thị Thanh Trà, thành tựu đạt được là rất quan trọng, tạo nền tảng để du lịch phát triển trong giai đoạn mới; nhưng chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh chưa tương xứng với lợi thế đặc sắc của du lịch Việt Nam, trong khi tiềm năng, dư địa phát triển còn rất lớn.

Cùng với đó, bối cảnh thế giới và trong nước thay đổi nhanh chóng, sâu sắc; du lịch toàn cầu biến động mạnh; xu hướng, nhu cầu du lịch thay đổi; cạnh tranh giữa các điểm đến ngày càng cao, đặt ra yêu cầu phải linh hoạt ứng phó, có chiến lược tiếp cận toàn diện, bền vững.

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số, góp phần thực hiện thắng lợi 2 mục tiêu 100 năm, đòi hỏi du lịch phải phát triển đột phá, tạo sức lan tỏa, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy các ngành, lĩnh vực cùng phát triển theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, 10 nghị quyết trụ cột của Bộ Chính trị và các nghị quyết của Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV.

"Vì vậy, vấn đề cốt lõi là phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, cách tiếp cận, cách làm, trọng tâm là chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phương thức quản trị du lịch từ số lượng sang chất lượng, nâng cao giá trị gia tăng cho nền kinh tế", đồng chí Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh.

Từ đó, Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định 5 quan điểm mang tính đột phá để phát triển du lịch. 

Thứ nhất, xác lập rõ vị trí, vai trò nền tảng của phát triển du lịch trong mô hình tăng trưởng mới: Phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, một động lực tăng trưởng mới, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số; lấy văn hóa làm nền tảng cốt lõi, bản sắc và chất lượng trải nghiệm làm lợi thế cạnh tranh, dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thứ hai, phát triển du lịch theo hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, tạo động lực cho các lĩnh vực khác; bảo đảm hài hòa kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường, gắn với quốc phòng, an ninh, ngoại giao văn hóa và hội nhập quốc tế.

Thứ ba, tái cơ cấu ngành du lịch, chuyển mạnh từ số lượng sang chất lượng, thông minh, xanh, sáng tạo, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ gắn với phát triển nguồn nhân lực, lao động, việc làm và an sinh xã hội.

Thứ tư, đổi mới và nâng cao năng lực quản trị du lịch theo hướng hiện đại, quản trị theo dữ liệu, gắn với quy hoạch không gian phát triển, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, di sản.

Thứ năm, xác định rõ các chủ thể và phương thức huy động nguồn lực. Phát triển du lịch là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; doanh nghiệp là lực lượng tiên phong; Nhân dân là chủ thể tham gia và thụ hưởng; tăng cường liên kết ngành, liên kết vùng, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nước, quốc tế.

Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030, du lịch đóng góp trực tiếp 10 - 12% GDP; đón 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa; tổng thu đạt 80 - 90 tỷ USD; hình thành 3 cực tăng trưởng du lịch là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng; 10 trung tâm du lịch trọng điểm; 20 khu du lịch quốc gia; 15 tập đoàn, tổng công ty du lịch có thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh quốc tế; tạo khoảng 2,3 triệu việc làm trực tiếp và 3,5 triệu việc làm gián tiếp.

Đến năm 2045, du lịch đóng góp trực tiếp 14-15% GDP; đón 70 triệu lượt khách quốc tế; Việt Nam thuộc nhóm 30 quốc gia có năng lực cạnh tranh du lịch hàng đầu thế giới, trở thành điểm đến hấp dẫn, chất lượng cao, đẳng cấp và mang đậm bản sắc Việt Nam.

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN 6 NGHỊ QUYẾT, CHỈ THỊ CỦA BỘ CHÍNH TRỊ- Ảnh 10.

Theo Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà, xuyên suốt 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp là sự đổi mới mạnh mẽ, toàn diện về tư duy và phương thức phát triển du lịch - Ảnh: chinhphu.vn/Thu Giang

8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm

Để hiện thực hóa các mục tiêu, Nghị quyết đề ra 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Trước hết là đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong phát triển du lịch, với trọng tâm là 4 chuyển đổi: Định vị du lịch là ngành kinh tế tổng hợp trong mô hình tăng trưởng và không gian phát triển quốc gia; chuyển dịch tư duy phát triển từ diện rộng, dựa vào số lượng, khai thác tài nguyên sang chiều sâu, chất lượng, hiệu quả, bền vững, giá trị gia tăng cao; đổi mới tư duy quản lý từ đơn lẻ sang quản trị hệ sinh thái, chuỗi giá trị; lồng ghép mục tiêu du lịch vào chiến lược, quy hoạch phát triển, phát huy vai trò doanh nghiệp, hiệp hội và cộng đồng dân cư.

Về thể chế, chính sách, cần hoàn thiện chính sách đột phá cho các mô hình du lịch mới, kinh tế chia sẻ, kinh tế nền tảng số và các dịch vụ mới; có cơ chế hỗ trợ về đầu tư, đất đai, tài chính, thuế, mặt bằng. Chính sách thị thực, xuất nhập cảnh tiếp tục được đổi mới theo hướng mở, thuận lợi, linh hoạt và cạnh tranh, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là phát triển đồng bộ hạ tầng và các trung tâm du lịch có sức cạnh tranh. Nghị quyết định hướng chuyển từ đầu tư hạ tầng đơn lẻ sang phát triển hệ sinh thái, trung tâm và cực tăng trưởng du lịch; tăng cường kết nối đa phương thức từ các cửa ngõ quốc tế tới các trung tâm du lịch. Việt Nam hướng tới phát triển hạ tầng phục vụ tàu du lịch biển lớn, trở thành điểm đến du lịch tàu biển quan trọng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Cùng với đó là thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các tập đoàn lớn tham gia phát triển những dự án, tổ hợp du lịch quy mô lớn, chất lượng cao; khai thác hiệu quả thế mạnh của Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng, các đô thị di sản và từng bước đưa Phú Quốc trở thành cực tăng trưởng mới có sức cạnh tranh quốc tế.

Về thị trường và sản phẩm, yêu cầu xuyên suốt là chuyển từ thu hút khách bằng số lượng sang nâng cao chất lượng, giá trị và hiệu quả. 

Du lịch cần phát huy các giá trị văn hóa, di sản, thiên nhiên, ẩm thực, tạo ra những sản phẩm có bản sắc và trải nghiệm khác biệt; tăng cường liên kết với các ngành công nghiệp văn hóa như điện ảnh, âm nhạc, giải trí, thời trang và kinh tế đêm. 

Ưu tiên phát triển các sản phẩm chiến lược: Nghỉ dưỡng biển, chăm sóc sức khỏe, thể thao đẳng cấp, MICE, mua sắm; phát triển du lịch cộng đồng gắn với sinh thái, nông nghiệp, nông thôn, làng nghề, văn hóa bản địa và vùng dân tộc thiểu số, mỗi địa phương có một sản phẩm du lịch đặc thù.

Công tác xúc tiến, quảng bá và xây dựng thương hiệu cũng được đổi mới theo hướng thống nhất, chuyên nghiệp, số hóa và có trọng tâm. 

Dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo được xác định là cơ sở để tiếp cận thị trường, quản trị điểm đến; đồng thời đẩy mạnh ngoại giao văn hóa, điện ảnh, truyền thông quốc tế và các hình thức quảng bá số để nâng cao vị thế thương hiệu du lịch Việt Nam.

Nghị quyết đồng thời đặt yêu cầu đổi mới căn bản đào tạo nguồn nhân lực theo nhu cầu thị trường và chuẩn quốc tế; tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp; hình thành các tập đoàn du lịch Việt Nam có thương hiệu, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. 

Cộng đồng phải trở thành chủ thể tham gia và hưởng lợi từ phát triển du lịch, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và địa bàn đồng bào dân tộc thiểu số.

Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là một trong những đột phá. Mục tiêu là hình thành hệ sinh thái du lịch thông minh, cơ sở dữ liệu quốc gia có khả năng liên thông, nền tảng số tích hợp đa dịch vụ; số hóa điểm đến, bản đồ số, vé điện tử, trợ lý ảo đa ngôn ngữ; ứng dụng IoT, AI trong quản lý, sử dụng năng lượng và giám sát môi trường.

Cuối cùng, Nghị quyết nhấn mạnh hiện đại hóa quản trị, xây dựng các điểm đến xanh, thông minh, an toàn và bền vững; tăng cường năng lực quản lý sức chứa, phân luồng khách, cảnh báo sớm, quản trị rủi ro và ứng phó khủng hoảng để nâng cao khả năng chống chịu của ngành trước các biến động lớn, bảo đảm phát triển an toàn, bền vững.

Quyết liệt đưa Nghị quyết vào cuộc sống

Theo đồng chí Phạm Thị Thanh Trà, xuyên suốt 8 nhóm nhiệm vụ, giải pháp là sự đổi mới mạnh mẽ, toàn diện về tư duy và phương thức phát triển du lịch: Lấy thể chế mở đường, nguồn lực tạo động lực; đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá; văn hóa, con người, thiên nhiên và sự khác biệt của Việt Nam tạo bản sắc và lợi thế cạnh tranh; tất cả hướng tới nâng cao giá trị, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của du lịch Việt Nam. 

Điều quyết định là tổ chức thực hiện quyết liệt, hiệu quả để Nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Để Nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, các cơ quan Đảng, các bộ, ngành và địa phương được giao nhiệm vụ cụ thể hóa bằng những cơ chế, chính sách thiết thực, khả thi, hiệu quả. Chính phủ cũng đã hoàn thiện Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết và sẽ ban hành trong thời gian sớm nhất. Chương trình hành động đặt ra 30 nhiệm vụ cụ thể đối với 7 bộ, cơ quan và UBND các tỉnh, thành phố.

Đồng chí Phạm Thị Thanh Trà tin tưởng, với sự vào cuộc quyết liệt, sự chung sức, đồng lòng của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân trong triển khai thực hiện Nghị quyết 26, du lịch Việt Nam sẽ thực sự phát triển, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần đưa đất nước ta phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN 6 NGHỊ QUYẾT, CHỈ THỊ CỦA BỘ CHÍNH TRỊ- Ảnh 11.

Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị - Ảnh: Chinhphu.vn/Nhật Bắc

HỘI NGHỊ TOÀN QUỐC QUÁN TRIỆT, TRIỂN KHAI THỰC HIỆN 6 NGHỊ QUYẾT, CHỈ THỊ CỦA BỘ CHÍNH TRỊ- Ảnh 12.

Các đại biểu dự Hội nghị - Ảnh: Chinhphu.vn/Nhật Bắc


Nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu trong tổ chức thực hiện

Theo Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội nghị được tổ chức nhằm giúp cán bộ, đảng viên nắm vững nội dung cốt lõi, điểm mới, trọng tâm của các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị.

Trên cơ sở đó cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch hành động sát thực tiễn, khả thi, hiệu quả. Qua đó góp phần nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu trong tổ chức thực hiện.

Đồng thời bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị và chuyên đề toàn khóa được triển khai đồng bộ, thông suốt từ Trung ương đến cơ sở; tạo sự thống nhất, đồng thuận, củng cố niềm tin, khơi dậy quyết tâm chính trị và tinh thần đổi mới, sáng tạo trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.

Hội nghị được tổ chức trực tiếp kết hợp trực tuyến toàn quốc (điểm cầu chính tại phòng họp Diên Hồng, Nhà Quốc hội, số 01 đường Độc Lập, phường Ba Đình, TP. Hà Nội).

Đồng thời, hội nghị được kết nối đến điểm cầu các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương và điểm cầu cấp cơ sở.

Hội nghị được phát thanh trực tiếp trên kênh VOV1, VOV Giao thông của Đài Tiếng nói Việt Nam và truyền hình trực tiếp trên kênh VTV1, VTVgo của Đài Truyền hình Việt Nam.

Theo chương trình, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.

Quán triệt nội dung trọng tâm, cốt lõi 6 nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị

Tại hội nghị, các đại biểu nghiên cứu, học tập, quán triệt 6 chuyên đề: 

- Những nội dung trọng tâm, cốt lõi Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới; 

- Những nội dung trọng tâm, cốt lõi Chỉ thị của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới" và chuyên đề toàn khóa "Những nội dung cơ bản về học tập và thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới của đất nước"; 

- Những nội dung trọng tâm, cốt lõi Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới; 

- Những nội dung trọng tâm, cốt lõi Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài; 

- Những nội dung trọng tâm, cốt lõi Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới; 

- Những nội dung trọng tâm, cốt lõi Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.

Trước khi bước vào Hội nghị, các đại biểu dự ở điểm cầu chính sẽ tham quan Triển lãm "Những tấm gương bình dị mà cao quý".