Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo số 136/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật số 136/2025/QH15) đã được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026.
- Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (2021) đề ra yêu cầu đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, trong đó có công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xác định nhiệm vụ "tăng cường kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, phát huy quyền làm chủ của nhân dân" thông qua cơ chế phản biện, khiếu nại, tố cáo.
- Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
- Quy định số 11-QĐi/TW ngày 18/02/2019 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân.
- Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; Kết luận số 107-KL/TW ngày 24/12/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh.
- Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII "Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả"; Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017; Kết luận số 126-KL/TW ngày 14/02/2025 và Kết luận số 127-KL/TW ngày 28/02/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; Kết luận số 134-KL/TW ngày 28/3/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về Đề án sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
- Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
- Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/01/2025 của Bộ Chính trị về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật.
- Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tại Cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo ngày 25/3/2025 (tại Thông báo số 61-TB/BCĐTW ngày 31/3/2025 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực).
- Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi năm 2025); Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2025, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật Thanh tra năm 2025, Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Luật Cán bộ, công chức năm 2025; Luật Dữ liệu năm 2024; Luật Khoa học công nghệ…
- Quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp, sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả theo tinh thần các nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đặt ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo để đảm bảo thống nhất, đồng bộ, phù hợp với thực tiễn.
- Qua thực hiện cho thấy Luật Tiếp công dân năm 2013 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2014), Luật Khiếu nại năm 2011 (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2012), Luật Tố cáo năm 2018 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019) đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.
Xuất phát từ cơ sở chính trị, pháp lý và cơ sở thực tiễn nêu trên, việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo là cần thiết.
1. Mục tiêu
Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo để bảo đảm thể chế hóa kịp thời, có hiệu quả chủ trương về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp; sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo hiện hành, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
2. Quan điểm
Một là, bám sát chủ trương, chính sách tại các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong lĩnh vực tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; chủ trương cắt giảm thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý nhà nước.
Hai là, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật; bảo đảm tính khả thi và sự phù hợp giữa quy định của pháp luật với quy định của Đảng.
Luật số 136/2025/QH15 gồm 04 điều, trong đó: Điều 1 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tiếp công dân; Điều 2 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại; Điều 3 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tố cáo; Điều 4 quy định về hiệu lực thi hành.
- Về hình thức tiếp công dân: nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 và Kết luận số 107-KL/TW ngày 24/12/2024 của Bộ Chính trị, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của mình, nhất là trường hợp ở xa, đi lại khó khăn, Luật bổ sung quy định về hình thức tiếp công dân trực tuyến (Điều 3a), đồng thời giao Chính phủ quy định việc tiếp công dân trực tuyến.
- Về tiếp công dân ở cấp xã: để phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, Luật bổ sung một số nhiệm vụ của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã như: quyết định bố trí địa điểm tiếp công dân ngoài Trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã (khoản 1 Điều 15); ban hành quy chế tiếp công dân (điểm a khoản 2 Điều 15); giao đơn vị phù hợp tham mưu tiếp công dân (khoản 3 Điều 15); quy định Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp tiếp công dân định kỳ tại địa điểm tiếp công dân ít nhất 02 ngày trong 01 tháng (điểm c khoản 2 Điều 15). Quy định này bảo đảm đồng bộ với quy định về tiếp công dân của người đứng đầu cấp ủy tại Quy định số 11-QĐi/TW của Bộ Chính trị và phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền cấp xã hiện nay (Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã được Luật giao thực hiện nhiều nhiệm vụ; cấp xã hiện nay có cán bộ tiếp công dân thường xuyên; khi cần thiết, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thể tiếp công dân đột xuất để kịp thời tiếp nhận, chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo).
- Về tiếp công dân tại cơ quan hành chính nhà nước: để đồng bộ với Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, Luật Thanh tra năm 2025, phù hợp với việc sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, Luật bổ sung quy định: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giao cơ quan thanh tra bố trí công chức làm công tác tiếp công dân; Bộ không có Thanh tra Bộ giao đơn vị phù hợp bố trí công chức làm công tác tiếp công dân; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao đơn vị phù hợp trực thuộc bố trí công chức làm công tác tiếp công dân (khoản 1, khoản 2 Điều 16).
Luật cũng bổ sung quy định các cơ quan phối hợp tiếp công dân đã tham gia tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân ở trung ương, Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh thì không bố trí tiếp công dân thường xuyên tại cơ quan mình (khoản 3 Điều 16).
- Về quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh: để bảo đảm phù hợp thực tế và tránh trường hợp mạo danh, lợi dụng, Luật sửa đổi, hoàn thiện quy định người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh khi đến nơi tiếp công dân có nghĩa vụ "nêu rõ họ tên, địa chỉ, số căn cước, giấy chứng nhận căn cước hoặc số định danh hoặc số hộ chiếu; trường hợp được người khiếu nại ủy quyền thì phải có giấy ủy quyền" (điểm a khoản 2 Điều 7); đồng thời sửa đổi, hoàn thiện quy định tại khoản 2 Điều 8, khoản 1 Điều 25 để đồng bộ với quy định tại điểm a khoản 2 Điều 7;
- Liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Ban tiếp công dân ở mỗi cấp, Luật sửa đổi, hoàn thiện quy định việc hướng dẫn hoặc chuyển đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đã được tiếp nhận nhưng không thuộc phạm vi, trách nhiệm xử lý của cơ quan, tổ chức tham gia tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân nhằm bảo đảm tính chính xác của quy phạm có liên quan (điểm c khoản 3 Điều 10).
- Về tiếp công dân của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp: Luật sửa đổi, hoàn thiện quy định về địa điểm tiếp công dân của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã tại khoản 1 Điều 22 để đồng bộ với quy định tại Điều 15, theo đó, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã thực hiện việc tiếp công dân tại địa điểm tiếp công dân cấp xã; sửa đổi quy định trách nhiệm của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp xã trong việc tổ chức công tác tiếp công dân của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mình và trực tiếp tiếp công dân thuộc trách nhiệm của Hội đồng nhân dân cùng cấp tại khoản 2 Điều 22 để đồng bộ với quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các quy định pháp luật có liên quan.
- Về việc phân loại, chuyển nội dung khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến cơ quan, người có thẩm quyền thụ lý, giải quyết: Luật sửa đổi, hoàn thiện quy định trường hợp khiếu nại, tố cáo không thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình thì hướng dẫn hoặc chuyển đơn đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo (điểm b khoản 1 Điều 26).
- Về điều kiện bảo đảm cho hoạt động tiếp công dân: Luật sửa đổi, hoàn thiện quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo để phục vụ công tác tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết khiếu nại, tố cáo (khoản 1 Điều 33).
Bên cạnh đó, để phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp Luật đã bãi bỏ quy định tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân cấp huyện (Điều 13); lược bỏ các điểm, khoản có liên quan đến việc tiếp công dân tại cấp huyện như: trách nhiệm tiếp công dân của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (điểm d khoản 1 Điều 4); Trụ sở tiếp công dân ở quận, huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh (điểm c khoản 2 Điều 10); Ban tiếp công dân cấp huyện (khoản 3 Điều 14, khoản 1 Điều 24); niêm yết công khai lịch tiếp công dân tại nơi tiếp công dân của Hội đồng nhân dân cấp huyện (khoản 3 Điều 24).
- Về chủ thể khiếu nại: khoản 1 Điều 30 của Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi năm 2025) quy định "Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.". Do đó, Luật sửa đổi quy định về chủ thể thực hiện quyền khiếu nại từ "công dân" thành "cá nhân" (khoản 1, khoản 2 Điều 2), đồng thời sửa đổi người có quyền, lợi ích hợp pháp do hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt hại từ "công dân" thành "cá nhân" tại khoản 2 Điều 24.
- Về tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại: trong thực tiễn, việc giải quyết khiếu nại có thể phải tạm dừng hoặc chấm dứt do các tình huống phát sinh như: sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thể tiếp tục tham gia quá trình giải quyết khiếu nại; cần chờ kết quả giải quyết của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về vấn đề có liên quan trực tiếp đến nội dung khiếu nại; người khiếu nại rút toàn bộ khiếu nại; người khiếu nại chết mà quyền và nghĩa vụ liên quan đến nội dung khiếu nại không được thừa kế hoặc cơ quan, tổ chức khiếu nại giải thể, phá sản hoặc kết thúc hoạt động mà quyền và nghĩa vụ liên quan đến nội dung khiếu nại không được kế thừa; vụ việc không còn đối tượng hoặc nội dung để giải quyết; vụ việc đã được Tòa án thụ lý hoặc giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực. Do đó, Luật bổ sung Điều 11a quy định các trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại. Việc tạm đình chỉ, đình chỉ được thực hiện bằng quyết định của người có thẩm quyền, nêu rõ lý do và căn cứ pháp luật, gửi cho người khiếu nại, người bị khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan. Khi căn cứ tạm đình chỉ không còn thì người giải quyết khiếu nại tiếp tục giải quyết khiếu nại và thông báo cho các bên liên quan; thời gian tạm đình chỉ không tính vào thời hạn giải quyết khiếu nại.
Để thống nhất với việc bổ sung thẩm quyền tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại của người giải quyết khiếu nại tại Điều 11a, Luật bổ sung quyền của người khiếu nại được nhận quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết khiếu nại (điểm h khoản 1 Điều 12) để đảm bảo chặt chẽ và bảo vệ quyền của người khiếu nại.
- Về rút khiếu nại: để đáp ứng yêu cầu thực tiễn giải quyết khiếu nại, Luật bổ sung quy định người khiếu nại có thể rút một phần nội dung khiếu nại; người khiếu nại có thể rút khiếu nại bằng biên bản ghi nhận ý kiến rút khiếu nại của người khiếu nại khi làm việc với người giải quyết khiếu nại hoặc người xác minh nội dung khiếu nại (khoản 1 Điều 10). Trường hợp người khiếu nại rút một phần nội dung khiếu nại thì nội dung khiếu nại còn lại được tiếp tục giải quyết theo quy định (khoản 2 Điều 10). Nội dung khiếu nại đã rút sẽ không được xem xét, giải quyết lại, trừ trường hợp có căn cứ xác định người khiếu nại rút khiếu nại là do bị ép buộc, đe dọa (khoản 3 Điều 10).
Đồng bộ với quy định về rút khiếu nại đã được sửa đổi tại Điều 10, Luật đã sửa đổi nội dung giải thích từ ngữ đối với cụm từ "Rút khiếu nại" tại khoản 3 Điều 2. Theo đó, rút khiếu nại là việc người khiếu nại đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chấm dứt một phần hoặc toàn bộ nội dung khiếu nại của mình.
- Về quyền của người giải quyết khiếu nại lần hai: Luật bổ sung quyền của người giải quyết khiếu nại lần hai được tham khảo ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn phù hợp khi thấy cần thiết (điểm đ khoản 1 Điều 15) ngoài việc tham khảo ý kiến của Hội đồng tư vấn để đảm bảo tính chính xác trong việc giải quyết khiếu nại.
- Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại: để đồng bộ với Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật sửa đổi, hoàn thiện thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người đứng đầu cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, của công chức, viên chức do mình quản lý trực tiếp (Điều 17); sửa đổi, hoàn thiện thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết (khoản 2 Điều 21).
- Về đối thoại trong giải quyết khiếu nại: Trong thực tế, có trường hợp người khiếu nại không tham gia đối thoại khi được mời. Điều này gây khó khăn cho việc giải quyết khiếu nại và không có cơ sở pháp lý để tiếp tục giải quyết hay tạm dừng việc giải quyết. Do vậy, Luật bổ sung quy định trường hợp người khiếu nại được mời nhưng không tham gia đối thoại mà không có lý do chính đáng thì người giải quyết khiếu nại vẫn tiếp tục giải quyết khiếu nại (khoản 6 Điều 30) đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết khoản này.
- Về đơn vị được giao tham mưu giải quyết khiếu nại, giúp Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp quản lý công tác giải quyết khiếu nại: để phù hợp với việc sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra, Luật bổ sung trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị được giao tham mưu giải quyết khiếu nại tại các cơ quan quản lý nhà nước không có cơ quan thanh tra (Điều 25); sửa đổi, hoàn thiện quy định các Bộ, cơ quan ngang Bộ không có Thanh tra Bộ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã thì đơn vị được giao tham mưu giải quyết khiếu nại giúp Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp quản lý công tác giải quyết khiếu nại (khoản 3 Điều 63).
- Liên quan đến việc giải quyết khiếu nại lần hai, Luật sửa đổi, hoàn thiện quy định trường hợp khiếu nại lần hai thì người khiếu nại gửi kèm theo quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu (nếu có) tại khoản 1 Điều 33; bổ sung quy định trong quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có nội dung kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu (điểm c khoản 1 Điều 56).
- Do Chương V của Luật Khiếu nại đã hết hiệu lực kể từ ngày 01/7/2014 theo quy định tại Điều 35 Luật Tiếp công dân năm 2014, vì vậy, Luật đã chỉnh sửa, hoàn thiện quy định tại điểm a khoản 4 và khoản 5 Điều 8 cho chính xác. Theo đó, việc tiếp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung được thực hiện theo quy định tại Luật Tiếp công dân.
- Bên cạnh đó, để phù hợp với thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, Luật đã bãi bỏ quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện (Điều 18); Luật lược bỏ quy định về hành vi bị nghiêm cấm trong giải quyết khiếu nại là vi phạm quy chế tiếp công dân (khoản 8 Điều 6) do nội dung này đã được quy định trong Luật Tiếp công dân và không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Khiếu nại.
- Về nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo: Luật bổ sung quy định về nguyên tắc xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo trong một số trường hợp mà Luật Tố cáo chưa điều chỉnh. Theo đó, Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức tại thời điểm có hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền quản lý của mình mà không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3, khoản 4, khoản 5 và khoản 6 Điều 12 (khoản 7 Điều 12);
- Về thẩm quyền giải quyết tố cáo trong cơ quan hành chính nhà nước: để đồng bộ với Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật sửa đổi, hoàn thiện thẩm quyền giải quyết tố cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, cán bộ, công chức, viên chức do mình quản lý trực tiếp; giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cơ quan, tổ chức do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý trực tiếp (khoản 1 Điều 13); sửa đổi, hoàn thiện quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo tại khoản 3 Điều 13 là của Người đứng đầu cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; sửa đổi, hoàn thiện quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp (điểm a khoản 4 Điều 13).
- Về thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong Viện kiểm sát nhân dân: để đồng bộ với Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật sửa đổi, hoàn thiện quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 15).
- Về thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ: để đảm bảo phù hợp, khả thi trong giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, Luật bổ sung quy định "Căn cứ vào từng vụ việc cụ thể, Thủ tướng Chính phủ ủy quyền cho Tổng Thanh tra Chính phủ thụ lý tố cáo sau khi kiểm tra thấy đủ điều kiện thụ lý tố cáo; kết luận nội dung tố cáo và thông báo kết luận nội dung tố cáo sau khi Thủ tướng Chính phủ xem xét, cho ý kiến đối với báo cáo của Tổng Thanh tra Chính phủ về kết quả xác minh nội dung tố cáo." (điểm c khoản 8 Điều 13).
- Để phù hợp với việc sắp xếp hệ thống cơ quan thanh tra, Luật bổ sung trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị được giao tham mưu giải quyết tố cáo tại các cơ quan quản lý nhà nước không có cơ quan thanh tra; bổ sung quy định Tổng Thanh tra Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền nhằm đồng bộ với việc bổ sung quy định về ủy quyền Thủ tướng Chính phủ trong giải quyết tố cáo (điểm b khoản 2 Điều 32).
- Luật bổ sung quy định giao đơn vị tham mưu giải quyết tố cáo theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kết luận nội dung tố cáo (khoản 3 Điều 44).
- Để thể chế hóa và đồng bộ với Quy định số 231-QĐ/TW và pháp luật có liên quan, Luật bổ sung trường hợp chấm dứt bảo vệ khi người được bảo vệ cố ý không thực hiện nghĩa vụ quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều 48 của Luật Tố cáo (điểm c khoản 2 Điều 54).
- Luật sửa đổi, hoàn thiện quy định về rút tố cáo. Theo đó, việc rút tố cáo được thực hiện bằng đơn rút tố cáo hoặc biên bản ghi nhận ý kiến rút tố cáo của người tố cáo khi làm việc với người giải quyết tố cáo hoặc người xác minh nội dung tố cáo (khoản 1 Điều 33).
- Để phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, Luật lược bỏ quy định về thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong cơ quan hành chính nhà nước của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện (khoản 2 Điều 13).
Quy định trong Luật số 136/2025/QH15 sẽ tiếp tục sử dụng nguồn lực về tài chính, bộ máy tổ chức tại các cơ quan thực hiện công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Do đó, việc thi hành Luật số 136/2025/QH15 về cơ bản không làm phát sinh nhu cầu mới về nguồn lực để thực hiện.
1. Xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật số 136/2025/QH15.
2. Tổ chức quán triệt, tuyên truyền, phổ biến nội dung Luật; tổ chức thi hành Luật (tổ chức quán triệt, phổ biến, tập huấn thi hành Luật; tổ chức thông tin, truyền thông trên các phương tiện truyền thông; tổ chức tập huấn chuyên đề, cập nhật nội dung Luật vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng của Trường Cán bộ thanh tra; biên soạn, xuất bản tài liệu hướng dẫn kê khai tài sản thu nhập, trình tự thủ tục xác minh tài sản thu nhập; hướng dẫn thi hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiếp nhận và xử lý kiến nghị đối với văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũng).
3. Rà soát văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quy định của Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo.
4. Xây dựng các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Tiếp công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo.
- Nghị định quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật Tiếp công dân (thay thế Nghị định số 64/2014/NĐ-CP).
- Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 124/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại.
- Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 31/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật tố cáo.
- Xây dựng và ban hành các văn bản theo thẩm quyền của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố để triển khai thi hành Luật Tiếp Công dân, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo.
5. Ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong quản lý: Xây dựng, vận hành hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chuyên ngành; kết nối, tích hợp, chia sẻ đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia, đảm bảo liên thông, an toàn thông tin; khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên số, dữ liệu số theo quy định./.