Ngày 26/11/2025, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) thay thế quy định về chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007.
Về điều kiện tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Luật cơ bản kế thừa một số quy định tại Điều 50 của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 nhưng bỏ điều kiện người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam phải có nơi thường trú cuối cùng tại Việt Nam và thời hạn tù còn lại phải chấp hành ít hơn 06 tháng; cụ thể như sau:
+ Là công dân Việt Nam;
+ Hành vi phạm tội mà người đó bị kết án ở nước chuyển giao cũng cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật về hình sự của Việt Nam vào thời điểm lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;
+ Vào thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao, thời hạn chưa chấp hành án phạt tù phải còn ít nhất là 01 năm; trong trường hợp đặc biệt, thời hạn này có thể ít hơn 01 năm;
+ Bản án, quyết định đối với người đó đã có hiệu lực pháp luật, không còn thủ tục tố tụng nào đang chờ xử lý;
+ Có sự đồng ý của Việt Nam trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao lập yêu cầu chuyển giao hoặc sự đồng ý của nước chuyển giao trong trường hợp Bộ Công an lập yêu cầu chuyển giao;
+ Có sự đồng ý của người đang chấp hành án phạt tù; trường hợp người đang chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên, người không có khả năng bày tỏ sự đồng ý với việc chuyển giao vì lý do tuổi tác, tình trạng sức khỏe và trạng thái tinh thần thì phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp.
+ Là công dân của nước nhận hoặc là người được phép cư trú không thời hạn ở nước nhận hoặc được nước nhận đồng ý tiếp nhận;
+ Hành vi phạm tội mà người đó bị kết án tại Việt Nam cũng cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật nước nhận vào thời điểm lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;
+ Vào thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao, thời hạn chưa chấp hành án phạt tù phải còn ít nhất là 01 năm; trong trường hợp đặc biệt, thời hạn này có thể ít hơn 01 năm;
+ Bản án, quyết định đối với người đó đã có hiệu lực pháp luật, không còn thủ tục tố tụng nào đang chờ xử lý;
+ Có sự đồng ý của người đang chấp hành án phạt tù; trường hợp người đang chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên, người không có khả năng bày tỏ sự đồng ý với việc chuyển giao vì lý do tuổi tác, tình trạng sức khỏe và trạng thái tinh thần thì phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp;
+ Đã thực hiện xong trách nhiệm dân sự trong bản án, hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu tài sản và các trách nhiệm pháp lý khác theo quy định của pháp luật hoặc được nước nhận, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hỗ trợ thực hiện các trách nhiệm pháp lý này hoặc được nước nhận cam kết bảo đảm người đang chấp hành án phạt tù sẽ thực hiện các trách nhiệm pháp lý này sau khi được chuyển giao về nước nhận;
+ Có sự đồng ý của Việt Nam trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước nhận lập yêu cầu chuyển giao hoặc sự đồng ý của nước nhận trong trường hợp Bộ Công an lập yêu cầu chuyển giao.