In bài viết

Đề xuất về tổ chức Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, đặc khu

07:12 - 06/09/2026

(Chinhphu.vn) - Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến góp ý dự thảo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (sửa đổi), trong đó đề xuất tổ chức Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, đặc khu.

Cụ thể, theo dự thảo Luật, Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, đặc khu gồm Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các thành viên được bầu từ các thôn, tổ dân phố trên địa bàn cấp xã. 

Số lượng thành viên Ban Thanh tra nhân dân được xác định theo đặc điểm, tình hình thực tiễn, dân số của địa phương và hướng dẫn của Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

 Tiêu chuẩn thành viên Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, đặc khu

+ Có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín trong cộng đồng dân cư, có đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ; có hiểu biết về chính sách, pháp luật và tự nguyện tham gia Ban Thanh tra nhân dân.

+ Là công dân thường trú trên địa bàn và không đồng thời là cán bộ, công chức cấp xã.

 Nhiệm kỳ của Ban Thanh tra nhân dân là 05 năm. Trong nhiệm kỳ, nếu thành viên Ban Thanh tra nhân dân không hoàn thành nhiệm vụ, không còn được tín nhiệm hoặc xin thôi làm nhiệm vụ thì Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã đề nghị thôn, tổ dân phố đã bầu thành viên đó xem xét, cho thôi làm nhiệm vụ.

Trường hợp khuyết thành viên Ban Thanh tra nhân dân trong nhiệm kỳ và thời gian còn lại của nhiệm kỳ là từ 06 tháng trở lên thì Ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố phối hợp với Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố tổ chức việc bầu bổ sung thành viên Ban Thanh tra nhân dân theo hướng dẫn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã.

Ban thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp xã có trách nhiệm hướng dẫn việc tổ chức hội nghị bầu thành viên Ban Thanh tra nhân dân

Dự thảo Luật cũng đề xuất nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Thanh tra nhân dân ở xã, phường, đặc khu.

Trong đó, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã có trách nhiệm hướng dẫn việc tổ chức hội nghị bầu hoặc cho thôi làm thành viên Ban Thanh tra nhân dân; công nhận kết quả bầu thành viên Ban Thanh tra nhân dân; tổ chức cuộc họp của Ban Thanh tra nhân dân để bầu Trưởng ban, Phó Trưởng ban và phân công nhiệm vụ cho từng thành viên; thông báo kết quả bầu và thành phần Ban Thanh tra nhân dân đến Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp và Nhân dân ở địa phương.

Hướng dẫn Ban Thanh tra nhân dân xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung công tác; xem xét báo cáo hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân và hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân; tham gia hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân khi xét thấy cần thiết; xác nhận biên bản, kiến nghị của Ban Thanh tra nhân dân; đôn đốc việc giải quyết kiến nghị của Ban Thanh tra nhân dân; động viên Nhân dân ở địa phương ủng hộ, phối hợp, tích cực hỗ trợ hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân; hỗ trợ kinh phí hoạt động cho Ban Thanh tra nhân dân.

Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo, cung cấp thông tin liên quan tới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cấp xã, việc thực hiện kết quả khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn cấp xã cho Ban Thanh tra nhân dân và theo yêu cầu của Ban Thanh tra nhân dân; xem xét, giải quyết kịp thời các kiến nghị của Ban Thanh tra nhân dân;

 Xử lý người có hành vi cản trở hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, người có hành vi trả thù, trù dập thành viên Ban Thanh tra nhân dân theo quy định của pháp luật.

Theo Bộ Nội vụ, về thiết chế Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan, tổ chức không có tổ chức công đoàn, yêu cầu hoàn thiện mô hình và cơ chế hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng nhằm xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát đủ mạnh, theo đó các Ban có đủ năng lực, có thông tin, có điều kiện, có quyền, có công cụ và có khả năng theo dõi đến kết quả; bảo đảm ít đầu mối hơn nhưng có thực quyền hơn, trách nhiệm rõ hơn và kết quả giám sát đo được.

Thực tiễn thi hành cho thấy, Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng đã được quy định tại Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện hành, nhưng còn một số tồn tại như: mô hình tổ chức chưa thật sự thống nhất; năng lực thành viên không đồng đều; điều kiện để bảo đảm quyền tiếp cận thông tin còn hạn chế; việc tiếp thu, phản hồi các kiến nghị sau giám sát chưa thực sự đầy đủ, kịp thời.

Đặc biệt, quy định này gắn liền với yêu cầu đẩy mạnh công khai dữ liệu mở (về ngân sách, tài sản công, thủ tục hành chính) và thiết lập các kênh tương tác trực tuyến an toàn để tiếp nhận phản ánh, kiến nghị. Giải pháp này không chỉ tối ưu hóa phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng" trên không gian số, mà còn bảo đảm chặt chẽ trong khuôn khổ pháp luật thông qua các cơ chế kiểm soát an ninh mạng, bảo vệ bí mật nhà nước và thông tin cá nhân.