Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư 37/2026/TT-BGDĐT Ban hành danh mục ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao.
Thông tư gồm 3 Điều ban hành kèm theo Danh mục ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao; Phụ lục quy định Nguyên tắc gắn mã và tiêu chí xác định ngành, nghề đặc thù thuộc lĩnh vực nghệ thuật, thể thao.
Nhóm ngành, nghề Mỹ thuật: Điêu khắc, Hội họa, Đồ họa, Gốm, Thiết kế mỹ thuật Sân khấu - Điện ảnh;
Nhóm ngành, nghề Nghệ thuật trình diễn: Nghệ thuật biểu diễn ca kịch Huế, Nghệ thuật biểu diễn dân ca, Nghệ thuật biểu diễn chèo, Nghệ thuật biểu diễn tuồng, Nghệ thuật biểu diễn cải lương, Nghệ thuật biểu diễn xiếc, Diễn viện kịch - điện ảnh, Diễn viên múa, Biểu diễn nhạc cụ truyền thống, Biểu diễn nhạc cụ phương Tây, Đờn ca nhạc tài tử Nam Bộ, Nhạc công kịch hát dân tộc, Nhạc truyền thống Huế, Piano, Nhạc Jazz, Violon, Organ, Thanh nhạc, Lý thuyết âm nhạc, Quay phim, Tạp kĩ, Công nghệ âm nhạc;
Nhóm ngành, nghề Nghệ thuật nghe nhìn: Nhiếp ảnh, Công nghệ điện ảnh - truyền hình;
Nhóm ngành, nghề Thể thao: Vận động viên thể thao.
a) Nội dung đào tạo: Chương trình đào tạo tập trung chủ yếu vào rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, năng lực biểu diễn, sáng tạo nghệ thuật hoặc thi đấu thể thao; thời gian đào tạo thực hành chiếm tối thiểu 60% tổng thời gian đào tạo của ngành, nghề.
b) Yêu cầu năng khiếu, tố chất: Người học phải có năng khiếu, tố chất đặc thù phù hợp với yêu cầu của ngành, nghề; việc tuyển sinh có thể thông qua kiểm tra, đánh giá năng khiếu.
c) Đào tạo năng khiếu chuyên sâu, dài hạn: Ngành, nghề có yêu cầu phát hiện, bồi dưỡng người học từ sớm; việc tuyển chọn và bồi dưỡng năng khiếu được thực hiện theo quy trình liên tục, kéo dài, tích lũy theo lộ trình nhiều giai đoạn, một số ngành, nghề được tổ chức tích hợp giữa đào tạo chuyên môn và đào tạo kiến thức văn hóa.
d) Điều kiện và tính chất lao động: Công việc có thời gian làm việc không ổn định, mang tính lưu động hoặc không liên tục hoặc phụ thuộc vào lịch biểu diễn, thi đấu; sử dụng trang thiết bị, công cụ, kỹ thuật chuyên dụng, đặc thù.
đ) Yêu cầu đào tạo: Việc tổ chức đào tạo chủ yếu dựa trên rèn luyện năng lực thực hành, năng lực biểu diễn, tư duy nghệ thuật, thể chất hoặc kỹ năng thi đấu; không thuần túy dựa trên tích lũy kiến thức lý thuyết; việc sắp xếp lớp học có tính chất đặc thù theo từng ngành, nghề đào tạo.
e) Phương thức đánh giá, công nhận kết quả học tập: Kết quả đào tạo được đánh giá chủ yếu thông qua năng lực sáng tạo, biểu diễn hoặc thành tích thi đấu của người học, thể hiện qua sản phẩm nghệ thuật, chương trình biểu diễn, tác phẩm sáng tạo hoặc kết quả thi đấu; không phụ thuộc chủ yếu vào các hình thức kiểm tra, đánh giá truyền thống.
g) Tính đặc thù của nhiệm vụ nghề nghiệp: Nội dung công việc và kỹ năng nghề nghiệp có tính chuyên biệt, khó thể thay thế, một số ngành, nghề có quy mô đào tạo nhỏ nhưng có ý nghĩa trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, nghệ thuật, việc đào tạo cần phải được duy trì.
h) Tác động kinh tế - xã hội: Ngành, nghề có yêu cầu đầu tư lớn, hiệu quả kinh tế trực tiếp có thể không cao nhưng có đóng góp quan trọng đối với phát triển văn hóa, xã hội, bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống hoặc góp phần nâng cao thành tích, uy tín và vị thế của quốc gia.




